Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

Đời Sống Bắt Đầu ở Tuổi Đi Hưu


 Thi Văn

Tôi bắt đầu tập “đi hưu" cách đây vài tháng. Nói là tập vì tôi vẫn còn làm vài tiếng một tuần. Trái ngược với những gì tôi tưởng tượng, tôi bận rộn hơn trước. Cái bận rộn bây giờ cũng có những tên gọi như trước đây nhưng thứ tự thì có khác. 

Trước đây tôi bận chăm sóc bệnh nhân, bận lo lắng, bận xài tiền, bận ăn uống, bận ngủ nghỉ, bận thương yêu người thân, bận thăm hỏi bạn bè, bận lên mạng, bận chơi. Sở dĩ tôi dùng chữ “bận" cho những sinh hoạt bình thường như tất cả mọi con người bình thường trong thời đại này là vì tôi phải tính toán giờ nào, ngày nào cho việc nào, người nào. Tôi chạy theo giờ giấc, dù chơi hay làm việc, như ma đuổi. Rất nhiều khi tôi thấy ngày đi làm thoải mái hơn ngày nghỉ. Và tôi thường mong đến ngày được đi hưu để khỏi phải bận rộn.

Đi hưu hay về hưu chắc chắn không phải ai cũng trông chờ và sẵn sàng đón nhận. Với người chờ đợi như khởi đầu một hành trình mới thì là "đi hưu". Nhưng với những người không muốn thì là "về hưu". Ở nhóm này, dù lớn tuổi, đau bịnh, họ vẫn muốn đi làm vì nhiều lý do. Chung quy là: vừa có đời sống xã hội, vừa có thêm tiền. Về hưu, thấy trống rỗng, cả hai.

Với tôi, tôi chọn“đi hưu". 

Sau vài tháng đi hưu tôi thấy mình đang hăng hái “lao” vào một hành trình mới, rất mới dù cho có vẻ như bình mới rượu cũ. Thật vậy, ngoại trừ không còn làm việc nhiều giờ, tôi vẫn làm tất cả mọi công việc mà trước đây tôi đã làm. Nhưng tôi làm với tất cả thích thú và thoải mái. Tôi quan sát mọi sự chung quanh mình như một khách du lịch. Cũng nghỉ ngơi, cũng đi chơi, cũng làm vườn, cũng nấu ăn, cũng xài tiền, cũng gặp gỡ, cũng chăm sóc bệnh nhân, nhưng không có áp lực. Chỉ có yêu thương và hạnh phúc. 

Thế nhưng, dù được bảo đảm về mọi mặt, trên cái bề mặt "đi hưu" vui vẻ đó đang trồi lên rất nhiều thứ. Những mơ ước chưa bắt đầu, những hối tiếc vì những điều lẽ ra phải làm từ lâu, những điều chưa lên tiếng, những việc dang dở bị xếp xó…đang quay về. Trong những thứ "chưa" đó, khắc khoải về những gì chưa góp phần vun bồi những thế hệ tương lai là điều chất vấn tôi nhiều nhất. Với cái "nghiệp" làm người Việt Nam, tôi vẫn còn một đất nước Việt Nam, và nhiều thế hệ Việt Nam. Với tôi, Việt Nam vẫn còn nhiều cái "chưa". Giống như tôi vậy. 

Có ai đó đã nói rằng, những mảnh đất đắt nhất thế giới là những mảnh đất trong nghĩa trang. Nơi đó, người ta không chỉ chôn thân xác của ai đó mà còn chôn theo luôn bao ước mơ hoài bão, bao phát minh chưa thành tựu, bao tác phẩm nghệ thuật không bao giờ chào đời, bao dự án lớn nhỏ, bao lời khôn ngoan chưa được phổ biến, bao lời yêu thương chưa kịp trao lại, bao ngày tháng hạnh phúc lẽ ra phải được hưởng khi còn sống, bao hối tiếc ân hận…Quan tài nặng vì những cái "chưa", không phải vì cái xác.

Tôi mừng vì tôi còn chút sức khỏe để giải quyết những cái "chưa" của tôi. Được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Những dòng chữ  này đến các bạn cũng là một cách tôi đang "thanh toán" những cái "chưa" tồn đọng trong tôi, một người Việt Nam lưu vong. 

Bạn ơi, tôi không cần đất ở nghĩa trang, nhưng tôi cũng không muốn tro tàn của mình bị phủ trong "hối hận".

Thi Văn



 


Thứ Bảy, 11 tháng 6, 2022

“Mắt hai người đã mở ra và họ thấy mình trần truồng”

 




Chu Văn

Một buổi chiều tối cách đây không lâu, chính xác là một ngày trước khi xảy ra vụ thảm sát dã man tại Uvalde,Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, trong khi người thân đang mua sắm trong một tiệm thực phẩm Á Châu tại Springvale, một khu ngoại ô có đông người Việt sinh sống tại thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi, tôi đứng ngắm các chậu kiểng được trưng bày trước cửa tiệm. Thình lình từ phía sau có người xô tôi bằng một cú hích mạnh đến nỗi suýt làm tôi chúi ngã tới phía trước. Quay lại, tôi thấy một bóng đen to lớn. Kịp định thần tôi đứng lên bỏ chạy. Vốn là gà chết nhát cho nên mỗi khi bị tấn công tôi thường “giở ngón” “tẩu vi thượng sách”. “Hung thủ” vẫn không chịu bỏ cuộc. Hắn cầm cả một chậu hoa ném vào người tôi. Tôi né kịp và chạy thẳng vào bên trong cửa tiệm để cầu cứu. Một vài thanh niên chạy ra tiếp cứu. “Hung thủ” bỏ đi và từ từ biến mất trong bóng đêm. Những người thanh niên nhìn theo và trấn an tôi: “Hắn là một tên khùng”. Tôi thở phào nhẹ nhõm: may mà mình đang sống ở Úc, là nơi súng đạn được kiểm soát rất nghiêm nhặt.

Thời nào và ở đâu cũng có người khùng hay điên loạn mà ngày nay người ta thường gọi chung là những người mắc bệnh tâm thần. Cách đây gần 60 năm, một thảm kịch vô cùng đau thương đã xảy ra trong cái xóm giáo nhỏ của tôi ở miền Trung Việt Nam. Chấn thương vẫn còn âm ỉ trong tâm trí tôi. Vào một buổi trưa hè nóng bức, một người đàn ông ngoài 30 tuổi, sau khi  đâm chết cha mình, đã lôi ông ra trước cửa nhà và cắt lưỡi ông, rồi sau đó cầm dao chạy thẳng lên nhà thờ của giáo xứ và chém xối xả vào người vị linh mục quản xứ. May nhờ có người can thiệp đúng lúc cho nên vị linh mục chỉ bị thương nhẹ. Được biết hung thủ là một người đàn ông bình thường, có vợ 2 con. Do đi lính trong quân đội Pháp, ông bị thương và một mảnh đạn còn ghim trong đầu. Những ngày nắng nóng ông thường lên cơn “điên”. Được đưa vào nhà thương Chợ Quán chữa trị một thời gian, ông được chuẩn đoán đã bình phục và được cho về nhà. Nhưng không ngờ, vết thương trong đầu vẫn còn đó và một cơn điên đã khiến ông làm điều mà chỉ có những người “mất trí” mới dám làm. Sau thảm kịch đó, “người điên” đã được đưa trở lại nhà thương điên và sống những ngày còn lại ở đó.

Trước năm 1975, hầu hết những người điên đều được đưa vào nhà thương điên. Sau năm 1975, không biết có phải do thời thế không, người điên không biết từ đâu mà “chạy đầy đường”. Riêng ở khu Chợ Đầm của thành phố Nha Trang của tôi, có những cảnh thương tâm đến độ tôi không dám bén mảng tới: có những thiếu phụ không một mảnh áo che thân đi lại giữa phố chợ mà không chút mảy may biết xấu hổ! Kỳ thực, đã điên rồi thì làm gì còn biết xấu hổ! Và dĩ nhiên cũng chẳng ai lên án hay trách móc người điên vì bất cứ hành động hay cách cư xử nào của họ. Có chăng là sự đau xót và cảm thông mà thôi!

Cảm thông với người điên vì họ không còn biết xấu hổ, nhưng liệu có thể cảm thông với những kẻ, tuy không điên, nhưng không còn khả năng biết thế nào là xấu hổ không? Tôi tự đặt ra cho mình câu hỏi ấy khi nghĩ đến đồ tể Vladimir Putin.

Mới đây, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã làm dấy lên nhiều tranh cãi khi ông kêu gọi Hoa Kỳ và các nước Tây Phương đang ủng hộ Ukraine, không nên làm “sỉ nhục” nước Nga trong lúc này. Kể từ khi nắm trọn trong tay mọi quyền sinh sát tại Nga từ hơn 20 năm nay, có lẽ Putin cũng ngầm tuyên bố như vua Louis XIV (1636-1715) của Pháp “Nhà nước, quốc gia là ta” (L’Etat, c’est moi); Nước Nga là Ta, Putin.  Làm “sỉ nhục nước Nga” là “làm sỉ nhục Ta”. Khi kêu gọi đừng làm “sỉ nhục” nước Nga, hẳn đương kim tổng thống Pháp cũng muốn hiểu là không nên làm “sỉ nhục” chính Putin, vì làm như thế Putin sẽ “nổi giận” và tàn ác hơn trong cuộc chiến xâm lược Ukraine cũng như sẽ có những hành động không lường trước được với cả thế giới.

Thật ra, từ lúc hiện nguyên hình là một nhà độc tài khát máu tại Nga, Putin đã không còn để lộ bất cứ một dấu chỉ nào cho thấy hắn còn biết thế nào là xấu hổ. Đã biết xấu hổ thì hẳn bước vào Thế kỷ 21 này, Putin đã chẳng tấu hài với màn kịch hết thủ tướng rồi tổng thống, hết tổng thống rồi thủ tướng và nay độc diễn tổng thống cho đến mãn đời và nhứt là hiện đang xem mình như một Phêrô đại đế (1682-1725)! Đã còn biết xấu hổ thì Putin đã chẳng ra lệnh sử dụng khí độc để thủ tiêu bất cứ đối thủ chính trị hay bất cứ ai dám lên tiếng chỉ trích mình. Còn nếu nhìn vào tội ác mà Putin đã và đang làm tại Ukraine thì quả thật trong con người Putin, “giây thần kinh xấu hổ” đã hoàn toàn bị đứt rồi! Một khi nơi một người mà “giây thần kinh xấu hổ” đã đứt rồi thì “đừng làm sỉ nhục” người đó là điều hoàn toàn vô nghĩa.

“Đứt giây thần kinh xấu hổ” là cụm từ thời thượng mà tôi đã học được từ trong nước mỗi khi nói về đủ thứ thói kệch cỡm của chế độ độc tài tại Việt Nam. Tôi không biết mình có “cường điệu” không khi nói thậm xưng rằng đã là cộng sản thì đương nhiên phải “đứt giây thần kinh xấu hổ”! Ông chủ tịch hay thủ tướng nào ra nước ngoài cũng “ló” cái ngu, cái dốt của mình ra làm trò cười cho thiên hạ mà chẳng bao giờ biết xấu hổ. Nói gì đến chuyện tiến sĩ “chạy đầy đường”! Ông bà “quan chức” nào cũng muốn gắn vào sau lưng mình cái đuôi “tiến sĩ” nhưng lại không che dấu được sự ngu dốt của mình mà không hề biết xấu hổ. Còn chuyện chống tham những thì quả thật nếu không “đứt giây thần kinh xấu hổ” thì có lẽ, đã là lãnh tụ tối cao của một chế độ độc tài, ông Nguyễn Phú Trọng đã không muối mặt để “đốt lò” thiêu sống các thuộc hạ của mình nữa. Bởi lẽ độc tài đẻ ra tham nhũng hay đúng hơn tự nó độc tài cũng là “tham nhũng”. “Tham nhũng” đâu chỉ là “tham nhũng” về tiền bạc hay đất đai. “Tham nhũng” thiết yếu là tham nhũng về quyền lực. Về điểm này, ai hơn Nguyễn Phú Trọng! Đã là tham nhũng mà còn hô hào chống tham nhũng thì chỉ có những cái đầu “đứt giây thần kinh xấu hổ” mới có đủ trơ trẽn để làm mà thôi!

Từ một Putin “đứt giây thần kinh xấu hổ” và từ một chế độ cộng sản Việt Nam cũng “đứt giây thần kinh xấu hổ” nhìn sang Hoa Kỳ, tôi thấy hiện tượng này xem ra lại càng khủng khiếp hơn. Ở Nga có lẽ chỉ có một Putin hay một thượng phụ giáo chủ Kirill không còn biết xấu hổ và một số đông, do bị cưỡng bách và sợ hãi, cũng đã cắt đứt giây thần kinh xấu hổ. Ở Việt Nam chế độ độc tài đã tự giải phẫu để làm tê liệt giây thần kinh xấu hổ của cấp lãnh đạo. Đó là điều tất yếu trong bất cứ một chế độ độc tài nào. Nhưng nay, khi nhìn vào nước Mỹ, nhứt là với những vụ bắn giết xảy ra thường xuyên đến nỗi bộ nhớ của tôi hầu như quá tải để có thể thu giữ được con số người bị giết vì súng đạn. Máu chảy ruột mềm. Dù máu chảy ở đâu, đã là một phần bất khả phân ly của nhân loại, tôi không thể không cảm thấy quặn đau khi có một người vô tội bị sát hại. Nếu tôi là một người Mỹ tôi không thể không cảm thấy xấu hổ vì những vụ bắn giết xảy ra như cơm bữa và nhứt là vì nhiều người vẫn khăng khăng với luận điệu: súng không giết người, chỉ có người mới giết người do đó có súng là một quyền thiêng liêng, tuyệt đối!

Kết quả của một số cuộc thăm dò mới đây cho thấy mặc dù đa số dân Mỹ muốn có luật kiểm soát súng đạn, nhưng cũng cái đám đông ấy vẫn bám vào tu chính án thứ hai để đòi hỏi phải tuyệt đối được  quyền mang súng (1). Và để bảo vệ quyền được mang súng ấy, các ông bà nghị, do “đứt giây thần kinh xấu hổ”, đã đưa ra những luận cứ ngớ ngẩn không thể tưởng tượng được. Một ông dân biểu đại diện cho Tiểu bang Missouri “đưa ra một lý thuyết  đặc biệt: Bắn giết nhiều không phải vì nhiều súng quá mà vì các vụ phá thai”. Các phụ nữ phá thai phải mang tiếng oan, bởi vì “trong số các thủ phạm bắn chết người, không có các bà các cô đã phá thai”.

Một ông nghị khác, hiện đang muốn ứng cử nghị sĩ Tiểu bang Alabama, thì cho rằng “các vụ bắn chết người gia tăng bây giờ là vì số các bà mẹ nuôi con một mình tăng lên”. Ông nói rằng “các đứa trẻ này lớn lên thường sống nhờ tiền trợ cấp xã hội, học hành thua kém, hay ghiền ma túy và tội phạm” (Tân thủ tướng Úc của tôi, ông Anthony Albanese hẳn sẽ phiền lòng lắm vì ông đã lớn lên trong gia đình của một bà mẹ đơn chiếc!). Ông nghị này quả không biết xấu hổ khi cố tình quên rằng  người thanh niên Payton Gendron, kẻ đã giết 10 người da đen mới đây tại một siêu thị ở Buffalo, Tiểu bang New York, đã từng “sống với cha mẹ, trong một ngôi nhà ba tầng, có hồ bơi, thuộc khu ngoại ô Binghamton toàn người da trắng khá giả, bố mẹ làm kỹ sư”. Ông nghị này cũng đã cố tình quên rằng người thanh niên 21 tuổi bắn chết 23 người tại El Paso, Texas hồi năm 2019 đã lớn lên trong một gia đình nề nếp, được cha mẹ “dạy con phải nhân từ, bao dung, kính trọng mọi người, không được hận thù, ký thị, bạo động”. Ông nghị này cũng cố tình quên rằng người đàn ông 64 tuổi đã giết 60 người tại Las Vegas hồi năm 2017 đã từng lớn lên trong một gia đình toàn vẹn (2).

Luận điệu bảo vệ tính tuyệt đối của quyền được mang súng mà rất nhiều ông bà nghị đưa ra và cũng được rất nhiều người Mỹ tán thành làm tôi cảm thấy đau thắt ruột mỗi khi nghĩ đến các nạn nhân bị thảm sát một cách vô tội vạ, nhứt là các học sinh trong các trường tiểu học. Rồi đây, ngay cả khi tôi đang ngồi viết những dòng này, chính cái luận điệu đặt quyền mang súng lên trên mạng sống con người, vô số kể những vụ bắn giết cũng sẽ tiếp tục xảy ra. Cái xã hội văn minh và giàu mạnh này vẫn cứ vô tâm và không biết xấu hổ. Người ta vẫn cứ tiếp tục nhảy cái vũ điệu ma quái trên xác người. Tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi các vũ điệu ấy nơi một người đã không biết ngượng miệng và xấu hổ khi tuyên bố lúc ra tranh cử tổng thống rằng: “Tôi có thể đứng giữa đại lộ số 5 (ở New York) và bắn ai đó mà không mất một phiếu bầu nào”. Quả thật, đã có 72 triệu người Mỹ bỏ phiếu ủng hộ ông trong cuộc bầu cử năm 2020, mặc cho ông có dối trá như cuội, mặc cho ông ngu ngốc đến cỡ nào, mặc cho ông có khinh thường luật pháp và hiến pháp đến đâu, mặc cho ông có chà đạp các chuẩn mực đạo đức đến cỡ  nào. Bỉ ổi nhứt hẳn phải là vũ điệu ấy lại được lập tại đại hội của Hội Súng Trường (NRA) tại Houston chỉ 3 ngày sau vụ thảm sát tại Uvalde. Trong bài diễn văn của mình, ông đọc tên 21 nạn nhân của vụ thảm sát để rồi, không chút ngượng ngùng và xấu hổ, ông kết thúc bài diễn văn với vũ điệu ma quái ấy (3). Nhìn ông nhảy múa, tôi nghĩ bụng: hết thuộc chữa!

Quả thật, khi con người không còn biết xấu hổ, họ tự hạ mình xuống hàng súc vật, bởi vì súc vật không biết xấu hổ (Nói vậy kể ra cũng có lỗi với súc vật, vì con chó của tôi vẫn biết tỏ ra xấu hổ khi bị tôi quở trách). Là “con nhà có đạo”, nhưng có lúc tôi đọc Kinh Thánh theo “lề trái”. Như câu chuyện “sa ngã” của ông bà nguyên tổ được ghi lại trong sách Sáng Thế Ký chẳng hạn, tôi không cho đó là một sự sa ngã, mà là một sự vươn lên. Thật vậy, sau khi ăn trái cấm, “mắt hai ông bà đã mở ra và họ thấy mình trần truồng”. Biết mình trần truồng, tức biết xấu hổ, là biết phân biệt đúng sai và thiện ác. Biết xấu hổ là ý thức mình là người và còn muốn lớn lên trong nhân cách.

Chu Văn

 

 

Chú thích

1.Rani Molla, Polling is clear: Americans want gun control, Vox Jun 1,2022

2.Ngô Nhân Dụng, Tại sao nhiều người Mỹ chết vì súng, Đài Voa 06/06/2022

3.Thomas Kika, Trump draws ire for dancing at NRA Convention after Texas shooting, Newsweek 5/28/22


Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2022

"4689" Yêu & Tự do Dân chủ




 Thi Văn

Có một "ngày này năm xưa" mà tôi luôn bị khắc khoải mỗi khi ngày ấy trở về: ngày 4 tháng Sáu 1989. Ngày mà phong trào đấu tranh của sinh viên và người dân Trung quốc xuống đường đòi nới lỏng tự do ngôn luận, tự do hóa chính trị và kinh tế, ở Quảng trường Thiên An Môn, bị nghiền nát. Hình ảnh của những sinh viên Trung quốc bị chính quyền đàn áp, bị những chiếc xe tăng lao vào và càn quét vẫn còn đẫm máu trong trí nhớ của tôi. Nhất là hình ảnh người đàn ông đối đầu với một đoàn xe tăng, anh ta đã bị bắt, bị đánh đập và biến mất. Tôi không thể quên. Dù đã 33 năm. Dù rất nhiều người trong số họ đã chết. Dù rất nhiều người sống sót phải trải qua lao tù và vượt thoát. Dù chính quyền Trung quốc luôn tìm cách chối bỏ và xóa đi những gì còn sót lại (*). Với tôi, tất cả ngày càng rõ hơn, đậm hơn và khiến tôi phải tự vấn mình nhiều hơn.

Có những lý do khiến sự kiện này ám ảnh và theo tôi mãi. Thứ nhất, tôi là một người tỵ nạn cộng sản. Tôi đã từng "được" giáo dục dưới chế độ cộng sản và tôi hiểu được họ phải can đảm như thế nào khi dám đứng lên để đòi hỏi những quyền chính đáng của mỗi một con người trong một đất nước từng có một cuộc Cách Mạng Văn Hóa tàn khốc. Một lý do khác trùng hợp hơn: lúc đó tôi sắp sinh con. Một đứa con trai mà rồi nó sẽ lớn lên như những sinh viên này. Con tôi bao nhiêu tuổi thì biến cố này sẽ đi vào lịch sử bấy nhiêu năm. Rất nhiều lần nhìn con, tôi nhớ đến người thanh niên đơn độc ngày nào. Chỉ vì được sinh ra ở một nước tự do, con tôi chưa từng phải trả bất cứ giá nào để có được những cái quyền mà những người sinh viên Thiên An Môn tranh đấu bằng máu mà không được. 

Con tôi chưa từng phải trả giá vì tôi đã phải trả giá bằng một cuộc vượt biển nguy hiểm. Sống trong một thể chế tự do dân chủ và hưởng những quyền làm người như con tôi cũng giống như hưởng một tình yêu. Bạn không thể tả mà chỉ có thể cảm. Từ ngữ không đủ sức để diễn tả yêu như thế nào ngoại trừ bạn đang yêu. Cũng vậy, từ ngữ cũng không thể nào nói lên được cuộc sống với tất cả sự an toàn, hạnh phúc và có chủ quyền như thế nào. Nhiều người trẻ từ trong nước sang Úc học hay làm việc thường nói với tôi rằng, Việt nam bây giờ không thiếu gì cả. Tôi cười. Có bạn còn nói với tôi rằng Việt Nam bây giờ tự do hơn ở Úc. Tôi cũng cười. Và tôi hiểu tôi muốn điều gì cho đất nước tôi, cho dân tộc tôi. Như một người được nếm thế nào là tự do dân chủ và tự chủ, tôi cũng muốn một ngày nào đó, những người cùng một Mẹ Việt Nam cũng được như vậy. Chỉ có nếm trải thì chúng ta mới hiểu sự vô giá của tự do dân chủ. 

"Việt nam bây giờ không thiếu gì cả!" Có chứ, thiếu chủ quyền!

"Việt Nam bây giờ được tự do hơn ở Úc!" Hãy thành thật với chính mình, đó có phải là tự do đích thực hay không?

Tôi hiểu tại sao những sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn năm nào đã bất chấp tất cả. Họ yêu mến dân tộc họ và muốn cho mọi người được hưởng được tự do dân chủ.

Tự do dân chủ rất giống tình yêu ở chỗ: có thì không muốn mất mà mất thì tiếc không chịu được.

Thế nhưng, tình yêu và tự do dân chủ không tự dưng mà có. Cả hai đều cần sự nỗ lực "hết linh hồn, hết trí khôn" để tồn tại.

Vì vậy, với tinh thần Thiên An Môn, chỉ cần tôi có thể giúp cho chỉ một ai đó nếm được hương vị tự do dân chủ, tôi cũng mãn nguyện.

Tôi đã sẵn sàng. Bạn thì sao?

Thi Văn


(*)  https://www.luatkhoa.org/2019/06/30-buc-anh-ve-tham-sat-thien-an-mon-trung-quoc-muon-xoa-khoi-lich-su/



Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2022

Sói không đơn độc

 


Chu Văn

 

Tôi chưa hề “chống Mỹ cứu nước”. Còn chuyện Mỹ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa và bán đứng cho cộng sản thì cũng đã là “lịch sử”. “Hận” cách mấy rồi cũng nguôi ngoai. Nhưng nay, cứ mỗi lần nhìn vào “chuyện thường ngày ở huyện” tại Mỹ, tôi lại thấy “ghét” cái nước “vĩ đại” này quá chừng! Tĩnh từ đầu tiên xuất hiện trong trí tôi mỗi khi nghĩ đến đất nước này luôn là hai chữ “quái đản”. Là “giấc mơ” của cả thế giới, giàu mạnh nhứt thế giới, văn minh nhứt thế giới, có đội ngũ khoa học gia và chuyên gia y tế tài ba nhứt thế giới, có thừa mứa thuốc chủng ngừa Covid nhứt thế giới...vậy mà với hơn 1 triệu người chết vì dịch bệnh này, Mỹ cũng nhứt luôn! Thay vì chung sức, chung lòng để chống lại dịch bệnh, cứ ngồi đó mà gấu ó nhau vì chuyện mang khẩu trang hay không mang khẩu trang, giãn cách hay không giãn cách, chích ngừa hay không chích ngừa. Không quái đản là gì! Quái đản hơn  nữa là chuyện bắn giết người hàng loạt xảy ra như cơm bữa! Tôi không ngạc nhiên chút nào khi xảy ra vụ thảm sát tại một siêu thị ở Thành phố Buffalo, Tiểu bang New York hôm thứ Bảy 14 tháng Năm vừa qua. Tôi tin chắc như đinh đóng cột rằng rồi ra những thảm kịch như thế sẽ tiếp tục diễn ra. Nước Mỹ không chỉ “lạnh lùng” như người chuyên viết tạp ghi Huy Phương đã ghi nhận, nước Mỹ vô tâm và tàn nhẫn! Người ta cứ nhân danh một thứ quyền “thiêng liêng”, “thần thánh”, “bất khả di nhượng”...được hiến định trong tu chính án số hai là quyền được tự do mang súng để muốn bắn ai thì bắn và xem ra chẳng mảy may xúc động trước cảnh người bắn giết người một cách vô tội vạ. Kịch bản nhàm chán cứ tiếp tục được viết lại: sau thảm kịch, hoa được mang đến hiện trường, những lời “tưởng nhớ và cầu nguyện” được gởi đến với câu thần chú “Xin Thượng Đế chúc lành cho nước Mỹ” (God bless America). Sau đó, ai nấy rút lui vào cứ địa an toàn của mình. Mọi thứ tội lỗi đều được trút lên đầu con “sói đơn độc” (lone wolf) và xã hội lại được xá giải! Rồi đâu lại vào đó! Bởi lẽ, như ký giả Sam Levin đã viết trên báo The Guardian, “cuộc tàn sát tại Buffalo là một phần của truyền thống Mỹ: “Chúng ta sẽ tiếp tục thấy những vụ bắn giết như thế”(1). Đúng là một “truyền thống” quái đản!

Có thật sự người thanh niên da trắng 18 tuổi tên là Payton Gendron là một con “sói đơn độc” khi lái xe 3 tiếng rưỡi đồng hồ từ New York đến Buffalo để bắn hạ 10 người mà hầu hết là người gốc Phi Châu không? Trong một bài phân tách được đăng trên báo The Atlantic số ra ngày 15 tháng Năm vừa qua, tác giả Juliette Kayyem cho rằng ngay cả khi một kẻ giết người hàng loạt như người thanh niên Gendron có hành động riêng rẽ một mình đi nữa, ý thức hệ, tức tư tưởng, chủ trương kỳ thị chủng tộc và nhứt là sự thù hận của cậu ta cũng đã được rất nhiều người chia sẻ, nâng đỡ, khuyến khích và cổ võ (2).

Theo tác giả Kayyem, chó sói không phải là một loài thú đặc biệt. Chó sói không to lớn, mạnh bạo bằng sư tử hay cọp beo. Trong thế giới loài vật, chó sói không “thông minh” và cũng chẳng có nanh vuốt bén nhạy biến chúng thành một loài thú săn mồi nguy hiểm và đáng sợ nhứt. Sở dĩ chó sói thành công hơn nhiều loài thú săn mồi khác là bởi chúng luôn biết hợp tác với nhau. Khi một con mồi đã được định vị, bày sói thường tẻ ra nhiều góc rồi mới bắt đầu tấn công: con đánh phía sau, con phục kích phía trước!  “Chiến thuật” này cho thấy sói không hành động riêng lẻ, đơn độc một mình. Trong thế giới loài vật, một con sói đơn độc không đủ sức mạnh để hành động một mình. Một con sói đơn độc không đáng sợ. Một con sói  đơn độc không có khả năng để tàn sát một lúc nhiều con thú khác.

Gendron, hung thủ đi săn mồi tại một siêu thị ở Buffalo có phải là một con “sói đơn độc” không? Trong trường hợp này, dường như Gendron không hề có bất cứ một người đồng lõa nào. Cậu ta chỉ hành động một mình. Căn cứ trên bản “tuyên ngôn” được chính hung thủ cho phát tán trên các trang mạng xã hội, hành động giết người hàng loạt của cậu ta quả là một cuộc tàn sát vì kỳ thị chủng tộc. Cảnh sát New York đã tuyên bố đây là một “tội ác vì động lực hận thù chủng tộc”. Theo tác giả Kayyem, thông thường khi suy nghĩ, viết và truy tố những tội ác như thế tại Mỹ, người ta thường chỉ tập trung vào câu hỏi: hung thủ có hành động như một con “sói đơn độc” không. Hành động của cậu ta hoàn toàn khác với những hành động khủng bố của những nhóm khủng bố Hồi giáo như ISIS (Nhà nước Hồi giáo) chẳng hạn. Dù chỉ có một kẻ ôm bom tự sát để sát hại nhiều người, hành động này vẫn được nhiều người tham gia lên kế hoạch.

Như vậy, Gendron có phải là một con “sói đơn độc” không? Qua bản “tuyên ngôn” được chính cậu ta cho công bố trên các trang mạng hai ngày trước khi ra tay hành động, cậu ta cho biết mình không hành động một mình, mà có cả một khối người minh nhiên hay mặc nhiên  đồng tình, đứng sau lưng để trực tiếp hay gián tiếp yểm trợ cho cậu. Sự kiện Gendron tự quay phim cảnh giết người và phát tán lên mạng như một phóng sự được trực tiếp truyền hình cho thấy có cả một cộng đồng “mạng” đang chờ đợi để xem cuộc bắn giết như thưởng thức một cuốn phim truyền hình thực tế.

Nếu Gendron không phải là một con “sói đơn độc” trong vụ tàn sát hàng loạt tại Buffalo thì đồng lõa và sau lưng cậu là ai? Trước hết phải nói đến nền văn hóa súng đạn tại Hoa Kỳ. Có lẽ chẳng có nơi nào trên thế giới tỷ lệ sở hữu súng và nhứt là súng giết người hàng loạt tính theo đầu người cao như ở Mỹ. Và dĩ nhiên cũng đã rõ như ban ngày là con số người chết vì súng đạn tại Mỹ cao hơn bất cứ nước nào trên thế giới. Giải pháp cho “đại dịch súng đạn” mà lẽ thường (common sense) ở đâu cũng đòi hỏi phải có là bằng mọi giá phải kiểm soát súng đạn. Cuối tháng Tư năm 1996, một người thanh niên mắc bệnh tâm thần đã xả súng bắn chết 35 người và làm bị thương 23 người tại Port Arthur, Tiểu bang Tasmania, Úc Đại Lợi. Liền sau đó, Chính phủ Úc đã thông qua luật kiểm soát súng đạn một cách rất chặt chẽ. Chính phủ Úc đã mua lại 643.000 khẩu súng. Từ đó đến nay, chẳng ai nhắc đến Úc như một nơi mà người dân phải chết một cách oan uổng vì súng đạn nữa. Tại Na Uy, tháng Bảy năm 2011, một người thanh niên tên là Anders Breivik đã dùng bom và súng để thực hiện 2 cuộc tấn công tại Oslo và sát hại tổng cộng 77 người. Một tòa án tại Oslo đã đưa ra phán quyết rằng hung thủ là một người bình thường, nhưng có khuynh hướng chính trị cực đoan. Breivik bị kết án 21 năm tù. Liền sau cuộc thảm sát, Na Uy cũng đã thông qua luật kiểm soát súng rất gắt gao. Luật vẫn cho phép người dân được sở hữu súng. Nhưng súng chỉ được sử dụng mỗi năm một tuần lễ để đi  săn mà thôi...Suốt năm, súng bị “khóa lại” và giữ trong kho! Cảnh sát ở Na Uy cũng chẳng cần phải mang súng. Kể từ sau cuộc thảm sát hồi năm 2011, đã không hề xảy ra bất cứ một cuộc bắn giết nào nữa.

Tại Tân Tây Lan, dạo tháng Sáu năm 2019, một thanh niên theo chủ nghĩa da trắng thượng đẳng người Úc tên là Brenton Tarrant đã xông vào hai đền thờ Hồi giáo tại Thành phố Christchurch và bắn giết 51 tín đồ đang thờ phượng. Liền sau đó, Thủ tướng Tân Tây Lan Jacinda Ardern đã ban hành luật kiểm soát súng rất nghiêm nhặt: cấm sở hữu súng bán tự động. Từ đó đến nay, đã không có bất cứ cuộc tàn sát bằng súng đạn nào tại Tân Tây Lan nữa.

Ở đâu cũng có những người mắc bệnh tâm thần. Ở đâu cũng có những thành phần bị cực đoan hóa, nhứt là kỳ thị chủng tộc. Có khác chăng là tại Mỹ súng đạn không bao giờ được kiểm soát và sẽ mãi mãi không bao giờ được kiểm soát một cách chặt chẽ. Và bao lâu súng đạn không được kiểm soát, thì trong liên đới trách nhiệm, những kẻ bắn giết người hàng loạt, dù mắc bệnh tâm thần hay thù hận chủng tộc, đều không phải là những con “sói đơn độc”. “Con số người Mỹ chết vì súng thật khủng khiếp, bởi vì người Mỹ sống với súng một cách vô trách nhiệm” (3).

Kiểm soát việc sở hữu súng trong xã hội là chuyện phải làm để ngăn ngừa những vụ bắn giết bừa bãi. Đó là biện pháp mà lẽ thường ở bất cứ nơi nào trên trái đất này cũng đòi hỏi phải có.

Ngoài biện pháp kiểm soát việc sở hữu súng, một xã hội thực sự an toàn và lành mạnh trước hết phải là một xã hội không bị chia rẽ, xâu xé vì hận thù. Vụ thảm sát ở Buffalo cho thấy người thanh niên Gendron không hề là một con “sói đơn độc” vì xung quanh cậu ta có cả một bầy sói hậm hực và sôi sục hận thù chủng tộc. Trong những ngày vừa qua, cứ thử nghe đài Fox News, đặc biệt bình luận gia nổi đình đám nhứt của đài này là Tucker Carlson, người ta sẽ thấy ngay một thanh niên như Gendron đã bị đầu độc và cực đoan hóa như thế nào. Trong bản “tuyên ngôn” được cho công bố trước khi ra tay thảm sát người Mỹ gốc Phi Châu tại Buffalo, Gendron đã tuyên xưng niềm tin của mình vào thuyết âm mưu “thay thế” (Replacement Theory). Theo thuyết này, nếu không ra tay kịp thời thì không bao lâu nữa, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ của người da trắng sẽ bị người di dân, dân da mầu hay dân đến từ “Đệ tam Thế giới” chiếm lấy. Đây là lý thuyết mà Carlson đã không ngừng quảng bá trong các chương trình ăn khách của ông. Theo một bài phân tách mới đây của báo The New York Times,  trong hơn 400 bài “thuyết giảng” hùng hồn  của mình, Carlson đã hoàn toàn ủng hộ và quảng bá cho thuyết âm mưu này (4).

Trong “tuyên ngôn”, hung thủ không nhắc tới giáo chủ Donald Trump, người trong 4 năm ngồi trong Tòa Bạch Ốc, đã không ngần ngại bày tỏ sự ủng hộ dành cho những thành phần da trắng thượng đẳng và kỳ thị chủng tộc. Về phần mình, trong một buổi nói chuyện tại Austin, Tiểu bang Texas, chỉ vài giờ sau cuộc thảm sát, cựu tổng thống Mỹ  đã không bày tỏ bất cứ một lời lên án nào về cuộc thảm sát hay chia buồn với gia đình các nạn nhân nhưng lại lợi dụng dịp này để khoe mẽ một cách lạc đề và dối trá rằng trong liên tục 18 tháng trong nhiệm kỳ của ông, không có người Mỹ nào chết tại A Phú Hãn! (Vậy ở Mỹ thì sao? Đương nhiên là có!) Vô tâm đến thế là cùng!

Hung thủ của vụ thảm sát tại Buffalo không hề là một con “sói đơn độc”. Thức ăn của những con thú như hung thủ này chính là sự vô cảm của những thành phần lãnh đạo trong xã hội, đặt quyền lợi liên quan đến súng lên trên mạng người và nhứt là hận thù chủng tộc. Một xã hội sống bằng hận thù đến độ không còn biết xót xa, thương cảm trước nỗi khổ đau của người đồng loại quả là một xã hội quái đản!

 

 


Chú thích:

1.Sam Kevin, How the Buffalo massacre is part of U.S tradition...The Guardian, 19 May 2022

2.Juliette Kayyem, A ‘Lone-Wolf’ Shooter Has an Online Pack, The Atlantic May 15, 2022

3. David Frum, America’ s Gun Plague, The Atlantic May 15, 2022

4. Daniel Arkin,  Fox News’ Tucker Carlson under fresh scutiny after Buffalo mass shooting, nbcnews May 17, 2022

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

Q & A




Thi Văn 

Khi còn nhỏ, tôi thích hỏi. Tôi hỏi đủ thứ. Bất cứ cái gì rơi vào "tầm ngắm" của tôi cũng có thể biến thành câu hỏi. Vì nhà đông con, tôi ít có dịp gần Ba hay Mẹ một cách riêng tư. Hai vị này là những người mà tôi luôn tin tưởng nhất để bắn ra hàng loạt "tại sao?" Mẹ tôi bận suốt ngày nên những khi theo Mẹ đi nhà thờ, tôi mới có dịp để hỏi. Chúng tôi thường đi bộ. Bà thì thích lẩm bẩm cầu nguyện còn tôi thì thích hỏi. Mẹ tôi thường trả lời vài câu rồi ra hẹn rằng không được hỏi nữa. Tôi hứa nhưng chỉ mươi giây sau, khi một ý tưởng hay một cái gì đập vô mắt, tôi lại hỏi. Khi không biết trả lời thế nào thì câu trả lời sẽ là: "lớn lên con sẽ hiểu!" Ba tôi thì "khôn" hơn, ông thường chở tôi đi "loanh quanh", trả lời mọi câu hỏi cho đến khi dừng ở một bàu sen để ông câu cá. Đây là lúc ông muốn tôi yên lặng vì theo ông "cá rất nhát". Ông trám miệng tôi bằng vài búp sen non để tôi ngồi yên cho ông câu cá. 

Những câu hỏi tuổi thơ của tôi đơn thuần nói lên sự háo hức của một đứa trẻ muốn ngụp lặn trong biển kiến thức. Tôi hỏi như con thỏ phải nhai cỏ. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng đã chấm dứt tuổi thơ của tôi thì hình như lại là câu hỏi chung của tất cả mọi người Miền Nam Việt Nam vào lúc đó: "Tại sao tôi mất nước?" Câu hỏi này không những theo tôi mãi mà còn sản sinh ra hàng loạt những câu hỏi tại sao và tại sao khác. Nói theo người Úc thì đây là một "good question" (câu hỏi hay). Cách trả lời cho xong khi không tìm ra câu trả lời!
Sau ngày 30/4/1975, tôi bị cấm hỏi. Mỗi lần định mở miệng là tôi lại chợt nhớ đến lời dặn của Mẹ tôi. "Ba đang ở "Cổng Trời" (Một trại "cải tạo" ở Hà Giang) đó con". Không những bị cấm hỏi mà tôi còn phải chấp nhận "Đảng luôn sáng suốt!" Đó là câu trả lời gọn gàng cho tất cả hiện trạng tang thương khốn cùng của cả nước. Tôi không được phép hỏi những điều đáng hỏi và phải chấp nhận những lời dạy thường rất mơ hồ, ngô nghê, vô lý, vô nghĩa, và rỗng tuếch. Từ một người thích học hỏi, lý luận, tôi biến thành con vẹt. Bài học đi thi ba lần không đậu vào lớp 10 của ông anh kề chỉ vì con của "Ngụy" làm cho tôi thấy là mình phải cố gắng kiếm điểm cao trong mọi môn học. Nhất là môn Văn. Thực chất môn Văn là một môn chính trị không hơn không kém. Bây giờ nghĩ lại, tôi không hiểu sao mình có thể đạt được điểm cao trong môn Văn khi mà những đứa bạn gốc "cách mạng" cũng không đạt được. Những lúc bài luận của tôi được điểm cao thì tôi lại tự lắc đầu với tôi. Thành thật mà nói, tôi đã không "phản bội" chính mình khi bài  luận của tôi ca ngợi Bác và Đảng. Bài luận của tôi ca ngợi chứ tôi không ca ngợi. Tôi chỉ xào nấu những câu thơ, những đoạn văn của Tô Hoài, của Xuân Diệu và đặc biệt, của Tố Hữu. Tôi dùng lời người này ca tụng người kia để ra bài luận của tôi. Không cần động não, không cần tư tưởng, đơn thuần chỉ là "kiếm điểm". Cái miệng của tôi bớt đi nhiều công việc. Bớt hỏi, bớt trả lời và ngay cả bớt ăn (vì cũng chẳng có gì để ăn). Tôi giả câm cho đến khi ra được nước ngoài.
Bây giờ, Mr Google thay đổi tất cả. Lên mạng là có cả ngàn câu trả lời cho chỉ một câu hỏi. Có điều là khi có rất nhiều nguồn thông tin, thì hình như chúng ta lại làm biếng. Chúng ta trở thành những người mua hàng. Chọn cái thích nhất hơn là cái đúng nhất. Có vẻ như, việc chọn câu trả lời hợp ý hơn là hợp lý cũng là cách khẳng định rằng tư tưởng của mình đang hợp thời đại.
Vì vậy dù không còn bị "Đảng lãnh đạo" tư tưởng như trước, chúng ta sẵn sàng chấp nhận những lý luận ngây ngô, thiếu cơ sở đến tội nghiệp theo cái kiểu: "chúng ta chống Trung quốc; “ông con trời” chống Trung Quốc; thì chúng ta ủng hộ “ông con trời (đánh)”. Chấm hết! 
Chẳng biết từ lúc nào, chúng ta đánh mất cái bản năng quan trọng từ tấm bé: biết thắc mắc, biết chất vấn. Chúng ta đi theo suy luận của người khác như một đàn cừu. “Ai cũng nghĩ vậy thì sao mà sai được?”

Để người khác suy nghĩ. Để người khác lên tiếng. Để người khác đáp lời. Để người khác lo lắng. Để người khác chống ngoại xâm. Để người khác an bài số phận Việt Nam.

Trời ơi! "Tôi sao vậy?"

Thi Văn 9/5/2022

Chú thích:
Q & A: questions & Answers, (hỏi và đáp), tên một chương trình ti vi trên Đài ABC Australia







Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022

Khi thằng người gỗ không muốn làm người

 




Chu Văn

Sự tàn bạo dã man của Vladimir Putin trong cuộc chiến tranh xâm lăng Ukraine đã khiến cho nhiều người cho rằng lương tâm nhân loại đã thức tỉnh. Thức tỉnh trước những hành động man rợ của tên đồ tể này đã đành, mà quan trọng hơn chính là thức tỉnh trước sự dối trá trắng trợn của hắn. Không gì bỉ ổi cho bằng biện minh cho tội ác bằng những lời dối trá và lật lọng mà không một người nào còn có chút lương tri có thể chấp nhận được.

Có người đã tóm tắt một cách rất chính xác những lời dối trá trâng tráo của Putin:

“Putin tuyên bố Ukraine muốn gia nhập NATO, đây là một đe dọa với sự ổn định của nước Nga nên...ĐÁNH.

Putin nói Ukraine có vũ khí nguyên tử nên...ĐÁNH

Putin giải thích muốn ủng hộ đám ly khai ở Donbass và XYZ nên...ĐÁNH

Putin lại nói rằng muốn diệt đám quốc xã ở Ukraine nên...ĐÁNH

Và vừa rồi hắn nói: Trước sau gì rồi cũng phải ĐÁNH Ukraine.

Dường như Putin và Trump có cùng dòng họ hoặc ít nhất là sở hữu một gen đột biến giống nhau - gen nói láo. Nói láo không biết xấu hổ, nói dối không cần một bằng chứng giả tạo.

Thật là trơ trẽn. Trước đây tôi chưa bao giờ có ác cảm gì với người Nga, tôi thấy họ hiền lành, bình thường, không tự cao tự đại. Tôi cũng chưa bao giờ nghe thấy chuyện phân biệt đối xử với người Nga ở châu Âu. Thế nhưng, bây giờ tôi mới biết là không chỉ bị phân biệt đối xử, mà người Nga còn sắp bị tiêu diệt như người Do Thái!

Ngày 3-4-2022, ở Berlin và nhiều thành phố khác trên nước Đức đã diễn ra một cuộc biểu tình bằng xe hơi của người Nga. Trên kính sau của một chiếc xe có biểu ngữ “No Fascism” (Nói không với chủ nghĩa phát xít) với biểu tượng NATO bị gạch chéo.

Theo tôi, nếu Putin và người Nga làm những chuyện này nhiều lần trước cuộc chiến Ukraine thì có lẽ hợp lý hơn. Nhưng cuộc biểu tình diễn ra vào ngày thứ 38, sau khi Nga xâm lược Ukraine.

Và tôi đươc biết  thêm (qua một bài báo): Ở Nga việc sử dụng Holocaust (cuộc tàn sát người Do Thái do Hitler chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiên) làm công cuộc cho chính trị đã mang tính truyền thống. Họ đang biến thủ phạm thành nạn nhân và ngược lại!” (1)

“Biến thủ phạm thành nạn nhân và ngược lại” cho nên những tên đồ tể cũng thường đảo ngược bậc thang các giá trị đạo đức. Họ trang điểm khuôn  mặt của mình  bằng một lớp phấn đạo đức giả.

Tôi không ngạc nhiên chút nào khi nhìn thấy Putin trong nhà thờ chính tòa Đấng Cứu Thế của Chính Thống Giáo ở Thủ đô Mạc Tư Khoa trong ngày Lễ Phục Sinh 24 tháng Tư vừa qua. Nhưng không gì bỉ ổi bằng vừa tàn sát người dân vô tội ở Ukraine lại vừa gởi đi một thông điệp Phục Sinh để đề cao “những lý tưởng và giá trị đạo đức cũng như niềm tin vào sự sống, lòng thiện hảo và công lý”. Riêng trong lời chúc mừng Phục Sinh dành cho Thượng phụ giáo chủ Chính Thống Nga Kirill, Putin viết: “Trong những ngày nghỉ lễ Phục Sinh, tâm hồn các tín hữu tràn ngập một niềm vui đặc biệt, một nỗi khao khát làm điều thiện và giúp đỡ những người túng thiếu”. “Làm điều thiện” như Putin đang hiểu và thực thi chính là giết người và giết người vô tội vạ!

Dường như Thượng phụ Kirill, người lúc nào cũng sát cánh bên Putin cũng hiểu như thế về “lòng thiện hảo và công lý” cũng như thế nào là “làm điều thiện”. Ông đã chúc lành cho các binh sĩ Nga trước khi họ lên đường xâm lăng Ukraine. Trong sứ điệp Phục Sinh năm nay, ông cũng chỉ lập lại những công thức sáo ngữ chứ không hề lên án hành động xâm lăng ngang ngược và tàn bạo của Putin tại Ukraine.

Tựu trung, Putin đã dối trá và Kirill, lẽ ra là tiếng nói của sự thật và lẽ phải rốt cục cũng phụ họa theo. Chỉ tội nghiệp cho người dân Nga. Họ cũng chỉ biết hòa nhịp với dàn đồng ca ấy mà thôi. Trong những ngày đầu khi Putin cho tiến quân xâm lăng Ukraine, đã có hàng chục ngàn người xuống đường phản đối chiến tranh. Nhưng trong những tuần lễ gần đây, những cuộc biểu tình như thế ngày càng trở nên hiếm hoi. Dĩ nhiên, dân chúng Nga có lý để sợ, bởi vì Putin đã ra lệnh giam tù 15 năm những ai dám lên tiếng phản đối cuộc xâm lăng Ukraine của hắn. Nhưng sự sợ hãi chỉ là một phần của câu chuyện. Thực tế cho thấy rất đông người Nga đang đứng đàng sau lãnh tụ đồ tể của họ. Trước cuộc xâm lăng, mức ủng hộ dành cho Putin chỉ có gần 70 phần trăm. Một tháng sau điều được gọi là “chiến dịch quân sự đặc biệt” tại Ukraine, tỷ lệ ủng hộ dành cho hắn lên đến 83 phần trăm. Cuộc chiến không chỉ diễn ra ở Ukraine, mà cũng xâu xé người Nga không ít. Không thiếu người Nga hiện đang kết án và tố cáo bạn hữu, láng giềng, đồng nghiệp và ngay cả người thân của mình nếu họ không ủng hộ cuộc chiếm xâm lược của Putin. Trong một bài diễn văn, chính Putin đã khuyến khích và nuôi dưỡng cuộc “nội chiến” ấy khi ca ngợi những người biết phân biệt ai là “những người yêu nước thực sự và ai là những kẻ phản quốc”.

Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài khát máu như Nga hiện nay, tỷ lệ ủng hộ 83 phần trăm dành cho Putin có thể chỉ nói lên một nửa sự thật. Khi sự sợ hãi bao trùm cả nước thì những con số cũng phải rụt rè ít nói. Ai ủng hộ, ai phản đối cuộc xâm lược, khó mà nhận diện một cách chính xác. Chỉ có một điều chắc chắn mà người ta có thể khẳng định về tâm trạng hiện nay của người dân Nga là: rất đông người Nga, nếu không muốn nói là đa số, hiện đang tỏ ra dửng dưng và vô cảm trước những tội ác mà Putin đã và đang thực hiện tại Ukraine. Nói tóm lại, như ký giả Shadi Hamid đã nhận định trong một bài viết được đăng trên báo The Atlantic, “các chế độ độc tài vặn vẹo tâm hồn con người và bóp méo các định chế luân lý tự nhiên. Làm như thế, họ khiến cho người công dân, hay chính xác hơn những người dưới quyền họ, ít phải chịu trách nhiệm hơn về mặt đạo đức. Để hoàn toàn chịu trách nhiệm về mặt đạo đức, con người phải được tự do để chọn lựa giữa đúng và sai. Nhưng một sự chọn lựa như thế sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều trong một chế độ độc tài. Không phải ai cũng có thể can đảm và hy sinh mạng sống và cuộc sống của mình để làm điều đúng “(2).

Những nhận định trên đây của ký giả Shadi Hamid về thế đứng của người dân Nga trước cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine không thể không đưa tôi trở về với quê hương Việt Nam, nhứt là trong những ngày cuối tháng Tư hằng năm. Cuộc chiến tranh giữa Miền Nam tự do và Miền Bắc cộng sản thiết yếu là cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Giữa thập niên 1950, vừa bước vào tuổi khôn, không cần phải được tuyên truyền, thực tế của những vụ ám sát đã mang đến cho một đứa trẻ như tôi niềm xác tín sâu xa rằng cộng sản là những người “nói dối  như Vẹm”. Rồi khi cộng quân đã công khai xuất đầu lộ diện tại Miền Nam tôi lại càng thấy rõ hơn bộ mặt dối trá của người cộng sản. Cuộc chiến  mà các lãnh tụ cộng sản gọi là “thần thánh” dưới chiêu bài “giải phóng” Miền Nam mà thực chất là một cuộc xâm lược. Bao nhiêu người dân Miền Bắc đã bị lừa vì hai chữ “giải phóng”. Một “bộ đội” Dương Thu Hương đã ngồi bệt xuống vệ đường giữa Sài Gòn trong ngày “giải phóng” để ôm mặt khóc khi biết mình bị lừa. Chính ngày Miền Nam được “giải phóng”, một nghệ sĩ Ái Vân đã hăm hở mang theo 2 cân gạo để tặng cho bà con ở Sài Gòn, vì người dân Miền Nam phải đói khổ trong hàng bao nhiêu năm trời dưới sự đô hộ của Mỹ.

Cùng với ý thức hệ cộng sản mà “bên thắng cuộc” đã áp đặt lên Miền Nam, mặc dù chính họ cũng chẳng hiểu và cũng chẳng tin, họ cũng bao trùm lên cả nước sự dối trá. Những kẻ thống trị dối trá. Người bị trị cũng phải dối trá. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người sau khi ra tù đã viết quyển tiểu thuyết tự thuật nổi tiếng “Chuyện kể năm 2000”, đã lột tả triết lý sống rất sinh động của người Việt Nam trong chế độ cộng sản hiện nay: “muốn tồn tại và vinh thăng trong cái xã hội ấy thì phải biết vờ, vờ nói, vờ nghe, nghĩa là khi nói, biết mình nói dối nhưng vẫn phải vờ nói dối một cách thành thật, khi nghe, biết mình không muốn nghe những vẫn phải vờ nghe một cách thành khẩn”(3).

Tôi chỉ sống trong chế độ dối trá ấy hơn 5 năm. Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần để sống trong chế độ ấy, tâm hồn tôi cũng đã bị vặn vẹo, nhân cách của tôi cũng bị thui chột. Tôi cũng đã chạy theo “dòng chảy” người ta sao tôi vậy, nghĩa là cũng “vờ” để sống. Thoát khỏi chế độ dối trá ấy là để sống tự do. Và tự do luôn đi với trách nhiệm. Trách nhiệm mà tôi cho là quan trọng và ý nghĩa nhứt đối với một người tỵ nạn như tôi là phải cố gắng thật. Người ta có thể thoát khỏi một chế độ độc tài dối trá mà vẫn mang theo sự dối trá như một thứ “bửu bối”. Tôi nghĩ đến không ít những người đồng bào ruột thịt của tôi, những người đã trốn khỏi chế độ cộng sản dối trá, nhưng lại sùng bái những lãnh tụ dối trá.

Dối trá là một bản năng tự nhiên của mọi sinh vật. Các chuyên gia tâm lý và các nhà sinh vật học theo thuyết tiến hóa cho rằng lừa dối đã được khắc ghi trong bản chất của mọi sinh vật. Để sinh tồn, cây cỏ  biến dạng để trông  giống côn trùng và côn trùng cũng biết biến dạng để trông giống cây cỏ. Thú vật cũng biết dùng đủ mọi “thủ đoạn” để thu hút “bạn tình” hay đánh lừa kẻ thù. Dù có tiến hóa đến đâu, con người vẫn còn duy trì cái bản năng dối trá ấy. Nếu chúng ta không nói dối liên tục thì chắc chắn chúng ta cũng thường xuyên nói dối. Một cuộc nghiên cứu cho biết: cứ trong một cuộc trò chuyện kéo dài 10 phút, chúng ta nói dối 3 lần và ngay cả nhiều hơn nữa khi chúng ta sử dụng email hay gởi lời nhắn qua các phương tiện truyền thông hiện đại (4). Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo đã khẳng định: “Mọi người đều dối trá” (Thánh Vịnh 116, 11). Nhưng cũng chỉ có con người mới ý thức được bản năng dối trá của mình và biết rằng họ chỉ có thể trưởng thành nhờ cố gắng sống thật. Sống lúc nào cũng là một cuộc chiến đấu giữa sự thật và dối trá. Cũng như cậu bé người gỗ Pinocchio của nhà văn Ý Carlo Collodi (1826-1890), con người sẽ không bao giờ là một con người có nhân cách nếu lấy dối trá làm lẽ sống.

 

Chu Văn

  

1.Lê Thanh Nhàn, thủ phạm và nạn nhân, sự lật lọng, báo Tiếng Dân 17-4-2022

2.Shadi Hamid, Why the Russian people go along with Putin’s war, The Atlantic 23/ 04/2022

3.Nguyễn Giụ Hùng, Vờ, Việt Báo 25/04/2022

4.Dallas G. Denery II, The Devil Wins, Princeton University Press, 2015, trg 4.

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

Can Đảm để Sống

 Thi Văn

Sau khi ra trường, bắt đầu sự nghiệp và đối diện với thực tế, con tôi rơi vào một cơn khủng hoảng lớn. Trong một phút tuyệt vọng, con tôi thổ lộ với tôi: "Mẹ ơi, con không muốn sống nữa!". Tôi rùng mình. Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại. Thay vì tìm cách trấn an như một bản năng theo kiểu, "không sao đâu con, tất cả rồi sẽ ổn thôi!", tôi đánh một nước cờ liều. "Con không muốn sống thì con có thể chết nếu như con muốn." Con tôi trả lời: "nhưng con lại không có can đảm để chết!". "Vậy thì con phải có can đảm để sống!" tôi trả lời. Và may thay, cho tới bây giờ con tôi vẫn chưa có "can đảm để chết".

Nói với con "phải có can đảm để sống", tôi lại tự giật mình. Sống quả không phải là dễ. Tôi hiểu ý của con tôi. Sống không chỉ là ăn uống ngủ nghỉ làm việc vui chơi. Sống lại càng không phải chỉ là làm sao cho vừa lòng xếp, vui lòng những người xung quanh, dĩ hòa vi quý, ai chết mặc ai, sao cũng được miễn sao không ảnh hưởng đến mình. Sống thật ra là một hành trình tìm kiếm hạnh phúc ít ra cho chính mình. Đó là một hành trình nhiêu khê mà không sách vở nào có thể giúp ích được. Chiếc la bàn chỉ là lương tâm và lẽ phải. Một hành trình mà ta phải chiến đấu với ta qua mỗi suy nghĩ, mỗi quyết định. Đưa một thí dụ: có những nơi, người ta không được quyền nói hay làm điều mình nghĩ là đúng. Ngược lại có những nơi, người ta được quyền nói hay làm điều mình nghĩ là đúng nhưng họ lại làm những điều ngược lại. Một áp lực "bên ngoài" nào đó kiềm giữ họ lại. Nên cái Tôi bị dập! Và cái tôi biến thành cái Tồi. Sống trong cái tồi thì rất dễ. Ai sao mình vậy, người ta bậy mình cũng theo. Còn sống trong một cái Tôi viết hoa thì quả thật phải rất can đảm. Can đảm trong mọi giây phút làm người.

Cách đây mấy hôm, Tổng thống Zelensky của Ukraine được trao giải thưởng John F Kennedy dành cho những người can đảm. Theo ban tổ chức, ông Zelensky được chọn vì "ông đã hun đúc tinh thần yêu nước và hy sinh không mệt mỏi của người dân Ukraine trong cuộc chiến sinh tử cho đất nước họ" (1).

Với tôi, ông là người có can đảm để chết và thừa can đảm để Sống. Ông can đảm để chết vì ông chấp nhận ở lại và chiến đấu. Ông can đảm để sống vì ông không ngừng nói lên lẽ phải và sống cho lẽ phải. Dù ông sống hay chết, ông sẽ thành bất tử cho rất nhiều người. Những người muốn học cái "can đảm để sống" của ông.

Ông chưa qua tuổi tri thiên mệnh mà dám nói dám làm những điều những người quá tuổi tri thiên mệnh như tôi không dám nghĩ đến. 

Ai tri thiên mệnh hơn ai?

Thi Văn 25/04/2022

(1)https://www.thenational.wales/news/20084903.ukraines-volodymyr-zelensky-gets-john-f-kennedy-award-defending-democracy/



Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022

Đằng Sau Tiếng "Mẹ Ơi!"


Thi Văn




"Mẹ ơi! 

Lá thư này là món quà con gởi Mẹ nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8/3...Cám ơn Mẹ vì 9 năm đẹp nhất đời con. Cám ơn đã cho con tuổi thơ. Mẹ là người Mẹ tốt nhất trên đời. Con sẽ không bao giờ quên Mẹ! Con mong Mẹ được may mắn trên trời. Con mong Mẹ đến được thiên đàng. Con sẽ cố gắng sống thật đàng hoàng để cũng được đến thiên đàng. 

Hôn Mẹ,

Tolya của Mẹ" (1)

Đây là lá thư của một bé trai 9 tuổi người Ukraine được đọc tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Em đã viết lá thư này cho người mẹ đã chết trong cuộc chiến đang diễn ra tại Ukraine. Em là một trong cả ngàn đứa trẻ bị mồ côi mà không biết số phận sẽ đi về đâu.

Tôi đọc mà không cầm được nước mắt. Tôi quả là một người con may mắn. Ở tuổi này mà tôi chưa phải viết một lá thư ngây thơ nhưng đầy đau khổ như vậy. Ngay cả con trai tôi cũng thật may mắn. Ở tuổi 30, con tôi chắc chắn chưa bao giờ nghĩ đến cái ngày phải dùng những lá thư viết tay để nói chuyện với mẹ mình. Tôi vẫn có mẹ và con tôi vẫn còn tôi.

Người ta nói cái hạnh phúc lớn nhất của mỗi một con thú hay con người trên trái đất này là ai cũng có một người mẹ. Một người mẹ mà dù cho hoàn cảnh thế nào cũng thương yêu con mình trên hết mọi sự. Một người mẹ mà dù cho con mình ở tuổi nào cũng không bao giờ muốn rời bỏ chúng. Vậy mà bây giờ cả ngàn đứa bé bị kẹt trong cuộc xâm lăng Ukraine của Putin đã bị mất đi cái hạnh phúc quý báu nhất đời mình. Tôi không hiểu người ta đã nhân danh cái gì để có thể làm điều đó. Ai cũng cần hạnh phúc. Ai cũng cầu hạnh phúc. Tại sao người ta có thể tước đi hạnh phúc của những đứa trẻ vô tội? Biện minh như thế nào đây? Chẳng có hạnh phúc nào, chẳng có "thiên đường" nào có thể xây dựng trên cái nền là sự bất hạnh của người khác. Cũng chẳng có cách nào để biện minh cho sự làm ngơ hay "vô tư" của chúng ta trước cái khổ của những đứa trẻ. Ai cũng từng là trẻ thơ. Ai cũng biết là trẻ thơ cần gì nhất. Hãy trở về trẻ thơ để đồng cảm với chúng. Ai cũng có con cháu. Hãy nhìn những đứa trẻ này như con cháu của mình. Nhiều người vẫn nghĩ rằng nhủ lòng thương là một thứ tình cảm "tiểu tư sản" cần che dấu. Chính vì che dấu mà chúng ta đang trở nên vô cảm. Chúng ta không còn mạnh dạn để bảo vệ người cô thế hay lẽ phải.

Vì vậy, hãy nhắm mắt lại. Hãy để lòng rung động. Hãy để tim thổn thức. Hãy để nước mắt rơi. Hãy để môi mấp máy nói lên lời thương yêu... 

Vì, chúng ta đã được đưa vào đời bằng tình thương yêu của một người Mẹ, thì chỉ có tình thương yêu mới có thể tiếp tục làm đẹp cuộc sống này.


Chú thích:

1. https://news.yahoo.com/un-security-council-hears-russian-001238699.html



Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2022

Giải oan cho Thượng Đế

 

Chu Văn





Năm nào cũng vậy, những ngày trước lễ Phục Sinh của Kitô giáo, ra đường nhìn thiên hạ lũ lượt kéo nhau đi nghỉ, đến phố thị nghe ồn ào  nhộn nhịp hẳn ra, tự nhiên tôi cũng thấy vui. Cùng với niềm vui tự nhiên ấy, là một tín hữu Kitô, năm nào tôi cũng cố gắng tìm hiểu, đào sâu và sống sao cho phù hợp hơn với sứ điệp của lễ Phục Sinh.

Năm nay, các Giáo hội Tin Lành và Công giáo La mã mừng lễ Phục sinh vào ngày chủ nhựt 17 tháng Tư tới đây, trong khi đó ngày lễ lại được các Giáo hội Chính thống cũng như các cộng đồng tín hữu công giáo theo nghi lễ Đông Phương  cử hành vào một tuần lễ sau, tức ngày 24 tháng Tư. Nhưng dù có khác ngày và theo những nghi thức riêng, sứ điệp Phục Sinh, như được các vị lãnh đạo của Kitô giáo trên khắp thế giới dẫn giải vẫn là một. Đó là sứ điệp của Hòa Bình. Đó là sứ điệp của Tình Thương chiến thắng Hận Thù và những cái đuôi của Hận Thù là chiến tranh và chết chóc.

Trong bối cảnh của “chiến dịch quân sự đặc biệt” hay nói trắng ra là cuộc chiến xâm lược do Nga gây ra tại Ukraine, tôi đặc biệt chờ đợi “sứ điệp Phục Sinh” từ miệng của nhà lãnh đạo Giáo hội Chính thống Nga là Thượng phụ Kirill. Sở dĩ tôi chú ý đến nhà lãnh đạo tôn giáo này là bởi vì tiếng nói của ông chắc chắn đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine.

Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều người Nga xuống đường để phản đối cuộc chiến xâm lược do Vladimir Putin chủ xướng. Trong số những người phản đối cuộc chiến, người ta thấy có nhiều linh mục, giới trí thức và nghệ sĩ. Đã có hàng ngàn người bị bắt giữ vì tham gia các cuộc biểu tình. Tuy nhiên theo một cuộc thăm dò do hãng thăm dò độc lập duy nhứt tại Nga là Levada thực hiện, có đến hơn 80 phần trăm dân chúng Nga ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược do Putin phát động (1).

Dĩ nhiên, trong một chế độ độc tài như Nga, nơi mà hiện nay mọi thành phần bất đồng chính kiến cũng như các cơ quan truyền thông độc lập đều bị bịt miệng, những con số dường như cũng không còn “biết nói” nữa. Tuy nhiên, trình tự được chính Putin rêu rao trước khi mở cuộc chiến xâm lược vào Ukraine, cộng với những lời phát ra từ bục giảng của Thượng phụ Kirill, không cho phép tôi phớt lờ trước ảnh hưởng của nhà lãnh đạo tôn giáo này đối với nhận thức của người dân Nga về cuộc chiến hiện nay.

Trong nhiều tuần lễ qua, các nhà lãnh đạo tôn giáo trên khắp thế giới đã không ngừng van nài Thượng phụ Kirill lên tiếng chống lại cuộc chiến xâm lăng Ukraine do Putin điều động. Nhưng trong các bài giảng hằng tuần được truyền đi trên Đài Truyền Hình, dĩ nhiên của nhà nước Nga, vị thượng phụ này lúc nào cũng giữ nguyên một giọng: lúc nào ông cũng mặc cho cuộc chiến xâm lược của Putin một sứ mệnh cao cả là chiến đấu chống lại những sức mạnh của sự Dữ đang tìm cách hủy diệt sự hiệp nhứt mà Thượng Đế đã ban cho “Nước Nga Thánh Thiêng”.

Một ngày trước khi quân đội Nga tràn vào Ukraine, thượng phụ Kirill đã đăng đàn để ca ngợi các binh sĩ Nga như những người bảo vệ tổ quốc. Ông nói: “Họ (các binh sĩ Nga) không hề nghi ngờ rằng họ đã chọn một con đường rất đúng đắn trong cuộc sống của họ”. Rồi không đầy 2 tuần lễ sau khi quân đội Nga xâm chiếm lãnh thổ Ukraine, Thượng phụ Kirill biện hộ rằng cuộc xâm lược có một “ý nghĩa siêu hình” và cảnh cáo “đàn chiên” của ông rằng cái giá mà họ phải trả khi mở rộng vòng tay đón nhận văn minh tiêu thụ của thế giới Tây Phương và “tự do” mà thế giới này mang đến thật là khủng khiếp: đó là phải đứng ra tổ chức những cuộc diễu hành của những người đồng tính!

Trong một bài giảng hàng tuần khác để biện minh cho cuộc chiến xâm lược của Putin, Thượng phụ Kirill nói đến “sự thật của Thượng Đế”. Và theo “sự thật” đó thì người Nga, người Ukraine và người Belarus đều chung  chia  một gia sản tinh thần và dân tộc  cho nên cần phải được liên kết với nhau như một dân tộc. Đây chính là nội dung bài hiệu triệu  của Putin trước khi đưa quân sang xâm chiếm Ukraine (2). Với Putin và Kirill, xâm chiếm Ukraine, ngay cả bằng vô số tội ác chiến tranh và diệt chủng, biến quốc gia độc lập này thành một phần của Đại Nga là một nghĩa vụ thiêng liêng được chính Thượng Đế ủy thác!

Từ lâu Thượng phụ Kirill và Putin đã là 2 đồng minh rất thân cận với nhau. Họ gần gũi và đồng hóa với nhau như bóng với hình. Thượng phụ Kirill đã có lần mô tả 12 năm cầm quyền đầu tiên của Putin là “một phép lạ của Thượng Đế”. Về phần mình, Putin tiết lộ rằng chính thân phụ của Kirill, lúc làm một linh mục quản xứ tại một giáo xứ ở Leningrad đã rửa tội “chui” cho ông vào năm 1952. Hai người thường xuyên xuất hiện bên cạnh nhau trong những ngày lễ quan trọng, đặc biệt mỗi dịp lễ Phục Sinh, những lần thăm viếng các tu viện và hành hương đến những linh địa. Gắn kết với nhau hơn có lẽ là cái quá khứ KGB của cả hai. Putin đã từng là một điệp viên KGB. Còn Kirill, theo một số tài liệu trong Văn khố Nga, cũng đã từng là một điệp viên KGB trước khi xuất gia vào tu viện. Dạo đầu tháng Ba vừa qua, báo The Guardian của Nga có phỏng vấn một số người Ukraine. Được hỏi ý kiến về Thượng phụ Kirill, một số đã dựa vào Văn khố Nga để khẳng định rằng ông ta đã từng là một điệp viên  KGB và chính vì quá khứ này mà ông đã ủng hộ cuộc chiến xâm lược của Putin tại Ukraine (3).

Trong những năm gần đây, Putin ngày càng tỏ ra mình là một tín hữu rất “đạo đức”. Ông đeo trên cổ một sợ giây chuyền có gắn một cây thánh giá bằng bạc. Ông hôn kính các tượng ảnh. Đáng chú ý nhứt là lần ông để mình trần trầm người xuống một hồ nước lạnh trước các ống kính truyền hình. Theo Chính Thống giáo, đây là nghi thức qua đó một nam tín hữu bày tỏ sự trưởng thành và nam tính của mình trong ngày lễ Hiển Linh (tức lễ Ba Vua).

Putin là một tín hữu thuần thành hay là một ma đầu chính trị? Với vô số tội ác đã từng xảy ra tại Nga cũng như ngay cả ở hải ngoại và nhứt là những  tội ác chiến tranh đã và đang diễn ra tại Ukraine trong hơn một tháng qua, tôi không tin rằng Putin là tín đồ của bất cứ tôn giáo nào.

Còn ông giáo chủ Kirill, mỗi lần nhìn ông giương cây trượng dát vàng lên để giảng dạy, tôi không nhìn thấy thánh giá của Chúa Giêsu đâu cả, mà chỉ là lưỡi lê của cuồng vọng và hận thù, nhứt là khi nhìn thấy vô số tội ác do Putin đã và đang gây ra tại Ukraine, ông vẫn có thể muối mặt để cổ võ các binh sĩ tiếp tục tham gia vào tội ác, vì Nga là một “nước yêu chuộng hòa bình” (4).

Nhìn Thượng phụ Kirill múa gậy của bạo lực để tôn vinh Thượng Đế, tôi không thể không liên tưởng đến câu thần chú “Allahu Akbar” (Thượng Đế Vĩ Đại) được một số lãnh tụ Hồi giáo và những kẻ khủng bố hô lớn để sát hại những người vô tội.

Tội nghiệp Thượng Đế! Cứ bị người ta nhân danh để làm điều ác. Ngay cả một người nhân ái và từ bi như Đức Phật cũng cùng chung một số phận. Có một dạo thế giới nói đến rất nhiều về một nhà sư Miến Điện tên là Wirathu. Ông không ngần ngại tự nhận mình là một “Osama Bin Laden” của Miến Điện. Lãnh đạo một cộng đồng tu sĩ với hơn 2500 tăng sĩ, Wirathu đã qui tụ được hàng trăm ngàn khán thính giả qua các bài thuyết giảng của ông được truyền đi trên Facebook và YouTube. Nội dung của các bài thuyết pháp của nhà sư này lúc nào cũng xoay quanh sự thù hận đối với người Hồi Giáo, đặc biệt là người Hồi giáo thuộc sắc tộc Rohingya. Sự khích động của nhà sư Wirathu đã khiến cho hàng trăm người Rohingya bị giết chết và trên cả trăm ngàn người phải đi lánh nạn (5). Tạp chí Time đã có lý để gọi nhà sư này là “bộ mặt khủng bố của Phật Giáo”.

Nhìn chung, hình như lịch sử của bất cứ một tôn giáo có tổ chức nào cũng có những trang đẫm máu. Không bị bách hại vì niềm tin hay đạo pháp thì cũng nhân danh niềm tin hay đạo pháp để bách hại người khác.

Lịch sử của Kitô giáo của tôi đầy những trang như thế. Mỗi dịp lễ Phục Sinh, tôi thường nhìn lại những trang sử đó. Gần đây, tôi hay bị dằn xóc vì một câu chuyện trong Kinh Thánh mà Giáo Hội cho tôi nghe trong Đêm Vọng Phục Sinh. Đó là câu chuyện về cuộc xuất hành của người Do Thái ra khỏi kiếp nô lệ bên Ai Cập. Theo câu chuyện, để tạo sức ép buộc vua Pharaoh của Ai Cập phải để cho người Do Thái được tự do ra đi, Thượng Đế đã giáng xuống đất nước này không biết bao nhiêu tai họa. Nhưng vua Pharaoh vẫn cứ cứng lòng. Cuối cùng, trong đêm tối, Thượng Đế đã sai sứ thần xuống giết chết  tất cả các con trai đầu lòng của người Ai Cập và với quyền lực của Ngài, người Do Thái đã vượt qua được Biển Đỏ mà vẫn “ráo chân” (Sách Xuất Hành 12,29-42). Người Do Thái xem đây là một biến cố lịch sử. Kitô giáo xem câu chuyện như Lời Chúa. Vì là Lời Chúa cho nên sau khi lắng nghe câu chuyện, cộng đồng tín hữu đã cùng hòa tiếng trong ca khúc khải hoàn để chúc tụng Thượng Đế vì đã thực hiện một kỳ công vĩ đại như thế.

Mỗi năm, khi nghe lại câu chuyện Xuất Hành của người Do Thái, tôi hay nghĩ vẩn nghĩ  vơ: liệu có một Thượng Đế, vì chọn một dân tộc làm dân riêng mà tàn sát những đứa trẻ vô tội của một dân tộc khác không? Tôi sợ phải tuyên xưng một Thượng Đế như thế và dĩ nhiên tôi lại càng sợ hơn khi có người tự xưng mình là người được Thượng Đế “tuyển chọn” và được vô số người tung hô và sùng bái. Với tôi, thực tế là một trái ngược: con người đã “tuyển chọn” Thượng Đế theo ý muốn của họ.

Lễ Phục Sinh, Giáo Hội của tôi mời gọi tôi tuyên xưng rằng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại. Trong suốt hơn 70 năm của cuộc hành trình đức tin, tôi chưa một lần “thấy” hay cảm nhận được Chúa Phục Sinh. Điều tôi chỉ có thể thấy được đó là Thập Giá và trên Thập Giá Ngài đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài. Với cái chết trên Thập Giá, Ngài muốn chứng tỏ rằng chỉ có tình yêu, sự khoan nhượng, tấm lòng cảm thông và nhứt là sự tha thứ mới có thể chiến thắng được hận thù. Có lẽ đó mới thực sự là ý nghĩa của Phục Sinh. Với cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã muốn giải oan cho Thượng Đế, bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì vậy, tôi tin rằng chỉ có những ai, ngay cả những kẻ tự xưng là vô thần, biết sống yêu thương mới thực sự cảm nhận được sự hiện hữu của Thượng Đế và giải oan cho Thượng Đế vì vô số tội ác mà con người đã gán cho Ngài hay nhân danh Ngài để thực hiện.

 

Chu Văn

 

 

 

Chú thích

1. Who are the everyday Russians rallying behind Putin’s war? https://www.aljazeera.com/news/2022/4/6/the-russians-who-rally-behind-putins-special-operation

2. Deborah Netburn, A spiritual defense of the war in Ukraine? Putin’s patriarch is trying, https://www.latimes.com/world-nation/story/2022-03-29/russian-orthodox-patriarch-offers-a-spiritual-defense-of-the-war-in-ukraine

3. Patriarch Kirill of Moscow, wikipedia

4. Patriarch urges soldiers to defend “peace-loving” Russia amid Ukraine campaign https://www.reuters.com/world/europe/patriarch-urges-soldiers-defend-peace-loving-russia-amid-ukraine-campaign-2022-04-03/

5. Buddist monk uses racism and rumours to spread hatred in Burma https://www.theguardian.com/world/2013/apr/18/buddhist-monk-spreads-hatred-burma