Thứ Năm, 18 tháng 8, 2022
Chuyện sau, chuyện trước
Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022
Đồng hành
Chu Văn
“Đồng hành”: đó là chủ đề được viết bằng hai thứ tiếng
Anh “Walking Together” và Pháp “Marcher Ensemble” mà tôi xem là nổi bật nhứt
trong chuyến viếng thăm Canada mới đây của Đức Phanxicô, nhà lãnh đạo tinh thần
của Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới. Là một tín hữu công giáo, tôi thường
theo dõi điều được gọi là các “chuyến tông du” của các vị giáo hoàng. Theo dõi
để lắng nghe các lời giảng dạy của những người được xem là có một uy tín lớn
trong lãnh vực tinh thần. Theo dõi để hiểu biết lịch sử và văn hóa của những đất
nước được các vị giáo hoàng viếng thăm và dĩ nhiên, qua đó, gặp gỡ và bày tỏ sự
cảm thông hay đúng hơn học hỏi để biết tỏ ra cảm thông đối với người dân các nước
đó.
Mãi cho đến giữa thập niên 1960, được nhìn thấy một vị
giáo hoàng bằng xương bằng thịt là một ân huệ hiếm có trong đời của một người
công giáo. Năm 1929, dưới thời nhà độc tài Benito Mussolini (1883-1945), Ý và Tòa
thánh Vatican đã ký một thỏa ước qua đó Ý nhìn nhận Vatican như một quốc gia.
Nhưng cũng kể từ đó, nhà lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo bị giam hãm
trong bốn bức tường của Điện Vatican chẳng khác nào một tù nhân. Năm 1964, Đức
Phaolô VI đã làm một bước đột phá lịch sử khi ra khỏi điện Vatican để hành
hương đến Thánh Địa, nơi chào đời của Chúa Giêsu. Kể từ đó, lên đường viếng
thăm các nước được những người kế vị Đức Phaolô VI xem như một truyền thống phải
tuân giữ.
Trong hầu hết các chuyến viếng thăm được gọi là “mục vụ”
của các vị giáo hoàng, các tín hữu công giáo tại những nước được viếng thăm có
dịp “chiêm ngưỡng” dung nhan của người mà họ thường cung kính gọi là “Đức Thánh
Cha” và lắng nghe từng lời giảng dạy của các ngài. Nhưng với riêng tôi, dường
như trong chuyến viếng thăm Canada lần này, Đức Phanxicô không đến đó để giảng
dạy cho bằng bày tỏ sự sám hối. Chính Ngài gọi chuyến viếng thăm là một cuộc
hành hương sám hối. Trong nhiều dịp khác nhau, kể từ năm 2000, các vị giáo
hoàng không ngừng nói lên lời xin lỗi vì những tội ác của “con cái Giáo hội”
qua suốt dòng lịch sử của Giáo hội tại rất nhiều nơi trên thế giới. Nhưng những
lời xin lỗi ấy chỉ được thốt lên trong những nghi thức trang trọng được cử hành
ở trung tâm của Giáo hội là Roma. Nay, Đức Phanxicô đi đến tận nơi đã diễn ra tội
ác để nói lên hai tiếng xin lỗi và bày tỏ sự sám hối. Trong một cuộc gặp gỡ với
những người bản địa Canada tại Thành phố Edmonton, Tỉnh bang Alberta hôm thứ
Hai 25 tháng Bảy vừa qua, ngài đã đội trên đầu chiếc mũ làm bằng lông chim đặc
trưng của người thổ dân và lập lại nhiều lần hai tiếng xin lỗi. Lời xin lỗi của
Đức Phanxicô được đưa ra gần nơi đã từng có một trường nội trú dành cho trẻ em
người bản địa. Với hệ thống trường nội trú dành cho trẻ em bản địa, trong suốt
một giai đoạn kéo dài trên 150 năm, Chính phủ Canada đã tách biệt trẻ em bản địa
khỏi gia đình của chúng với mục đích xóa bỏ văn hóa và truyền thống của các em
và áp đặt văn hóa của người da trắng lên các em. Một trong những nỗ lực đồng
hóa này là trao phó các trường nội trú cho các Giáo hội Kitô Giáo, trong đó nổi
bật nhứt là các linh mục và tu sĩ công giáo. Những nhà truyền giáo này đã ép buộc
các trẻ em thổ dân phải gia nhập Kitô Giáo và đồng hóa các em vào nền văn hóa
Canada. Tính chung đã có khoảng 150.000 trẻ em từ các bộ lạc của người bản địa
đã bị bắt đi và đưa vào 139 trường nội trú, hầu hết do Giáo hội Công giáo điều
hành. Năm 2015, một bản báo cáo của Ủy ban Sự thật và Hòa giải đã phanh phui những
câu chuyện về các trẻ em bản địa “bị lạm dụng về thể lý và tính dục.” Những nấm
mồ vô danh được khai quật trong các trường nội trú cũng cho thấy tính cách mờ
ám của nhiều cái chết của trẻ em bản địa. Bản báo cáo khẳng định rằng hệ thống
các trường nội trú dành cho các em bản địa không được thiết lập để “giáo dục”
các em mà “chính là để cắt đứt mối liên hệ của các em với nền văn hóa và bản sắc
của các em”. Bản báo cáo kết luận rằng hoạt động của các trường nội trú này “có
thể được mô tả như một cuộc diệt chủng văn hóa” (1).
Hai tiếng xin lỗi rất chân thành của Đức Phanxicô đã tạo
ra một niềm cảm xúc sâu xa nơi nhiều người dân bản địa Canada. Tuy nhiên, nhiều
người vẫn cho rằng lời xin lỗi và sám hối ấy chưa đủ. Như được nhìn thấy trên một
tấm biểu ngữ được treo trước Vương cung Thánh đường Sainte Anne de Beaupré ở
Québec hôm thứ Năm 28 tháng Bảy vừa qua, một số người bản địa đã yêu cầu Đức Phanxicô
“Hãy hủy bỏ học thuyết” (Rescind the
Doctrine). “Học thuyết” mà những người biểu tình muốn ám chỉ là “Học thuyết
khám phá” (Doctrine of Discovery). Đây là học thuyết được các giáo hoàng ở Thế
kỷ 15 đề ra trong một số sắc lệnh để khuyến khích các vua, đặc biệt là Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha lên đường chinh phục đất đai của các dân tộc bản địa, cách
riêng tại Mỹ Châu, xóa bỏ văn hóa của họ và
áp đặt lên họ Kitô Giáo cũng như
nền văn hóa của người da trắng ở Âu Châu. Theo linh mục dòng tên Ricardo da Silva,
“mặc dù giáo hoàng và Tòa thánh Vatican đã thoát ra khỏi tâm lý coi người bản địa
và những người không theo Kitô Giáo là thua kém các Kitô hữu da trắng Âu Châu,
lời kêu gọi thu hồi “học thuyết khám phá” vẫn chưa được đáp ứng” (2).
Cùng với những cuộc thập tự viễn chinh và tòa điều tra
vào thời Trung Cổ, “học thuyết khám phá” quả là một vết nhơ của Kitô Giáo nói
chung, chứ không riêng của Giáo hội Công giáo La Mã. Dù chưa công khai “hủy bỏ
học thuyết khám phá”, nhưng khi đến tận nơi để nói lên lời xin lỗi với người
dân bản địa ở Canada, Đức Phanxicô có lẽ đã nhìn nhận những lỗi lầm và tội ác,
không phải chỉ của “con cái Giáo hội” trong suốt dòng lịch sử, mà còn của chính
Giáo hội. Qua lời xin lỗi của nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo hoàn vũ, tôi nghe
vọng lại lời tự thú mà Giáo hội trên khắp thế giới lập lại mỗi ngày, từng phút
từng giây ở mỗi đầu thánh lễ “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.
Trong chuyến viếng thăm Canada lần này, Đức Phanxicô đã
không “giảng dạy” hay dẫn giải về một điểm cao siêu nào trong giáo lý của Giáo
hội Công giáo. Nhưng với tôi, lời xin lỗi
và cử chỉ khiêm tốn của ngài cũng đủ là một thông điệp rất có giá trị cho thời
đại này: tự cho mình chiếm giữ sự thật và áp đặt lên người khác niềm tin tôn
giáo và văn hóa của mình, không những là
một hành động “diệt chủng văn hóa” mà còn là một tội ác dẫn đến vô số những tội
ác khác.
Tôi không biết các tín hữu Kitô, đặc biệt là người công
giáo Mỹ có theo dõi chuyến viếng thăm Canada của Đức Phanxicô và nhận ra thông
điệp ngài muốn nhắn gởi không. Cốt lõi của thông điệp và của chính Kitô Giáo
lúc nào cũng là sám hối, khoan nhượng và cảm thông!
Một bài phân tách
trên trang mạng của Đài CNN mà tôi đọc được cách đây mấy hôm (3) đã ghi
lại một số hình ảnh rất đặc trưng của cuộc bạo loạn trong tòa nhà Quốc hội Mỹ
ngày 6 tháng Giêng. Một trong những hình ảnh đó là cảnh 3 người đàn ông, mắt nhắm nghiền và đầu cúi xuống,
đứng cầu nguyện trước một cây thập giá bằng gỗ sần sù. Ở một nơi khác, một người
đàn ông cầm trên tay một quyển Kinh Thánh, áp chặt vào ngực như một chiếc thuẩn
vững chắc. Rải rác trong đám đông, nhiều người giương lên những tấm bản có viết
dòng chữ “Chúa Giêsu giải cứu” và đưa nắm tay lên trời.
Thoạt nhìn qua, những hình ảnh như thế tưởng chỉ gợi lên
những cuộc biểu dương tôn giáo bên ngoài một giáo đường nào đó. Nhưng đây không
phải là những hình ảnh thường được thấy trong những buổi cầu nguyện ngoài trời,
mà là điều mà nhiều người gọi là một cuộc nổi dậy của Kitô Giáo. Đây chính là
hình ảnh của những người đã tấn công vào Điện Capitol để lật ngược kết quả bầu
cử tổng thống năm 2020.
Đây là lần đầu tiên, với cuộc bạo loạn này, nhiều người Mỹ
ý thức được rằng Hoa Kỳ đang đối diện với Phong trào Dân tộc Kitô giáo da trắng. Phong trào này sử dụng
ngôn ngữ của Kitô giáo để nói lên sự thù nghịch đối với người Mỹ gốc Phi Châu
và những người di dân da màu khác để thiết lập một nước Mỹ của người da trắng
theo Kitô giáo.
Một biểu ngữ khác được nhìn thấy trong cuộc bạo loạn Ngày
6 tháng Giêng có in hình một lá cờ Mỹ với hàng chữ đi kèm: “Chúa Giêsu là Đấng
Cứu Thế của tôi, Trump là tổng thống của tôi”. Xóa bỏ hàng rào tách biệt tôn
giáo và chính trị là điểm nổi bật của Phong trào Dân tộc Kitô giáo. Một trong
những niềm tin cốt lõi của phong trào này là: Hoa Kỳ đã được thành lập như một
quốc gia Kitô giáo, tất cả các nhà lập quốc đều là những tín hữu Kitô Tin Lành thuần
thành và Chúa đã chọn Hoa Kỳ để đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử. Thật
ra, trong hàng ngũ các nhà lập quốc không thiếu những người vô thần hay thuộc
những Giáo hội không phải là Tin Lành. Hơn nữa cho rằng Hoa Kỳ được thành lập
như một quốc gia Kitô giáo và nhờ vậy được phồn thịnh là quên rằng quốc gia này
có được phồn thịnh ở khởi đầu là nhờ sự đóng góp công lao mồ hôi nước mắt và
ngay cả máu của người nô lệ gốc Phi Châu cũng như từ đất đai ăn cướp của người
dân bản địa.
Những băng hình đã được thu giữ từ cuộc bạo loạn cho thấy
những người tham gia cuộc bạo loạn tuyên xưng và tôn thờ một Chúa Giêsu hoàn
toàn đối nghịch với Đấng mà Kinh Thánh gọi là “Hoàng tử của Hòa Bình”, một Đấng
Cứu Thế chỉ đi giảng dạy và cứu rỗi bằng một con đường duy nhứt là khoan nhượng,
cảm thông và tha thứ. Xét cho cùng, đó cũng chính là con đường cứu rỗi của mọi
tôn giáo đích thực cũng như mọi nền đạo đức của con người.
“Đồng hành” : chủ đề của chuyến viếng thăm Canada vừa qua
quả là chìa khóa để xây dựng một xã hội thực sự hài hòa. “Đồng hành” là chấp nhận
và tôn trọng những khác biệt về ngôn ngữ, màu da, văn hóa , tôn giáo và ngay cả
những quan điểm chính trị của người khác. Thiếu sự tương nhượng và cảm thông, thì
suy đồi đạo đức là điều không thể tránh khỏi. Các chế độ độc tài, đặc biệt là độc
tài toàn trị, cai trị bằng cách đồng bộ hóa người dân. Trung Quốc là một điển
hình. Chế độ cộng sản này muốn xây dựng một “xã hội hài hòa” bằng cách áp đặt
triệt để ý thức hệ cộng sản lên người dân. Trong cuốn sách có tựa đề “Chúng tôi
bị hài hòa hóa: cuộc sống bị nhà nước theo dõi tại Trung Quốc” (We have been
harmonized: life in China’ surveillance State) nhà báo người Đức Kai
Strittmatter đã nói đến “hệ thống tín dụng xã hội” trong xã hội Trung Quốc hiện
nay. Nhất cử nhất động của người dân đều bị theo dõi và “cho điểm”. Bất đồng
chính kiến được xem là hành vi “tồi tệ” nhứt trong mọi hành vi xấu. Điều gì đã
xảy ra trong một xã hội mà người dân bị “hài hòa hóa” và theo dõi cặn kẽ như thế?
Tác giả đã trích dẫn “một cuộc thăm dò toàn cầu được thực hiện năm 2017 về điều
gì khiến người dân lo lắng nhứt. Đa phần những người được khảo sát ở các quốc
gia đều lo ngại nhất về tình trạng thất nghiệp, nạn tham nhũng hay bất bình đẳng.
Trung Quốc là nơi duy nhất mà người dân xem “suy thoái đạo đức” (moral decline)
là mối lo lắng hàng đầu”(4).
“Đồng hành” hay khoan nhượng, cảm thông là chìa khóa để
xây dựng một xã hội hài hòa. Đó cũng chính là thước đo nhân cách của một con
người.
Chú thích:
1. Scott Neuman, The pope’s apology in Canada was
historic, but for some Indigenous people, not enough NPR, July 25,2022.
2. Ricardo da Silva, S.J , Could pope Francis revoke the
15th century ‘Doctrine of Discovery’ used to justify colonizing Indigenous
peoples? America, the Jesuit ReviewJuly
28, 2022, bản dịch của Trần Giao Thủy,
DCVonline July 29, 20022.
3. John Blake, An ‘Imposter Christianity’ is threatening
American democracy CNN July 24, 2022.
4. Y Chan, Đọc “xã hội hài hòa” của Trung Quốc: Biết để
soi mình, hiểu để rùng mình, Luật Khoa 19/07/2022
Thứ Hai, 4 tháng 7, 2022
Đạo đức là tên gọi của Văn minh
Chu Văn
Mỹ là nơi tôi có nhiều bạn bè nhứt. Bạn đồng môn, bạn đồng
thuyền (tức những người đã từng sống chết với nhau trong cùng một chuyến vượt
biên), bạn đồng hương, bạn đồng đạo...Có những người bạn thân thiết còn hơn cả
người thân trong gia đình. Nhưng trong những năm gần đây, “kẻ mà ai cũng biết
là ai đó”(1) bỗng dưng xen vào tình bạn của chúng tôi. Sự có mặt vô hình của “kẻ
đó” hẳn phải có sức đe dọa khủng khiếp đến độ tôi không dám nhắc đến tên của “kẻ
đó” trong bất cứ cuộc trao đổi nào với bạn
bè của tôi. Lạ quá, hầu như người bạn nào của tôi ở Mỹ cũng đều tôn thờ, sùng
bái “kẻ đó”!
Mới đây, tôi có liên lạc với một ông bạn chí
cốt ở quận Cam. Chúng tôi cùng mài đũng quần trên cùng một băng ghế ở tiểu học
và trung học. Ra đời, dù mỗi người một ngã, chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc
với nhau. Biết bạn tôi tôn sùng “kẻ đó”, mỗi lần thăm hỏi, tôi chỉ đề cập đến
gia đình hay ôn lại chuyện “cây đa cũ, bến đò xưa” ở quê nhà mà thôi. Lần này,
với những lý do rất riêng tư có liên hệ với một số người bạn khác, tôi có nhờ
bạn tôi “điều tra” về một nhà báo người Việt khá nổi tiếng và có lẽ cũng có uy
tín trong cộng đồng người Việt tại quận Cam và nhiều nơi khác tại Mỹ cũng như ở
những nước khác. Bạn tôi trả lời như có sẵn bản lý lịch của nhà báo đó trước
mặt: “Tên (này) là VC (Việt Cộng) đi du học đâu bên Đông Âu, sau LX (Liên Xô)
sụp đổ làm sao mà qua Mỹ và hiện nay là chủ báo (của một tờ báo Việt Nam) tại
Cali”. Bản lý lịch “trích ngang” của nhà báo do bạn tôi cung cấp khiến tôi
chưng hửng, bởi vì tôi biết rõ nhà báo này “sinh năm
1954. Theo gia đình vào miền Nam, học xong trung học. Sau 1975, bị cộng sản bắt
vì tham gia Mặt Trận Dân Tộc Tiến Bộ, in và phổ biến tờ báo bí mật Toàn Dân
Vùng Dậy. Vượt biên năm
1984, đến Đảo Galang-Indonesia. Sang Mỹ
định cư cuối năm 1984, kiếm sống bằng các nghề đánh cá, cắt cỏ, nhà in, lau
nhà, giao hàng, lái taxi. Làm việc một thời gian tại các trại tỵ nạn Hongkong;
lang thang các nước Đông Âu và Nga khi khối cộng sản sụp đổ năm 1989.”(2) Tội nghiệp nhà báo: bị bạn tôi chụp cho
cái mũ “ Việt Cộng” mà không trưng ra bất cứ bằng chứng đáng tin cậy nào!
Thật ra, tôi không ngạc nhiên chút nào về
cách mà một người sùng bái “kẻ đó” như bạn tôi đánh giá về một người khác, nhứt
là khi người khác đó không những không chịu ủng hộ mà còn lên án “kẻ đó”. Hình
như đó là một trào lưu hiện đang rất thịnh hành tại Mỹ. Người ta tin và khẳng
định rất nhiều điều mà không cần dựa vào bất cứ một bằng chứng nào.
Kết quả của các cuộc thăm dò về nhiều chủ đề khác nhau
cho thấy người Mỹ chỉ tin những gì họ muốn tin, ngay cả không có bất cứ một bằng
chứng nào. Một cuộc thăm dò do Sáng hội Khoa học Quốc gia (National Science
Foundation) thực hiện hồi năm 2014 đã tìm thấy có 26 phần trăm dân Mỹ tin rằng
mặt trời quay xung quanh trái đất. Trong khi ngay từ Thế kỷ 16, nhà toán học
kiêm thiên văn học Nicolaus Copernicus đã dùng những phương trình toán học và các
quan sát khoa học của mình để chứng minh rằng trái đất mới là hành tinh quay
xung quanh mặt trời, thì ngay cả khi đã bước vào Thế kỷ 21 này vẫn còn những
người, nhứt là những người đang sống trong một đất nước được xem là văn minh nhứt thế giới,
lại chỉ tin vào mắt mình để khẳng định rằng chính mặt trời mới quay xung quanh
trái đất.
Về hình thù của trái đất, năm 2018, hãng thăm dò YouGov
đã đặt câu hỏi: “Theo bạn trái đất tròn hay phẳng?” Vẫn có những người tin rằng trái đất bằng phẳng
và ít nhứt 16 phần trăm cho biết họ không chắc là trái đất tròn hay bằng phẳng.
Riêng về cơn đại dịch Covid-19 vốn đã cướp đi mạng sống của
trên 1 triệu người Mỹ, mới đây kết quả của một cuộc thăm dò do Trung tâm Nghiên
cứu Pew thực hiện cho thấy có 71 phần trăm người Mỹ nói rằng họ có nghe nói đến
một thuyết âm mưu theo đó “những người có thế lực đã cố tình tạo ra cuộc bùng nổ
của đại dịch”. Theo cuộc thăm dò, có ít nhứt 20 phần trăm người Mỹ tin rằng đây
là điều có thể có thật và 5 phần trăm tin chắc là có thật. Dĩ nhiên, trình độ học
vấn ảnh hưởng đến kết quả của cuộc thăm dò. Một nửa những người Mỹ chỉ mới học
xung trung học hay thấp hơn, tức 48 phần trăm tin rằng thuyết âm mưu về đại dịch
trên đây “có lẽ đúng” hay “chắc chắn đúng” trong khi đó chỉ có 38 phần trăm những
người tốt nghiệp cao đẳng tin như thế. Số người có bằng cử nhân tin như thế chỉ
có 24 phần trăm. Riêng trong số những người có bằng hậu đại học, tỷ lệ này chỉ
có 15 phần trăm. Kết quả này cho thấy trình độ học vấn càng cao càng giúp gia
tăng óc phán đoán (critical thinking) và khả năng chắt lọc và kiểm chứng thông
tin. Tuy nhiên, khuynh hướng chính trị cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cách tiếp cận
các thuyết âm mưu của người Mỹ. Số người theo Đảng Cộng Hòa và độc lập nhưng
nghiêng về Cộng Hòa tin vào thuyết âm mưu “về những kẻ có thế lực cố tình tạo
ra cuộc bùng nổ của đại dịch” cao gấp hai lần so với những người theo Đảng Dân Chủ
và thiên về Dân Chủ.
Mới đây, các cuộc thăm dò về ảnh hưởng của khuynh hướng
chính trị cũng cho thấy người Mỹ vẫn tiếp tục không tin ở kết quả của cuộc bầu
cử tổng thống năm 2020. Theo hãng thăm dò Axios -Momentive, có khoảng 40 phần
trăm người Mỹ nói chung không tin rằng Tổng thống Joe Biden đã thắng cuộc bầu cử
năm 2020. Nhưng theo hãng Morning Consult, có đến 68 phần trăm những người theo
Đảng Cộng Hòa cho rằng ông Joe Biden không phải là một tổng thống có chính
danh.
Sở dĩ có sự nghi ngờ như thế là bởi vì ngay từ năm 2016, “kẻ
mà ai cũng biết là ai đó” đã tung ra “thuyết âm mưu” cho rằng cuộc bầu cử trong
đó, mặc dù “kẻ đó” đã đánh bại đối thủ Hillary Clinton, vẫn là một cuộc bầu cử
gian lận. Rồi trong cuộc bầu cử năm 2020, biết mình đã bị đánh bại và mặc dù cuộc
kiểm phiếu chưa hoàn tất, “kẻ đó” vẫn cứ tuyên bố mình đã chiến thẳng và yêu cầu
chấm dứt cuộc kiểm phiếu. Dĩ nhiên, đó là một lời tuyên bố gian lận hay “Một lời
Dối Trá Vĩ Đại” (A Big Lie). Kết quả của trên 60 vụ kiện tại các tòa án ở mọi cấp,
kể cả Tối Cao Pháp Viện, đều chứng minh rằng những cáo buộc về gian lận bầu cử
của “kẻ đó” là hoàn toàn vô căn cứ (2). Cho tới nay, “kẻ đó” vẫn cứ ra rả tuyên
bố cuộc bầu cử đã bị đánh cắp và lời dối trá đó vẫn tiếp tục được nhiều người Mỹ
tin, mặc dù không trưng ra được bất cứ một bằng chứng nào về sự gian lận.
Trong lịch sử cận đại, không có bất cứ một nhà độc tài
nào, từ Staline đến Hitler, Mao Trạch Đông, Polpot, Hồ Chí Minh và nay Tập Cận Bình và Putin...có đủ ba đầu sáu tay
để phạm tội ác. Xung quanh họ, dưới chân họ lúc nào cũng có cả một lũ lâu la hò
hét, sẵn sàng bán đứng lương tâm, sẵn
sàng chà đạp các giá trị đạo đức, sẵn sàng sống chết cho họ. “Lời Dối Trá” của
“kẻ mà ai cũng biết là ai đó” sẽ chỉ là tiếng kêu trong sa mạc nếu không được
hà hơi tiếp sức bởi cả một đám theo đóm ăn tàn.
Trong các nhân chứng được Ủy ban Điều tra của Quốc hội Mỹ
về cuộc bạo loạn ngày 6 tháng Giêng năm 2021 mời hay tống trát đòi ra điều trần,
tôi đặc biệt chú ý đến ông Rusty Bowers, Chủ tịch Hạ viện của Tiểu bang Arizona
hiện đang được Đảng Cộng Hòa kiểm soát. Ông làm chứng rằng chính “kẻ đó” và một
thuộc hạ nòng cốt của “kẻ đó” là Rudy Giuliani đã yêu cầu ông lật ngược kết quả
bầu cử tại Arizona. Ông đã khẳng khái trả lời rằng lời hứa trung thành với Hiến
Pháp và luật của tiểu bang không cho phép ông làm điều đó. Trong lời khai hữu
thệ, ông cũng đã thẳng thừng lên án “Lời Dối Trá Vĩ Đại” của “kẻ đó”. Vậy mà, chỉ một ngày sau đó, trong một cuộc
phỏng vấn dành cho hãng thông tấn AP, ông lại tuyên bố rằng nếu “kẻ đó” ra tranh cử tổng thống năm
2024, ông sẽ bỏ phiếu cho “kẻ đó”. Thế là thế nào!
Ông Bowers không phải là người đầu tiên lên án cuộc bạo
loạn do “kẻ đó” kích động và vẫn ủng hộ
“kẻ đó” trong cuộc bầu cử năm 2024. Lãnh tụ thiểu số của Cộng Hòa tại Thượng viện
Liên bang là ông Mich McConnell là người đã tuyên bố rằng “kẻ đó” là người phải
chịu trách nhiệm về cuộc bạo loạn ngày 6 tháng Giêng, vậy mà sau đó lại loan
báo cũng sẽ ủng hộ “kẻ đó” nếu “kẻ đó” được Đảng Cộng Hòa đề cử làm ứng cử viên
trong cuộc bầu cử năm 2024.
Một nhân vật nổi tiếng khác của Đảng Cộng Hòa là ông
Kevin McCathy, lãnh tụ khối thiểu số Cộng Hòa tại Hạ viện Liên bang, cũng
giương cao cùng một ngọn cờ như ông McConnell. Lên án cuộc bạo loạn và quy
trách cho “kẻ đó”, nhưng liền sau đó McCathy xuống thẳng Mar-a-Lago để phủ phục
dưới chân “kẻ đó” để bày tỏ lòng trung thành của kẻ bày tôi!
Một nhân chứng mà lời khai trước Ủy ban Điều tra của Hạ
viện hẳn phải có một trọng lượng đáng kể hẳn phải là cựu Bộ trưởng Tư pháp Bill
Barr. Gọi thẳng “Lời Dối Trá” của “kẻ đó” là “Bullshit” và từ chức vì “Lời Dối
Trá” ấy, vậy mà Bill Barr lại tuyên bố cũng sẽ bỏ phiếu cho “kẻ đó” nếu “kẻ đó”
được Đảng Cộng Hòa đề cử vào năm 2024 (4).
Tôi hiểu được tại sao rất đông người Mỹ, trong đó có hầu
hết những người bạn của tôi, đã tin “Lời Dối Trá Vĩ Đại” của “kẻ đó” và đặt “kẻ
đó” lên bàn thờ, đứng trên Hiến Pháp Mỹ và nhứt là những giá trị đạo đức. Tin
vào những lời dối trá mà không dựa vào bất cứ một bằng chứng nào và nhứt là không
màng đến những giá trị đạo đức, một thái độ như thế đã được phản ảnh và vun trồng
qua một bài phát thanh trên mạng trong mục “Houston Nhật Ký” mà tôi đã nghe được
cách đây vài hôm. Sau khi đã trích dẫn các cuộc thăm dò cho thấy hiện nay “kẻ
đó” đang dẫn trước đương kim Tổng thống Joe Biden, nhà bình luận trong chương
trình đi đến kết luận: “năng lực là cái nơi người dân Mỹ tin tưởng, chứ không
phải con người. Năng lực của người đó ra sao chứ không phải con người của người
đó ra sao” (5). Điều đó có nghĩa là: bất kể nhân cách của con người đó có tồi tệ
đến đâu, bất kể con người đó có lươn lẹo, dối trá, độc ác, tàn bạo, vô đạo đến
đâu...miễn là người đó làm được việc thì cứ ủng hộ và sùng bái người đó!
Theo dõi hay bình luận về tình hình chính trị tại Hoa Kỳ
hiện nay, nhiều người nói đến sự chia rẽ trầm trọng trong xã hội hay cuộc khủng
hoảng về hiến pháp. Riêng tôi cho rằng nếu có một cuộc khủng hoảng, ở bất cứ
nơi nào trên thế giới, thì cuộc khủng hoảng đó trước tiên phải là một cuộc khủng
hoảng về đạo đức. Bởi lẽ “chính trị là đạo đức ứng dụng vào trong cuộc sống” (6).
Thước đo của văn minh không chỉ là sự giàu có hay những tiện nghi vật chất, mà
trước hết chính là những giá trị đạo đức. Xét cho cùng đạo đức cũng là tên gọi
của văn minh.
1. Tên của nhân vật phản diện Voldemort trong tập truyện
Harry Potter của nhà văn Anh J.K Rowling.
2. Văn Hải ngoại sau 1975...Về một chuyến đi Nga, Văn Việt.
3. Kyle D.Killian, Ph.D, Scary Polls: Americans’ Belief
in Things Without Evidence, Psychology Today June 28, 2022.
4. David A.Graham, The comment that reveals the depths of
the Republican Party’s moral collapse, The Atlantic June 23, 2023.
5. Houston Nhật Ký P2 1/7/2022.
6. Việt Hoàng, Thành công trong hoạt động chính trị là
gì? https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/23209-thanh-cong-trong-ho-t-d-ng-chinh-tr-la-gi
Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022
Đời Sống Bắt Đầu ở Tuổi Đi Hưu
Thi Văn
Tôi bắt đầu tập “đi hưu" cách đây vài tháng. Nói là tập vì tôi vẫn còn làm vài tiếng một tuần. Trái ngược với những gì tôi tưởng tượng, tôi bận rộn hơn trước. Cái bận rộn bây giờ cũng có những tên gọi như trước đây nhưng thứ tự thì có khác.
Trước đây tôi bận chăm sóc bệnh nhân, bận lo lắng, bận xài tiền, bận ăn uống, bận ngủ nghỉ, bận thương yêu người thân, bận thăm hỏi bạn bè, bận lên mạng, bận chơi. Sở dĩ tôi dùng chữ “bận" cho những sinh hoạt bình thường như tất cả mọi con người bình thường trong thời đại này là vì tôi phải tính toán giờ nào, ngày nào cho việc nào, người nào. Tôi chạy theo giờ giấc, dù chơi hay làm việc, như ma đuổi. Rất nhiều khi tôi thấy ngày đi làm thoải mái hơn ngày nghỉ. Và tôi thường mong đến ngày được đi hưu để khỏi phải bận rộn.
Đi hưu hay về hưu chắc chắn không phải ai cũng trông chờ và sẵn sàng đón nhận. Với người chờ đợi như khởi đầu một hành trình mới thì là "đi hưu". Nhưng với những người không muốn thì là "về hưu". Ở nhóm này, dù lớn tuổi, đau bịnh, họ vẫn muốn đi làm vì nhiều lý do. Chung quy là: vừa có đời sống xã hội, vừa có thêm tiền. Về hưu, thấy trống rỗng, cả hai.
Với tôi, tôi chọn“đi hưu".
Sau vài tháng đi hưu tôi thấy mình đang hăng hái “lao” vào một hành trình mới, rất mới dù cho có vẻ như bình mới rượu cũ. Thật vậy, ngoại trừ không còn làm việc nhiều giờ, tôi vẫn làm tất cả mọi công việc mà trước đây tôi đã làm. Nhưng tôi làm với tất cả thích thú và thoải mái. Tôi quan sát mọi sự chung quanh mình như một khách du lịch. Cũng nghỉ ngơi, cũng đi chơi, cũng làm vườn, cũng nấu ăn, cũng xài tiền, cũng gặp gỡ, cũng chăm sóc bệnh nhân, nhưng không có áp lực. Chỉ có yêu thương và hạnh phúc.
Thế nhưng, dù được bảo đảm về mọi mặt, trên cái bề mặt "đi hưu" vui vẻ đó đang trồi lên rất nhiều thứ. Những mơ ước chưa bắt đầu, những hối tiếc vì những điều lẽ ra phải làm từ lâu, những điều chưa lên tiếng, những việc dang dở bị xếp xó…đang quay về. Trong những thứ "chưa" đó, khắc khoải về những gì chưa góp phần vun bồi những thế hệ tương lai là điều chất vấn tôi nhiều nhất. Với cái "nghiệp" làm người Việt Nam, tôi vẫn còn một đất nước Việt Nam, và nhiều thế hệ Việt Nam. Với tôi, Việt Nam vẫn còn nhiều cái "chưa". Giống như tôi vậy.
Có ai đó đã nói rằng, những mảnh đất đắt nhất thế giới là những mảnh đất trong nghĩa trang. Nơi đó, người ta không chỉ chôn thân xác của ai đó mà còn chôn theo luôn bao ước mơ hoài bão, bao phát minh chưa thành tựu, bao tác phẩm nghệ thuật không bao giờ chào đời, bao dự án lớn nhỏ, bao lời khôn ngoan chưa được phổ biến, bao lời yêu thương chưa kịp trao lại, bao ngày tháng hạnh phúc lẽ ra phải được hưởng khi còn sống, bao hối tiếc ân hận…Quan tài nặng vì những cái "chưa", không phải vì cái xác.
Tôi mừng vì tôi còn chút sức khỏe để giải quyết những cái "chưa" của tôi. Được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Những dòng chữ này đến các bạn cũng là một cách tôi đang "thanh toán" những cái "chưa" tồn đọng trong tôi, một người Việt Nam lưu vong.
Bạn ơi, tôi không cần đất ở nghĩa trang, nhưng tôi cũng không muốn tro tàn của mình bị phủ trong "hối hận".
Thi Văn
Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022
“Mắt hai người đã mở ra và họ thấy mình trần truồng”
Chu Văn
Một buổi chiều tối cách đây không lâu, chính xác là một
ngày trước khi xảy ra vụ thảm sát dã man tại Uvalde,Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, trong khi người thân đang mua sắm trong một tiệm thực
phẩm Á Châu tại Springvale, một khu ngoại ô có đông người Việt sinh sống tại
thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi, tôi đứng ngắm các chậu kiểng được trưng bày
trước cửa tiệm. Thình lình từ phía sau có người xô tôi bằng một cú hích mạnh đến
nỗi suýt làm tôi chúi ngã tới phía trước. Quay lại, tôi thấy một bóng đen to lớn.
Kịp định thần tôi đứng lên bỏ chạy. Vốn là gà chết nhát cho nên mỗi khi bị tấn
công tôi thường “giở ngón” “tẩu vi thượng sách”. “Hung thủ” vẫn không chịu bỏ
cuộc. Hắn cầm cả một chậu hoa ném vào người tôi. Tôi né kịp và chạy thẳng vào
bên trong cửa tiệm để cầu cứu. Một vài thanh niên chạy ra tiếp cứu. “Hung thủ”
bỏ đi và từ từ biến mất trong bóng đêm. Những người thanh niên nhìn theo và trấn
an tôi: “Hắn là một tên khùng”. Tôi thở phào nhẹ nhõm: may mà mình đang sống ở
Úc, là nơi súng đạn được kiểm soát rất nghiêm nhặt.
Thời nào và ở đâu cũng có người khùng hay điên loạn mà
ngày nay người ta thường gọi chung là những người mắc bệnh tâm thần. Cách đây gần
60 năm, một thảm kịch vô cùng đau thương đã xảy ra trong cái xóm giáo nhỏ của
tôi ở miền Trung Việt Nam. Chấn thương vẫn còn âm ỉ trong tâm trí tôi. Vào một
buổi trưa hè nóng bức, một người đàn ông ngoài 30 tuổi, sau khi đâm chết cha mình, đã lôi ông ra trước cửa
nhà và cắt lưỡi ông, rồi sau đó cầm dao chạy thẳng lên nhà thờ của giáo xứ và
chém xối xả vào người vị linh mục quản xứ. May nhờ có người can thiệp đúng lúc
cho nên vị linh mục chỉ bị thương nhẹ. Được biết hung thủ là một người đàn ông
bình thường, có vợ 2 con. Do đi lính trong quân đội Pháp, ông bị thương và một
mảnh đạn còn ghim trong đầu. Những ngày nắng nóng ông thường lên cơn “điên”. Được
đưa vào nhà thương Chợ Quán chữa trị một thời gian, ông được chuẩn đoán đã bình
phục và được cho về nhà. Nhưng không ngờ, vết thương trong đầu vẫn còn đó và một
cơn điên đã khiến ông làm điều mà chỉ có những người “mất trí” mới dám làm. Sau
thảm kịch đó, “người điên” đã được đưa trở lại nhà thương điên và sống những
ngày còn lại ở đó.
Trước năm 1975, hầu hết những người điên đều được đưa vào
nhà thương điên. Sau năm 1975, không biết có phải do thời thế không, người điên
không biết từ đâu mà “chạy đầy đường”. Riêng ở khu Chợ Đầm của thành phố Nha
Trang của tôi, có những cảnh thương tâm đến độ tôi không dám bén mảng tới: có
những thiếu phụ không một mảnh áo che thân đi lại giữa phố chợ mà không chút mảy
may biết xấu hổ! Kỳ thực, đã điên rồi thì làm gì còn biết xấu hổ! Và dĩ nhiên
cũng chẳng ai lên án hay trách móc người điên vì bất cứ hành động hay cách cư xử
nào của họ. Có chăng là sự đau xót và cảm thông mà thôi!
Cảm thông với người điên vì họ không còn biết xấu hổ,
nhưng liệu có thể cảm thông với những kẻ, tuy không điên, nhưng không còn khả
năng biết thế nào là xấu hổ không? Tôi tự đặt ra cho mình câu hỏi ấy khi nghĩ đến
đồ tể Vladimir Putin.
Mới đây, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã làm dấy lên
nhiều tranh cãi khi ông kêu gọi Hoa Kỳ và các nước Tây Phương đang ủng hộ
Ukraine, không nên làm “sỉ nhục” nước Nga trong lúc này. Kể từ khi nắm trọn
trong tay mọi quyền sinh sát tại Nga từ hơn 20 năm nay, có lẽ Putin cũng ngầm
tuyên bố như vua Louis XIV (1636-1715) của Pháp “Nhà nước, quốc gia là ta” (L’Etat,
c’est moi); Nước Nga là Ta, Putin. Làm
“sỉ nhục nước Nga” là “làm sỉ nhục Ta”. Khi kêu gọi đừng làm “sỉ nhục” nước
Nga, hẳn đương kim tổng thống Pháp cũng muốn hiểu là không nên làm “sỉ nhục”
chính Putin, vì làm như thế Putin sẽ “nổi giận” và tàn ác hơn trong cuộc chiến
xâm lược Ukraine cũng như sẽ có những hành động không lường trước được với cả
thế giới.
Thật ra, từ lúc hiện nguyên hình là một nhà độc tài khát
máu tại Nga, Putin đã không còn để lộ bất cứ một dấu chỉ nào cho thấy hắn còn
biết thế nào là xấu hổ. Đã biết xấu hổ thì hẳn bước vào Thế kỷ 21 này, Putin đã
chẳng tấu hài với màn kịch hết thủ tướng rồi tổng thống, hết tổng thống rồi thủ
tướng và nay độc diễn tổng thống cho đến mãn đời và nhứt là hiện đang xem mình
như một Phêrô đại đế (1682-1725)! Đã còn biết xấu hổ thì Putin đã chẳng ra lệnh
sử dụng khí độc để thủ tiêu bất cứ đối thủ chính trị hay bất cứ ai dám lên tiếng
chỉ trích mình. Còn nếu nhìn vào tội ác mà Putin đã và đang làm tại Ukraine thì
quả thật trong con người Putin, “giây thần kinh xấu hổ” đã hoàn toàn bị đứt rồi!
Một khi nơi một người mà “giây thần kinh xấu hổ” đã đứt rồi thì “đừng làm sỉ nhục”
người đó là điều hoàn toàn vô nghĩa.
“Đứt giây thần kinh xấu hổ” là cụm từ thời thượng mà tôi
đã học được từ trong nước mỗi khi nói về đủ thứ thói kệch cỡm của chế độ độc
tài tại Việt Nam. Tôi không biết mình có “cường điệu” không khi nói thậm xưng rằng
đã là cộng sản thì đương nhiên phải “đứt giây thần kinh xấu hổ”! Ông chủ tịch
hay thủ tướng nào ra nước ngoài cũng “ló” cái ngu, cái dốt của mình ra làm trò
cười cho thiên hạ mà chẳng bao giờ biết xấu hổ. Nói gì đến chuyện tiến sĩ “chạy
đầy đường”! Ông bà “quan chức” nào cũng muốn gắn vào sau lưng mình cái đuôi “tiến
sĩ” nhưng lại không che dấu được sự ngu dốt của mình mà không hề biết xấu hổ.
Còn chuyện chống tham những thì quả thật nếu không “đứt giây thần kinh xấu hổ”
thì có lẽ, đã là lãnh tụ tối cao của một chế độ độc tài, ông Nguyễn Phú Trọng
đã không muối mặt để “đốt lò” thiêu sống các thuộc hạ của mình nữa. Bởi lẽ độc
tài đẻ ra tham nhũng hay đúng hơn tự nó độc tài cũng là “tham nhũng”. “Tham
nhũng” đâu chỉ là “tham nhũng” về tiền bạc hay đất đai. “Tham nhũng” thiết yếu
là tham nhũng về quyền lực. Về điểm này, ai hơn Nguyễn Phú Trọng! Đã là tham
nhũng mà còn hô hào chống tham nhũng thì chỉ có những cái đầu “đứt giây thần
kinh xấu hổ” mới có đủ trơ trẽn để làm mà thôi!
Từ một Putin “đứt giây thần kinh xấu hổ” và từ một chế độ
cộng sản Việt Nam cũng “đứt giây thần kinh xấu hổ” nhìn sang Hoa Kỳ, tôi thấy
hiện tượng này xem ra lại càng khủng khiếp hơn. Ở Nga có lẽ chỉ có một Putin
hay một thượng phụ giáo chủ Kirill không còn biết xấu hổ và một số đông, do bị
cưỡng bách và sợ hãi, cũng đã cắt đứt giây thần kinh xấu hổ. Ở Việt Nam chế độ
độc tài đã tự giải phẫu để làm tê liệt giây thần kinh xấu hổ của cấp lãnh đạo.
Đó là điều tất yếu trong bất cứ một chế độ độc tài nào. Nhưng nay, khi nhìn vào
nước Mỹ, nhứt là với những vụ bắn giết xảy ra thường xuyên đến nỗi bộ nhớ của
tôi hầu như quá tải để có thể thu giữ được con số người bị giết vì súng đạn. Máu
chảy ruột mềm. Dù máu chảy ở đâu, đã là một phần bất khả phân ly của nhân loại,
tôi không thể không cảm thấy quặn đau khi có một người vô tội bị sát hại. Nếu
tôi là một người Mỹ tôi không thể không cảm thấy xấu hổ vì những vụ bắn giết xảy
ra như cơm bữa và nhứt là vì nhiều người vẫn khăng khăng với luận điệu: súng
không giết người, chỉ có người mới giết người do đó có súng là một quyền thiêng
liêng, tuyệt đối!
Kết quả của một số cuộc thăm dò mới đây cho thấy mặc dù
đa số dân Mỹ muốn có luật kiểm soát súng đạn, nhưng cũng cái đám đông ấy vẫn
bám vào tu chính án thứ hai để đòi hỏi phải tuyệt đối được quyền mang súng (1). Và để bảo vệ quyền được
mang súng ấy, các ông bà nghị, do “đứt giây thần kinh xấu hổ”, đã đưa ra những
luận cứ ngớ ngẩn không thể tưởng tượng được. Một ông dân biểu đại diện cho Tiểu
bang Missouri “đưa ra một lý thuyết đặc
biệt: Bắn giết nhiều không phải vì nhiều súng quá mà vì các vụ phá thai”. Các
phụ nữ phá thai phải mang tiếng oan, bởi vì “trong số các thủ phạm bắn chết người,
không có các bà các cô đã phá thai”.
Một ông nghị khác, hiện đang muốn ứng cử nghị sĩ Tiểu
bang Alabama, thì cho rằng “các vụ bắn chết người gia tăng bây giờ là vì số các
bà mẹ nuôi con một mình tăng lên”. Ông nói rằng “các đứa trẻ này lớn lên thường
sống nhờ tiền trợ cấp xã hội, học hành thua kém, hay ghiền ma túy và tội phạm”
(Tân thủ tướng Úc của tôi, ông Anthony Albanese hẳn sẽ phiền lòng lắm vì ông đã
lớn lên trong gia đình của một bà mẹ đơn chiếc!). Ông nghị này quả không biết xấu
hổ khi cố tình quên rằng người thanh
niên Payton Gendron, kẻ đã giết 10 người da đen mới đây tại một siêu thị ở
Buffalo, Tiểu bang New York, đã từng “sống với cha mẹ, trong một ngôi nhà ba tầng,
có hồ bơi, thuộc khu ngoại ô Binghamton toàn người da trắng khá giả, bố mẹ làm
kỹ sư”. Ông nghị này cũng đã cố tình quên rằng người thanh niên 21 tuổi bắn chết
23 người tại El Paso, Texas hồi năm 2019 đã lớn lên trong một gia đình nề nếp,
được cha mẹ “dạy con phải nhân từ, bao dung, kính trọng mọi người, không được hận
thù, ký thị, bạo động”. Ông nghị này cũng cố tình quên rằng người đàn ông 64 tuổi
đã giết 60 người tại Las Vegas hồi năm 2017 đã từng lớn lên trong một gia đình
toàn vẹn (2).
Luận điệu bảo vệ tính tuyệt đối của quyền được mang súng
mà rất nhiều ông bà nghị đưa ra và cũng được rất nhiều người Mỹ tán thành làm
tôi cảm thấy đau thắt ruột mỗi khi nghĩ đến các nạn nhân bị thảm sát một cách
vô tội vạ, nhứt là các học sinh trong các trường tiểu học. Rồi đây, ngay cả khi
tôi đang ngồi viết những dòng này, chính cái luận điệu đặt quyền mang súng lên
trên mạng sống con người, vô số kể những vụ bắn giết cũng sẽ tiếp tục xảy ra.
Cái xã hội văn minh và giàu mạnh này vẫn cứ vô tâm và không biết xấu hổ. Người
ta vẫn cứ tiếp tục nhảy cái vũ điệu ma quái trên xác người. Tôi vẫn còn bị ám ảnh
bởi các vũ điệu ấy nơi một người đã không biết ngượng miệng và xấu hổ khi tuyên
bố lúc ra tranh cử tổng thống rằng: “Tôi có thể đứng giữa đại lộ số 5 (ở New
York) và bắn ai đó mà không mất một phiếu bầu nào”. Quả thật, đã có 72 triệu
người Mỹ bỏ phiếu ủng hộ ông trong cuộc bầu cử năm 2020, mặc cho ông có dối trá
như cuội, mặc cho ông ngu ngốc đến cỡ nào, mặc cho ông có khinh thường luật
pháp và hiến pháp đến đâu, mặc cho ông có chà đạp các chuẩn mực đạo đức đến cỡ nào. Bỉ ổi nhứt hẳn phải là vũ điệu ấy lại được
lập tại đại hội của Hội Súng Trường (NRA) tại Houston chỉ 3 ngày sau vụ thảm
sát tại Uvalde. Trong bài diễn văn của mình, ông đọc tên 21 nạn nhân của vụ thảm
sát để rồi, không chút ngượng ngùng và xấu hổ, ông kết thúc bài diễn văn với vũ
điệu ma quái ấy (3). Nhìn ông nhảy múa, tôi nghĩ bụng: hết thuộc chữa!
Quả thật, khi con người không còn biết xấu hổ, họ tự hạ
mình xuống hàng súc vật, bởi vì súc vật không biết xấu hổ (Nói vậy kể ra cũng
có lỗi với súc vật, vì con chó của tôi vẫn biết tỏ ra xấu hổ khi bị tôi quở
trách). Là “con nhà có đạo”, nhưng có lúc tôi đọc Kinh Thánh theo “lề trái”.
Như câu chuyện “sa ngã” của ông bà nguyên tổ được ghi lại trong sách Sáng Thế
Ký chẳng hạn, tôi không cho đó là một sự sa ngã, mà là một sự vươn lên. Thật vậy,
sau khi ăn trái cấm, “mắt hai ông bà đã mở ra và họ thấy mình trần truồng”. Biết
mình trần truồng, tức biết xấu hổ, là biết phân biệt đúng sai và thiện ác. Biết
xấu hổ là ý thức mình là người và còn muốn lớn lên trong nhân cách.
Chu Văn
Chú thích
1.Rani Molla, Polling is clear: Americans want gun
control, Vox Jun 1,2022
2.Ngô Nhân Dụng, Tại sao nhiều người Mỹ chết vì súng, Đài
Voa 06/06/2022
3.Thomas Kika, Trump draws ire for dancing at NRA
Convention after Texas shooting, Newsweek 5/28/22
Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2022
"4689" Yêu & Tự do Dân chủ
Thi Văn
Có một "ngày này năm xưa" mà tôi luôn bị khắc khoải mỗi khi ngày ấy trở về: ngày 4 tháng Sáu 1989. Ngày mà phong trào đấu tranh của sinh viên và người dân Trung quốc xuống đường đòi nới lỏng tự do ngôn luận, tự do hóa chính trị và kinh tế, ở Quảng trường Thiên An Môn, bị nghiền nát. Hình ảnh của những sinh viên Trung quốc bị chính quyền đàn áp, bị những chiếc xe tăng lao vào và càn quét vẫn còn đẫm máu trong trí nhớ của tôi. Nhất là hình ảnh người đàn ông đối đầu với một đoàn xe tăng, anh ta đã bị bắt, bị đánh đập và biến mất. Tôi không thể quên. Dù đã 33 năm. Dù rất nhiều người trong số họ đã chết. Dù rất nhiều người sống sót phải trải qua lao tù và vượt thoát. Dù chính quyền Trung quốc luôn tìm cách chối bỏ và xóa đi những gì còn sót lại (*). Với tôi, tất cả ngày càng rõ hơn, đậm hơn và khiến tôi phải tự vấn mình nhiều hơn.
Có những lý do khiến sự kiện này ám ảnh và theo tôi mãi. Thứ nhất, tôi là một người tỵ nạn cộng sản. Tôi đã từng "được" giáo dục dưới chế độ cộng sản và tôi hiểu được họ phải can đảm như thế nào khi dám đứng lên để đòi hỏi những quyền chính đáng của mỗi một con người trong một đất nước từng có một cuộc Cách Mạng Văn Hóa tàn khốc. Một lý do khác trùng hợp hơn: lúc đó tôi sắp sinh con. Một đứa con trai mà rồi nó sẽ lớn lên như những sinh viên này. Con tôi bao nhiêu tuổi thì biến cố này sẽ đi vào lịch sử bấy nhiêu năm. Rất nhiều lần nhìn con, tôi nhớ đến người thanh niên đơn độc ngày nào. Chỉ vì được sinh ra ở một nước tự do, con tôi chưa từng phải trả bất cứ giá nào để có được những cái quyền mà những người sinh viên Thiên An Môn tranh đấu bằng máu mà không được.
Con tôi chưa từng phải trả giá vì tôi đã phải trả giá bằng một cuộc vượt biển nguy hiểm. Sống trong một thể chế tự do dân chủ và hưởng những quyền làm người như con tôi cũng giống như hưởng một tình yêu. Bạn không thể tả mà chỉ có thể cảm. Từ ngữ không đủ sức để diễn tả yêu như thế nào ngoại trừ bạn đang yêu. Cũng vậy, từ ngữ cũng không thể nào nói lên được cuộc sống với tất cả sự an toàn, hạnh phúc và có chủ quyền như thế nào. Nhiều người trẻ từ trong nước sang Úc học hay làm việc thường nói với tôi rằng, Việt nam bây giờ không thiếu gì cả. Tôi cười. Có bạn còn nói với tôi rằng Việt Nam bây giờ tự do hơn ở Úc. Tôi cũng cười. Và tôi hiểu tôi muốn điều gì cho đất nước tôi, cho dân tộc tôi. Như một người được nếm thế nào là tự do dân chủ và tự chủ, tôi cũng muốn một ngày nào đó, những người cùng một Mẹ Việt Nam cũng được như vậy. Chỉ có nếm trải thì chúng ta mới hiểu sự vô giá của tự do dân chủ.
"Việt nam bây giờ không thiếu gì cả!" Có chứ, thiếu chủ quyền!
"Việt Nam bây giờ được tự do hơn ở Úc!" Hãy thành thật với chính mình, đó có phải là tự do đích thực hay không?
Tôi hiểu tại sao những sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn năm nào đã bất chấp tất cả. Họ yêu mến dân tộc họ và muốn cho mọi người được hưởng được tự do dân chủ.
Tự do dân chủ rất giống tình yêu ở chỗ: có thì không muốn mất mà mất thì tiếc không chịu được.
Thế nhưng, tình yêu và tự do dân chủ không tự dưng mà có. Cả hai đều cần sự nỗ lực "hết linh hồn, hết trí khôn" để tồn tại.
Tôi đã sẵn sàng. Bạn thì sao?
Thi Văn
(*) https://www.luatkhoa.org/2019/06/30-buc-anh-ve-tham-sat-thien-an-mon-trung-quoc-muon-xoa-khoi-lich-su/
Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2022
Sói không đơn độc
Chu Văn
Tôi chưa hề “chống Mỹ cứu nước”. Còn chuyện Mỹ bỏ rơi đồng
minh Việt Nam Cộng Hòa và bán đứng cho cộng sản thì cũng đã là “lịch sử”. “Hận”
cách mấy rồi cũng nguôi ngoai. Nhưng nay, cứ mỗi lần nhìn vào “chuyện thường
ngày ở huyện” tại Mỹ, tôi lại thấy “ghét” cái nước “vĩ đại” này quá chừng! Tĩnh
từ đầu tiên xuất hiện trong trí tôi mỗi khi nghĩ đến đất nước này luôn là hai
chữ “quái đản”. Là “giấc mơ” của cả thế giới, giàu mạnh nhứt thế giới, văn minh
nhứt thế giới, có đội ngũ khoa học gia và chuyên gia y tế tài ba nhứt thế giới,
có thừa mứa thuốc chủng ngừa Covid nhứt thế giới...vậy mà với hơn 1 triệu người
chết vì dịch bệnh này, Mỹ cũng nhứt luôn! Thay vì chung sức, chung lòng để chống
lại dịch bệnh, cứ ngồi đó mà gấu ó nhau vì chuyện mang khẩu trang hay không
mang khẩu trang, giãn cách hay không giãn cách, chích ngừa hay không chích ngừa.
Không quái đản là gì! Quái đản hơn nữa là
chuyện bắn giết người hàng loạt xảy ra như cơm bữa! Tôi không ngạc nhiên chút
nào khi xảy ra vụ thảm sát tại một siêu thị ở Thành phố Buffalo, Tiểu bang New
York hôm thứ Bảy 14 tháng Năm vừa qua. Tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng rồi
ra những thảm kịch như thế sẽ tiếp tục diễn ra. Nước Mỹ không chỉ “lạnh lùng”
như người chuyên viết tạp ghi Huy Phương đã ghi nhận, nước Mỹ vô tâm và tàn nhẫn!
Người ta cứ nhân danh một thứ quyền “thiêng liêng”, “thần thánh”, “bất khả di
nhượng”...được hiến định trong tu chính án số hai là quyền được tự do mang súng
để muốn bắn ai thì bắn và xem ra chẳng mảy may xúc động trước cảnh người bắn giết
người một cách vô tội vạ. Kịch bản nhàm chán cứ tiếp tục được viết lại: sau thảm
kịch, hoa được mang đến hiện trường, những lời “tưởng nhớ và cầu nguyện” được gởi
đến với câu thần chú “Xin Thượng Đế chúc lành cho nước Mỹ” (God bless America).
Sau đó, ai nấy rút lui vào cứ địa an toàn của mình. Mọi thứ tội lỗi đều được
trút lên đầu con “sói đơn độc” (lone wolf) và xã hội lại được xá giải! Rồi đâu
lại vào đó! Bởi lẽ, như ký giả Sam Levin đã viết trên báo The Guardian, “cuộc
tàn sát tại Buffalo là một phần của truyền thống Mỹ: “Chúng ta sẽ tiếp tục thấy
những vụ bắn giết như thế”(1). Đúng là một “truyền thống” quái đản!
Có thật sự người thanh niên da trắng 18 tuổi tên là
Payton Gendron là một con “sói đơn độc” khi lái xe 3 tiếng rưỡi đồng hồ từ New
York đến Buffalo để bắn hạ 10 người mà hầu hết là người gốc Phi Châu không? Trong
một bài phân tách được đăng trên báo The Atlantic số ra ngày 15 tháng Năm vừa
qua, tác giả Juliette Kayyem cho rằng ngay cả khi một kẻ giết người hàng loạt
như người thanh niên Gendron có hành động riêng rẽ một mình đi nữa, ý thức hệ,
tức tư tưởng, chủ trương kỳ thị chủng tộc và nhứt là sự thù hận của cậu ta cũng
đã được rất nhiều người chia sẻ, nâng đỡ, khuyến khích và cổ võ (2).
Theo tác giả Kayyem, chó sói không phải là một loài thú đặc
biệt. Chó sói không to lớn, mạnh bạo bằng sư tử hay cọp beo. Trong thế giới
loài vật, chó sói không “thông minh” và cũng chẳng có nanh vuốt bén nhạy biến
chúng thành một loài thú săn mồi nguy hiểm và đáng sợ nhứt. Sở dĩ chó sói thành
công hơn nhiều loài thú săn mồi khác là bởi chúng luôn biết hợp tác với nhau.
Khi một con mồi đã được định vị, bày sói thường tẻ ra nhiều góc rồi mới bắt đầu
tấn công: con đánh phía sau, con phục kích phía trước! “Chiến thuật” này cho thấy sói không hành động
riêng lẻ, đơn độc một mình. Trong thế giới loài vật, một con sói đơn độc không
đủ sức mạnh để hành động một mình. Một con sói đơn độc không đáng sợ. Một con
sói đơn độc không có khả năng để tàn sát
một lúc nhiều con thú khác.
Gendron, hung thủ đi săn mồi tại một siêu thị ở Buffalo
có phải là một con “sói đơn độc” không? Trong trường hợp này, dường như Gendron
không hề có bất cứ một người đồng lõa nào. Cậu ta chỉ hành động một mình. Căn cứ
trên bản “tuyên ngôn” được chính hung thủ cho phát tán trên các trang mạng xã hội,
hành động giết người hàng loạt của cậu ta quả là một cuộc tàn sát vì kỳ thị chủng
tộc. Cảnh sát New York đã tuyên bố đây là một “tội ác vì động lực hận thù chủng
tộc”. Theo tác giả Kayyem, thông thường khi suy nghĩ, viết và truy tố những tội
ác như thế tại Mỹ, người ta thường chỉ tập trung vào câu hỏi: hung thủ có hành
động như một con “sói đơn độc” không. Hành động của cậu ta hoàn toàn khác với
những hành động khủng bố của những nhóm khủng bố Hồi giáo như ISIS (Nhà nước Hồi
giáo) chẳng hạn. Dù chỉ có một kẻ ôm bom tự sát để sát hại nhiều người, hành động
này vẫn được nhiều người tham gia lên kế hoạch.
Như vậy, Gendron có phải là một con “sói đơn độc” không?
Qua bản “tuyên ngôn” được chính cậu ta cho công bố trên các trang mạng hai ngày
trước khi ra tay hành động, cậu ta cho biết mình không hành động một mình, mà
có cả một khối người minh nhiên hay mặc nhiên đồng tình, đứng sau lưng để trực tiếp hay gián
tiếp yểm trợ cho cậu. Sự kiện Gendron tự quay phim cảnh giết người và phát tán
lên mạng như một phóng sự được trực tiếp truyền hình cho thấy có cả một cộng đồng
“mạng” đang chờ đợi để xem cuộc bắn giết như thưởng thức một cuốn phim truyền
hình thực tế.
Nếu Gendron không phải là một con “sói đơn độc” trong vụ
tàn sát hàng loạt tại Buffalo thì đồng lõa và sau lưng cậu là ai? Trước hết phải
nói đến nền văn hóa súng đạn tại Hoa Kỳ. Có lẽ chẳng có nơi nào trên thế giới tỷ
lệ sở hữu súng và nhứt là súng giết người hàng loạt tính theo đầu người cao như
ở Mỹ. Và dĩ nhiên cũng đã rõ như ban ngày là con số người chết vì súng đạn tại
Mỹ cao hơn bất cứ nước nào trên thế giới. Giải pháp cho “đại dịch súng đạn” mà
lẽ thường (common sense) ở đâu cũng đòi hỏi phải có là bằng mọi giá phải kiểm
soát súng đạn. Cuối tháng Tư năm 1996, một người thanh niên mắc bệnh tâm thần
đã xả súng bắn chết 35 người và làm bị thương 23 người tại Port Arthur, Tiểu
bang Tasmania, Úc Đại Lợi. Liền sau đó, Chính phủ Úc đã thông qua luật kiểm
soát súng đạn một cách rất chặt chẽ. Chính phủ Úc đã mua lại 643.000 khẩu súng.
Từ đó đến nay, chẳng ai nhắc đến Úc như một nơi mà người dân phải chết một cách
oan uổng vì súng đạn nữa. Tại Na Uy, tháng Bảy năm 2011, một người thanh niên
tên là Anders Breivik đã dùng bom và súng để thực hiện 2 cuộc tấn công tại Oslo
và sát hại tổng cộng 77 người. Một tòa án tại Oslo đã đưa ra phán quyết rằng
hung thủ là một người bình thường, nhưng có khuynh hướng chính trị cực đoan.
Breivik bị kết án 21 năm tù. Liền sau cuộc thảm sát, Na Uy cũng đã thông qua luật
kiểm soát súng rất gắt gao. Luật vẫn cho phép người dân được sở hữu súng. Nhưng
súng chỉ được sử dụng mỗi năm một tuần lễ để đi săn mà thôi...Suốt năm, súng bị “khóa lại” và
giữ trong kho! Cảnh sát ở Na Uy cũng chẳng cần phải mang súng. Kể từ sau cuộc
thảm sát hồi năm 2011, đã không hề xảy ra bất cứ một cuộc bắn giết nào nữa.
Tại Tân Tây Lan, dạo tháng Sáu năm 2019, một thanh niên
theo chủ nghĩa da trắng thượng đẳng người Úc tên là Brenton Tarrant đã xông vào
hai đền thờ Hồi giáo tại Thành phố Christchurch và bắn giết 51 tín đồ đang thờ
phượng. Liền sau đó, Thủ tướng Tân Tây Lan Jacinda Ardern đã ban hành luật kiểm
soát súng rất nghiêm nhặt: cấm sở hữu súng bán tự động. Từ đó đến nay, đã không
có bất cứ cuộc tàn sát bằng súng đạn nào tại Tân Tây Lan nữa.
Ở đâu cũng có những người mắc bệnh tâm thần. Ở đâu cũng
có những thành phần bị cực đoan hóa, nhứt là kỳ thị chủng tộc. Có khác chăng là
tại Mỹ súng đạn không bao giờ được kiểm soát và sẽ mãi mãi không bao giờ được
kiểm soát một cách chặt chẽ. Và bao lâu súng đạn không được kiểm soát, thì
trong liên đới trách nhiệm, những kẻ bắn giết người hàng loạt, dù mắc bệnh tâm
thần hay thù hận chủng tộc, đều không phải là những con “sói đơn độc”. “Con số
người Mỹ chết vì súng thật khủng khiếp, bởi vì người Mỹ sống với súng một cách
vô trách nhiệm” (3).
Kiểm soát việc sở hữu súng trong xã hội là chuyện phải
làm để ngăn ngừa những vụ bắn giết bừa bãi. Đó là biện pháp mà lẽ thường ở bất
cứ nơi nào trên trái đất này cũng đòi hỏi phải có.
Ngoài biện pháp kiểm soát việc sở hữu súng, một xã hội thực
sự an toàn và lành mạnh trước hết phải là một xã hội không bị chia rẽ, xâu xé
vì hận thù. Vụ thảm sát ở Buffalo cho thấy người thanh niên Gendron không hề là
một con “sói đơn độc” vì xung quanh cậu ta có cả một bầy sói hậm hực và sôi sục
hận thù chủng tộc. Trong những ngày vừa qua, cứ thử nghe đài Fox News, đặc biệt
bình luận gia nổi đình đám nhứt của đài này là Tucker Carlson, người ta sẽ thấy
ngay một thanh niên như Gendron đã bị đầu độc và cực đoan hóa như thế nào.
Trong bản “tuyên ngôn” được cho công bố trước khi ra tay thảm sát người Mỹ gốc
Phi Châu tại Buffalo, Gendron đã tuyên xưng niềm tin của mình vào thuyết âm mưu
“thay thế” (Replacement Theory). Theo thuyết này, nếu không ra tay kịp thời thì
không bao lâu nữa, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ của người da trắng sẽ bị người di
dân, dân da mầu hay dân đến từ “Đệ tam Thế giới” chiếm lấy. Đây là lý thuyết mà
Carlson đã không ngừng quảng bá trong các chương trình ăn khách của ông. Theo một
bài phân tách mới đây của báo The New York Times, trong hơn 400 bài “thuyết giảng” hùng hồn của mình, Carlson đã hoàn toàn ủng hộ và quảng
bá cho thuyết âm mưu này (4).
Trong “tuyên ngôn”, hung thủ không nhắc tới giáo chủ
Donald Trump, người trong 4 năm ngồi trong Tòa Bạch Ốc, đã không ngần ngại bày
tỏ sự ủng hộ dành cho những thành phần da trắng thượng đẳng và kỳ thị chủng tộc.
Về phần mình, trong một buổi nói chuyện tại Austin, Tiểu bang Texas, chỉ vài giờ
sau cuộc thảm sát, cựu tổng thống Mỹ đã không
bày tỏ bất cứ một lời lên án nào về cuộc thảm sát hay chia buồn với gia đình
các nạn nhân nhưng lại lợi dụng dịp này để khoe mẽ một cách lạc đề và dối trá rằng
trong liên tục 18 tháng trong nhiệm kỳ của ông, không có người Mỹ nào chết tại
A Phú Hãn! (Vậy ở Mỹ thì sao? Đương nhiên là có!) Vô tâm đến thế là cùng!
Hung thủ của vụ thảm sát tại Buffalo không hề là một con
“sói đơn độc”. Thức ăn của những con thú như hung thủ này chính là sự vô cảm của
những thành phần lãnh đạo trong xã hội, đặt quyền lợi liên quan đến súng lên
trên mạng người và nhứt là hận thù chủng tộc. Một xã hội sống bằng hận thù đến
độ không còn biết xót xa, thương cảm trước nỗi khổ đau của người đồng loại quả
là một xã hội quái đản!
Chú thích:
1.Sam Kevin, How the Buffalo massacre is part of U.S
tradition...The Guardian, 19 May 2022
2.Juliette Kayyem, A ‘Lone-Wolf’ Shooter Has an Online
Pack, The Atlantic May 15, 2022
3. David Frum, America’ s Gun Plague, The Atlantic May
15, 2022
4. Daniel Arkin,
Fox News’ Tucker Carlson under fresh scutiny after Buffalo mass
shooting, nbcnews May 17, 2022
Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022
Q & A
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022
Khi thằng người gỗ không muốn làm người
Chu Văn
Sự tàn bạo dã man của Vladimir Putin trong cuộc chiến
tranh xâm lăng Ukraine đã khiến cho nhiều người cho rằng lương tâm nhân loại đã
thức tỉnh. Thức tỉnh trước những hành động man rợ của tên đồ tể này đã đành, mà
quan trọng hơn chính là thức tỉnh trước sự dối trá trắng trợn của hắn. Không gì
bỉ ổi cho bằng biện minh cho tội ác bằng những lời dối trá và lật lọng mà không
một người nào còn có chút lương tri có thể chấp nhận được.
Có người đã tóm tắt một cách rất chính xác những lời dối
trá trâng tráo của Putin:
“Putin tuyên bố Ukraine muốn gia nhập NATO,
đây là một đe dọa với sự ổn định của nước Nga nên...ĐÁNH.
Putin nói Ukraine có vũ khí nguyên tử nên...ĐÁNH
Putin giải thích muốn ủng hộ đám ly khai ở
Donbass và XYZ nên...ĐÁNH
Putin lại nói rằng muốn diệt đám quốc xã ở
Ukraine nên...ĐÁNH
Và vừa rồi hắn nói: Trước sau gì rồi cũng phải
ĐÁNH Ukraine.
Dường như Putin và Trump có cùng dòng họ hoặc
ít nhất là sở hữu một gen đột biến giống nhau - gen nói láo. Nói láo không biết
xấu hổ, nói dối không cần một bằng chứng giả tạo.
Thật là trơ trẽn. Trước đây tôi chưa bao giờ
có ác cảm gì với người Nga, tôi thấy họ hiền lành, bình thường, không tự cao tự
đại. Tôi cũng chưa bao giờ nghe thấy chuyện phân biệt đối xử với người Nga ở
châu Âu. Thế nhưng, bây giờ tôi mới biết là không chỉ bị phân biệt đối xử, mà
người Nga còn sắp bị tiêu diệt như người Do Thái!
Ngày 3-4-2022, ở Berlin và nhiều thành phố
khác trên nước Đức đã diễn ra một cuộc biểu tình bằng xe hơi của người Nga.
Trên kính sau của một chiếc xe có biểu ngữ “No Fascism” (Nói không với chủ
nghĩa phát xít) với biểu tượng NATO bị gạch chéo.
Theo tôi, nếu Putin và người Nga làm những
chuyện này nhiều lần trước cuộc chiến Ukraine thì có lẽ hợp lý hơn. Nhưng cuộc
biểu tình diễn ra vào ngày thứ 38, sau khi Nga xâm lược Ukraine.
Và tôi đươc biết thêm (qua một bài báo): Ở Nga việc sử dụng
Holocaust (cuộc tàn sát người Do Thái do Hitler chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế
chiên) làm công cuộc cho chính trị đã mang tính truyền thống. Họ đang biến thủ
phạm thành nạn nhân và ngược lại!” (1)
“Biến thủ phạm thành nạn nhân và ngược lại” cho nên những
tên đồ tể cũng thường đảo ngược bậc thang các giá trị đạo đức. Họ trang điểm
khuôn mặt của mình bằng một lớp phấn đạo đức giả.
Tôi không ngạc nhiên chút nào khi nhìn thấy Putin trong
nhà thờ chính tòa Đấng Cứu Thế của Chính Thống Giáo ở Thủ đô Mạc Tư Khoa trong
ngày Lễ Phục Sinh 24 tháng Tư vừa qua. Nhưng không gì bỉ ổi bằng vừa tàn sát
người dân vô tội ở Ukraine lại vừa gởi đi một thông điệp Phục Sinh để đề cao “những
lý tưởng và giá trị đạo đức cũng như niềm tin vào sự sống, lòng thiện hảo và
công lý”. Riêng trong lời chúc mừng Phục Sinh dành cho Thượng phụ giáo chủ
Chính Thống Nga Kirill, Putin viết: “Trong những ngày nghỉ lễ Phục Sinh, tâm hồn
các tín hữu tràn ngập một niềm vui đặc biệt, một nỗi khao khát làm điều thiện
và giúp đỡ những người túng thiếu”. “Làm điều thiện” như Putin đang hiểu và thực
thi chính là giết người và giết người vô tội vạ!
Dường như Thượng phụ Kirill, người lúc nào cũng sát cánh
bên Putin cũng hiểu như thế về “lòng thiện hảo và công lý” cũng như thế nào là
“làm điều thiện”. Ông đã chúc lành cho các binh sĩ Nga trước khi họ lên đường
xâm lăng Ukraine. Trong sứ điệp Phục Sinh năm nay, ông cũng chỉ lập lại những
công thức sáo ngữ chứ không hề lên án hành động xâm lăng ngang ngược và tàn bạo
của Putin tại Ukraine.
Tựu trung, Putin đã dối trá và Kirill, lẽ ra là tiếng nói
của sự thật và lẽ phải rốt cục cũng phụ họa theo. Chỉ tội nghiệp cho người dân
Nga. Họ cũng chỉ biết hòa nhịp với dàn đồng ca ấy mà thôi. Trong những ngày đầu
khi Putin cho tiến quân xâm lăng Ukraine, đã có hàng chục ngàn người xuống đường
phản đối chiến tranh. Nhưng trong những tuần lễ gần đây, những cuộc biểu tình
như thế ngày càng trở nên hiếm hoi. Dĩ nhiên, dân chúng Nga có lý để sợ, bởi vì
Putin đã ra lệnh giam tù 15 năm những ai dám lên tiếng phản đối cuộc xâm lăng
Ukraine của hắn. Nhưng sự sợ hãi chỉ là một phần của câu chuyện. Thực tế cho thấy
rất đông người Nga đang đứng đàng sau lãnh tụ đồ tể của họ. Trước cuộc xâm
lăng, mức ủng hộ dành cho Putin chỉ có gần 70 phần trăm. Một tháng sau điều được
gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine, tỷ lệ ủng hộ dành cho hắn lên
đến 83 phần trăm. Cuộc chiến không chỉ diễn ra ở Ukraine, mà cũng xâu xé người
Nga không ít. Không thiếu người Nga hiện đang kết án và tố cáo bạn hữu, láng giềng,
đồng nghiệp và ngay cả người thân của mình nếu họ không ủng hộ cuộc chiếm xâm
lược của Putin. Trong một bài diễn văn, chính Putin đã khuyến khích và nuôi dưỡng
cuộc “nội chiến” ấy khi ca ngợi những người biết phân biệt ai là “những người
yêu nước thực sự và ai là những kẻ phản quốc”.
Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài khát máu như Nga hiện
nay, tỷ lệ ủng hộ 83 phần trăm dành cho Putin có thể chỉ nói lên một nửa sự thật.
Khi sự sợ hãi bao trùm cả nước thì những con số cũng phải rụt rè ít nói. Ai ủng
hộ, ai phản đối cuộc xâm lược, khó mà nhận diện một cách chính xác. Chỉ có một
điều chắc chắn mà người ta có thể khẳng định về tâm trạng hiện nay của người
dân Nga là: rất đông người Nga, nếu không muốn nói là đa số, hiện đang tỏ ra dửng
dưng và vô cảm trước những tội ác mà Putin đã và đang thực hiện tại Ukraine.
Nói tóm lại, như ký giả Shadi Hamid đã nhận định trong một bài viết được đăng
trên báo The Atlantic, “các chế độ độc tài vặn vẹo tâm hồn con người và bóp méo
các định chế luân lý tự nhiên. Làm như thế, họ khiến cho người công dân, hay
chính xác hơn những người dưới quyền họ, ít phải chịu trách nhiệm hơn về mặt đạo
đức. Để hoàn toàn chịu trách nhiệm về mặt đạo đức, con người phải được tự do để
chọn lựa giữa đúng và sai. Nhưng một sự chọn lựa như thế sẽ trở nên khó khăn
hơn nhiều trong một chế độ độc tài. Không phải ai cũng có thể can đảm và hy
sinh mạng sống và cuộc sống của mình để làm điều đúng “(2).
Những nhận định trên đây của ký giả Shadi Hamid về thế đứng
của người dân Nga trước cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine không thể
không đưa tôi trở về với quê hương Việt Nam, nhứt là trong những ngày cuối
tháng Tư hằng năm. Cuộc chiến tranh giữa Miền Nam tự do và Miền Bắc cộng sản
thiết yếu là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Giữa thập niên 1950, vừa bước
vào tuổi khôn, không cần phải được tuyên truyền, thực tế của những vụ ám sát đã
mang đến cho một đứa trẻ như tôi niềm xác tín sâu xa rằng cộng sản là những người
“nói dối như Vẹm”. Rồi khi cộng quân đã
công khai xuất đầu lộ diện tại Miền Nam tôi lại càng thấy rõ hơn bộ mặt dối trá
của người cộng sản. Cuộc chiến mà các
lãnh tụ cộng sản gọi là “thần thánh” dưới chiêu bài “giải phóng” Miền Nam mà thực
chất là một cuộc xâm lược. Bao nhiêu người dân Miền Bắc đã bị lừa vì hai chữ
“giải phóng”. Một “bộ đội” Dương Thu Hương đã ngồi bệt xuống vệ đường giữa Sài
Gòn trong ngày “giải phóng” để ôm mặt khóc khi biết mình bị lừa. Chính ngày Miền
Nam được “giải phóng”, một nghệ sĩ Ái Vân đã hăm hở mang theo 2 cân gạo để tặng
cho bà con ở Sài Gòn, vì người dân Miền Nam phải đói khổ trong hàng bao nhiêu
năm trời dưới sự đô hộ của Mỹ.
Cùng với ý thức hệ cộng sản mà “bên thắng cuộc” đã áp đặt
lên Miền Nam, mặc dù chính họ cũng chẳng hiểu và cũng chẳng tin, họ cũng bao
trùm lên cả nước sự dối trá. Những kẻ thống trị dối trá. Người bị trị cũng phải
dối trá. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người sau khi ra tù đã viết quyển tiểu thuyết tự
thuật nổi tiếng “Chuyện kể năm 2000”, đã lột tả triết lý sống rất sinh động của
người Việt Nam trong chế độ cộng sản hiện nay: “muốn tồn tại và vinh thăng trong cái xã hội ấy thì phải biết vờ, vờ
nói, vờ nghe, nghĩa là khi nói, biết mình nói dối nhưng vẫn phải vờ nói dối một
cách thành thật, khi nghe, biết mình không muốn nghe những vẫn phải vờ nghe một
cách thành khẩn”(3).
Tôi chỉ sống trong chế độ dối trá ấy hơn 5 năm. Mặc dù đã
chuẩn bị tinh thần để sống trong chế độ ấy, tâm hồn tôi cũng đã bị vặn vẹo,
nhân cách của tôi cũng bị thui chột. Tôi cũng đã chạy theo “dòng chảy” người ta
sao tôi vậy, nghĩa là cũng “vờ” để sống. Thoát khỏi chế độ dối trá ấy là để sống
tự do. Và tự do luôn đi với trách nhiệm. Trách nhiệm mà tôi cho là quan trọng
và ý nghĩa nhứt đối với một người tỵ nạn như tôi là phải cố gắng thật. Người ta
có thể thoát khỏi một chế độ độc tài dối trá mà vẫn mang theo sự dối trá như một
thứ “bửu bối”. Tôi nghĩ đến không ít những người đồng bào ruột thịt của tôi, những
người đã trốn khỏi chế độ cộng sản dối trá, nhưng lại sùng bái những lãnh tụ dối
trá.
Dối trá là một bản năng tự nhiên của mọi sinh vật. Các
chuyên gia tâm lý và các nhà sinh vật học theo thuyết tiến hóa cho rằng lừa dối
đã được khắc ghi trong bản chất của mọi sinh vật. Để sinh tồn, cây cỏ biến dạng để trông giống côn trùng và côn trùng cũng biết biến dạng
để trông giống cây cỏ. Thú vật cũng biết dùng đủ mọi “thủ đoạn” để thu hút “bạn
tình” hay đánh lừa kẻ thù. Dù có tiến hóa đến đâu, con người vẫn còn duy trì
cái bản năng dối trá ấy. Nếu chúng ta không nói dối liên tục thì chắc chắn
chúng ta cũng thường xuyên nói dối. Một cuộc nghiên cứu cho biết: cứ trong một
cuộc trò chuyện kéo dài 10 phút, chúng ta nói dối 3 lần và ngay cả nhiều hơn nữa
khi chúng ta sử dụng email hay gởi lời nhắn qua các phương tiện truyền thông hiện
đại (4). Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo đã khẳng định: “Mọi người đều dối
trá” (Thánh Vịnh 116, 11). Nhưng cũng chỉ có con người mới ý thức được bản năng
dối trá của mình và biết rằng họ chỉ có thể trưởng thành nhờ cố gắng sống thật.
Sống lúc nào cũng là một cuộc chiến đấu giữa sự thật và dối trá. Cũng như cậu
bé người gỗ Pinocchio của nhà văn Ý Carlo Collodi (1826-1890), con người sẽ
không bao giờ là một con người có nhân cách nếu lấy dối trá làm lẽ sống.
Chu Văn
1.Lê Thanh Nhàn, thủ phạm và nạn nhân, sự lật lọng, báo
Tiếng Dân 17-4-2022
2.Shadi Hamid, Why the Russian people go along with
Putin’s war, The Atlantic 23/ 04/2022
3.Nguyễn Giụ Hùng, Vờ, Việt Báo 25/04/2022
4.Dallas G. Denery II, The Devil Wins, Princeton
University Press, 2015, trg 4.







