Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Thượng Đế cũng phải khóc!



Chu Thập
24/11/19
Thời gian gần đây, tuy mùa hè chưa đến, nhưng Úc Đại Lợi cũng đã chìm  ngập trong khói lửa vì nạn cháy rừng. Ngày nay, dựa trên các chứng cớ khoa học, hầu như ai cũng đều nhìn nhận rằng một số thiên tai là hậu quả của hiện tượng khí hậu thay đổi mà con người đã và đang góp phần tạo ra. Tuy nhiên, cũng không thiếu người phủ nhận hiện tượng và đi tìm giải thích ở những nguyên nhân sâu xa hơn. Như trường hợp tuyển thủ Rugby nổi tiếng của Úc Đại Lợi là anh chàng Israel Fulau. Nổi tiếng trong thể thao, Fulau cũng nổi tiếng vì những lời tuyên bố gây tranh cãi. Mới đây, vào giữa lúc bao nhiêu người Úc phải lâm cảnh chết chóc và nhà tan cửa nát vì các trận hỏa hoạn, cựu tuyển thủ 30 tuổi này đã lên tiếng giảng dạy: “Trong những tuần lễ vừa qua, tôi đã theo dõi các biến cố xảy ra tại Úc Đại Lợi như thiên tai, cháy rừng và hạn hán. Con người đang hủy hoại trái đất. Họ đã bất tuân luật lệ, vi phạm các chuẩn mực và xé bỏ giao ước muôn đời. Do đó một lời nguyền đang đốt cháy trái đất. Con người phải gánh chịu vì tội lỗi của họ”.
Thoạt nghe qua, tôi thấy nội dung của lời giảng dạy của Fulau cũng chẳng khác bao nhiêu so với những lời giảng dạy mà tôi đã từng nghe từ miệng của bất cứ mục sư hay linh mục nào.
Nhưng người cựu tuyển thủ này không dừng lại ở đó. Anh khẳng định rằng các trận hỏa hoạn làm cho 6 người bị thiệt mạng và bao nhiêu nhà cửa bị thiêu rụi là một sự trừng phạt của Thiên Chúa trước tội ác tày đình của Úc Đại Lợi là hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và cho phép phá thai. Anh lên lớp: “Hỡi các người, Thiên Chúa đang nói với các người đó. Úc Đại Lợi cần phải sám hối và xóa bỏ các luật này và quay về đường ngay nẻo chính”.
Bài giảng kéo dài 10 phút của ông “mục sư” trẻ này đã đưa tôi trở về thời niên thiếu. Thời đó, tôi nhìn đâu cũng thấy tội và nhìn đâu cũng thấy bàn tay trừng phạt của Thiên Chúa. Tôi đã được nhào nặn như thế. Trong con mắt thơ dại của tôi, hình ảnh ông kẹ và bà chằng của vị linh mục quản xứ và các bà xơ là một phản ảnh của dung mạo “dữ dằn” của một Thiên Chúa mà tôi cho là ánh mắt lúc nào cũng theo dõi rình rập tôi và bàn tay lúc nào cũng sẵn sàng để giáng xuống một sự trừng phạt đích đáng. Thật ra, trong việc uốn nắn và dạy dỗ tôi trong niềm tin tôn giáo, phải nói bà mẹ “đạo đức” của tôi có nhiều công trạng nhứt. Lúc nào bà cũng nói đến chiếc đồng hồ không ngừng gõ nhịp “đời đời, đời đời” trong hỏa ngục. Bất cứ hành vi nào của con người cũng được mẹ tôi quy ra tội và cân đo bằng một hình phạt tương xứng. Ngày Chúa Nhựt mà bỏ lễ, trốn đi câu cá hay bắt dế là phạm tội trọng. Mà hễ phạm tội trọng thì đương nhiên chết phải sa hỏa ngục tức khắc. Ngay cả “làm việc xác” ngày Chúa Nhựt cũng là một tội trọng. Thành ra, lúc nào mẹ tôi cũng căn dặn anh em tôi: làm gì thì làm, ngày Chúa Nhựt không được trèo cây, Chúa sẽ phạt “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” thì chỉ có nước đi hỏa ngục “đời đời kiếp kiếp chẳng cùng” mà thôi!
Phải thú nhận rằng, thời niên thiếu, bên cạnh vô số những kỷ niệm đẹp nhứt trong cuộc đời, lúc nào tôi cũng cảm thấy bị “khủng bố” và phải sống trong sợ hãi triền miên.Tôi “giữ đạo” vì sợ. Quan hệ của tôi với Thiên Chúa là quan hệ của sợ hãi hơn là kính mến.
Cũng may, càng thêm tuổi đời, niềm tin tôn giáo của tôi càng được tinh  luyện: hình ảnh của một Thiên Chúa lúc nào cũng rình rập để trừng phạt con người ngày càng vơi đi để nhường chỗ cho một Thiên Chúa gần gũi hơn để tha thứ, để cảm thông, ngay cả để khóc trước nỗi  khổ đau của con người hơn là trừng phạt. Thật ra, nhân loại dường như cũng ngày càng trưởng thành hơn để không còn quy cho Thiên Chúa những hình phạt mà con người phải gánh chịu.
Trong cuốn sách “Brief Answers To Big Questions” (Những giải đáp ngắn cho những câu hỏi lớn) được xuất bản năm 2018, tức một thời gian ngắn sau khi ông qua đời, nhà bác học nổi tiếng Stephen Hawking viết rằng khoa học ngày càng trả lời cho những câu hỏi vốn trước kia thuộc lãnh vực tôn giáo. Trước kia, con người cho rằng Thiên Chúa làm mọi sự: động đất, bão lụt, cháy rừng, hạn hán, mất mùa và mọi thứ ôn dịch, nếu không là một lời cảnh cáo của Thiên Chúa thì cũng là sự trừng phạt mà Ngài giáng xuống trên con người vì  tội lỗi của họ. Ngày nay, khoa học nói với tôi rằng tất cả mọi thiên tai đều là những hiện tượng tự nhiên của trời đất. Tôi tin các nhà khoa học. Gần đây, với bản tuyên ngôn mang chữ ký của 11.000 khoa học gia trên khắp thế giới kêu gọi hãy có hành động tức khắc chống lại khí hậu thay đổi, tôi thấy rằng đây là một hiện tượng mà con người không thể ngay cả nhân danh tôn giáo để phủ nhận.
Tệ hại hơn cả việc nhân danh tôn giáo để phủ nhận một hiện tượng tự nhiên, có người còn nại đến uy danh của Thiên Chúa để sát hại vô tội vạ người đồng loại của mình. Thật ra đâu chỉ có tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo” mới nhân danh Đấng Allah vĩ đại để biện minh cho hành động tội ác của họ. Trong phần cuối của bài diễn văn về tình trạng liên bang dạo tháng Giêng năm 2003, trước khi đem quân sang đánh Iraq,  Tổng thống George W. Bush cũng đã nại đến Thiên Chúa để tiến hành cuộc xâm lăng. Tổng thống Bush nói: “Người Mỹ là một dân tộc tự do. Họ biết rằng tự do là quyền của mỗi một con người và tương lai của mọi dân tộc. Tự do mà chúng ta trân quý không phải là quà tặng của Hoa Kỳ cho thế giới mà là quà tặng của Thiên Chúa cho nhân loại”.
Mặc cho Liên Hiệp Quốc và rất nhiều nước Tây Phương có phản đối, Tổng thống Bush vẫn ra lệnh cho quân đội hùng mạnh của Hoa Kỳ tấn công và xâm chiếm Iraq để gọi là đem “món quà tặng của Thiên Chúa” là tự do đến cho dân tộc Iraq. Có thể sau cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ, nhân dân Iraq đã được giải thoát khỏi ách cai trị độc tài của Saddam Hussein và hưởng được tự do. Tổng thống Bush và nhiều người Mỹ hẳn cũng hãnh diện vì đã hoàn thành “sứ mệnh” được Thiên Chúa trao phó là mang tự do đến cho nhân dân Iraq.
Trên đồng bạc của Hoa Kỳ lúc nào cũng có câu “Chúng tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa” (In God we trust). Nhiều người Mỹ vẫn tự hào mình là một dân tộc “dưới quyền Thiên Chúa” (a nation “under God”). Vì luôn được Thiên Chúa ưu ái dẫn dắt cho nên nhiều người cũng tin rằng ngay cả nguyên thủ quốc gia của họ cũng được Thiên Chúa tuyển chọn. Đương kim Tổng thống Donald Trump vẫn tiếp tục được rất nhiều người tin tưởng như người được Thiên Chúa chọn (The Chosen One) và sai đến để chấn hưng các giá trị truyền thống của Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà ông vẫn được tin tưởng và ủng hộ ngay cả khi nếu ông có tỉnh bơ rút súng bắn  người ở đại lộ Fifth Avenue, New York ngay giữa thanh thiên bạch nhựt.
Tôi không tin có môt Thiên Chúa như thế. Hoặc như tác giả Ký Gà của tờ Thời Báo bên Giã Nã Đại đã mỉa mai, nếu Thiên Chúa đã tuyển chọn Tổng thống Trump thì có lẽ Ngài đã say xỉn!
Là một người hữu thần, tôi tin có một Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã dùng cả cuộc sống và cái chết của Ngài để tỏ lộ. Đó là một Người Cha yêu thương và tha thứ hơn là trừng phạt. Đó là một Thiên Chúa mà tôi chỉ có thể cảm nhận được sự hiện diện và tác động qua những cử chỉ yêu thương, tha thứ, cảm thông, khoan nhượng và tử tế hơn là thái độ thù hận, hung hăng và ích kỷ của con người.








Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

Phân hóa quốc Hoa Kỳ



Chu Thập
Christine M nói rằng người dượng ghẻ của cô đã không bay đến Tiểu bang Utah để dự đám cưới của cô. Lý do là vì 2 người có lập trường chính trị khác nhau: cô là người chống Tổng thống Donald Trump, còn ông thì lại phò Trump. Justin M sẽ không đội cái mũ có khẩu hiệu MAGA (Make America Great Again, “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” của ông Trump) tại quê quán của mình là thành phố Boston vì sợ bị làm nhục. Richard G, một cử tri không ủng hộ đảng nào tại Tampa, Tiểu bang Florida, thì lại dán trước cửa nhà khẩu hiệu “No Political Zone” (khu vực phi chính trị), sau khi bị nhiều bạn đồng nghiệp của mình, vốn là những người ủng hộ ông Trump, khiêu khích ông tranh luận về những đề tài chính trị nóng bỏng nhất.
Mano Benavente,  một người thuộc đảng Cộng Hòa tại Tiểu bang North Carolina, đưa ra nhận xét: “Hiện nay tranh luận chính trị là một cuộc đấu võ  đẫm máu”.
Trên đây chỉ là một vài mẩu chuyện điển hình về thực tế mà người Mỹ hiện nay đang phải đương đầu. Nhiều bậc phụ huynh không còn muốn cho con cái mình lấy những người thuộc một đảng khác. Có đến 35 phần trăm những người thuộc đảng Cộng Hòa và 45 phần trăm những người ủng hộ đảng Dân Chủ có chủ trương như thế. Những người công nhân, như ông Richard G, cho rằng không nên đưa chính trị vào chỗ làm việc. Và phần đông người Mỹ không muốn đưa chuyện của Tổng thống Trump ra bàn bạc trong bữa tiệc gia đình nhân ngày Lễ Tạ Ơn hàng năm. Một số người có lý để lo ngại rằng Hoa Kỳ đang trên bờ vực của một cuộc Nội Chiến.
Trong năm 2019 này, chỉ có một điều hiện đang liên kết mọi người Mỹ lại với nhau. Điều đó là: họ đang chia rẽ biết chừng nào!  Thật vậy, theo Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo (The Public Religion Research Institute), có 91 phần trăm người Mỹ cảm thấy Hoa Kỳ đang bị phân cực và 74 phần trăm cho rằng họ “cực kỳ” chia rẽ!
Hiện nay chính trị là giềng mối chính gây căng thẳng cho người Mỹ. Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Pew (The Pew Research Center) khoảng 50 phần trăm những người ủng hộ đảng Cộng Hòa và gần 60 phần trăm những người theo đảng Dân Chủ nói rằng thảo luận về một số vấn đề có tính đảng phái như phá thai, di dân hay kiểm soát súng đạn, có thể tạo ra căng thẳng và thất vọng. Và cường độ căng thẳng có thể dẫn đến những chứng như tức ngực, nhức đầu và mất ngủ. Thành ra không có gì phải ngạc nhiên khi có nhiều người Mỹ nhìn nhận rằng họ mất ngủ và bị trầm cảm vì những căng thẳng chính trị.
Nhưng tệ hại hơn nữa, sự phân hóa chính trị lại gia tăng nguy cơ bạo động. Một khi đã bắt đầu tự nhận mình thuộc đảng này hay đảng kia, người ta tự cô lập và ngày càng có cái nhìn cực đoan. Theo các số liệu của 2 cuộc thăm dò trên toàn quốc, 15 phần trăm người Mỹ tự nhận thuộc đảng Cộng Hòa và 20 phần trăm theo đảng Dân Chủ cho rằng đất nước Hoa Kỳ sẽ tốt đẹp hơn nếu những người thuộc đảng bên kia “chết tiệt” cho rồi! Và gần 10 phần trăm những người tự nhận thuộc về đảng này hay đảng kia nghĩ rằng bạo động là điều có thể chấp nhận được nếu ứng cử viên thuộc đảng kia thắng cử. Mặc dù những cá nhân suy nghĩ như thế chỉ là một thiểu số, nhưng một suy nghĩ như thế quả là điều đáng báo động.
Dĩ nhiên, đây không phải là lần đầu tiên có một sự phân hóa chính trị như thế tại Hoa Kỳ. Thời kỳ lập quốc, tổng thống Mỹ đầu tiên, George Washington, đã cảnh cáo về những nguy hiểm của óc bè phái. Trong bài diễn văn từ giã, ông nói: “Nó (óc bè phái) khuấy động cộng đồng bằng những sự ganh tỵ không có nền tảng và nuôi dưỡng bạo động và nổi loạn”.
Những lời cảnh báo của vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã trở thành hiện thực không đầy 100 năm sau đó khi vấn đề nô lệ làm cho cuộc Nội Chiến bùng nổ. Cuộc chiến tranh này đã ngốn 750.000 mạng người, tức khoảng 2 phần trăm dân số. Tuy nhiên vào năm 1865, khi cuộc chiến kết thúc, người ta vẫn không thấy được một tương lai đoàn kết cho Hoa Kỳ.
Tính từ Cuộc Đại Khủng Hoảng cho đến Chiến Tranh Việt Nam, Thế kỷ 20 đã được đánh dấu bằng những giai đoạn chia rẽ về bất bình đảng kinh tế, ý thức hệ chính trị và việc sử dụng sức mạnh quân sự. Dù vậy, qua những giai đoạn ấy, lúc nào Hoa Kỳ cũng tìm được thế quân bình. Còn hiện nay, quả lắc đồng hồ dường như đã nghiên hẳn về cực điểm.
Cách đây 40 năm, hầu hết các đơn vị bầu cử đều trong tình trạng bấp bênh, nghĩa là không nghiêng hẳn về một đảng nào. Nay con số này chỉ còn lại một nửa. Ngày càng có nhiều người dọn đến những nơi mà họ nghĩ là sẽ không còn phải gặp những người không có cùng lập trường chính trị với họ.
Thật ra, phần lớn người Mỹ không phải là những người sống chết cho đảng phái. Họ là “đám đông mệt mỏi”, uyển chuyển trong chính trị và cởi mở để thỏa hiệp, nhất là khi họ muốn thấy có luật pháp rõ ràng về một số vấn đề như cải tổ luật sở hữu súng đạn chẳng hạn. Tưu trung, phần đông người Mỹ vẫn còn tỏ ra tha thiết với những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc dân tộc của họ hơn là những bất đồng về quan điểm chính trị.
Tại một bữa tiệc được mệnh danh là “Đi tìm nước Mỹ” (Looking for America) được tổ chức tại Bảo tàng viện Lịch sử của Thành phố El Paso, Tiểu bang California,  khách mời được đề nghị mang đến một kỷ vật nói lên mối liên hệ của họ với cộng đồng.
Andrea Beltran, một văn thi sĩ có khuynh hướng tự do, đã chia sẻ tấm thẻ thông hành của bà cố nội của cô hồi năm 1920. Lúc đó nội tổ của cô chưa phải là công dân Mỹ. Theo Andrea Beltran, tấm thẻ thông hành này cho thấy “căn cước” là một điều rất khó để định vị và định nghĩa”. Trong bầu khí mà cô cho là “nặng mùi chủ nghĩa ái quốc và dân tộc” hiện nay, bà cố nội của cô nhắc nhở cô rằng nếu chỉ dựa trên thẻ khai sinh để xác định ai mới thực sự là người Mỹ là một điều vừa phức tạp vừa nguy hiểm.
Một thực khách khác là ông John Moye, một người thuộc đảng Cộng Hòa nhưng ôn hòa, mang theo một bài báo của tờ El Paso Times hồi năm 1944. Bài báo kể lại kinh nghiệm của cha ông, một tù binh trong thời Đức Quốc Xã. Cha ông đã nhập ngũ một ngày sau khi Trân Châu Cảng bị Nhật Bản tấn công. Ông đã bị bắt làm tù binh 10 tháng và sau đó trở về Texas. Ông Moye nhấn mạnh rằng bài báo đã cho thấy vào cao điểm của Đệ nhị Thế chiến, “người Mỹ đã xả thân hy sinh và không đòi hỏi phải được đáp trả nhiều”. Theo ông, đây là tinh thần ái quốc thực sự mà ông sợ rằng người Mỹ hiện nay đã đánh mất.
Tuy không đồng quan điểm chính trị, nhưng cả cô Beltran lẫn ông Moye đều muốn nhấn mạnh đến những giá trị nền tảng của Hoa Kỳ. Cô Beltran đã chọn tấm thẻ thông hành của một người không phải là công dân Mỹ để nói đến tính phức tạp và đồng thời cũng là vẻ đẹp của bản sắc người Mỹ: đa chủng tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ được xây dựng trên sự đóng góp của người di dân. Quan niệm hẹp hòi về bản sắc dân tộc chỉ làm thiệt hại cho đất nước mà thôi!
Về phần mình, ông Moye nêu cao tầm quan trọng của sự xả thân hy sinh của bậc tiền bối khi nói đến bản sắc dân tộc. Thời đó, người Mỹ đoàn kết với nhau xung quanh cùng một chính nghĩa và ý thức mạnh mẽ về cộng đồng của mình. Ngày nay, đối với nhiều người, chính nghĩa và ý thức về cộng đồng đã trở thành thứ yếu.
Sự kiện hai người khác chính kiến như cô Beltran và ông Moye đã có thể ngồi chung trên một bàn ăn cho thấy, cho dẫu không có cùng một lập trường chính trị, người Mỹ vẫn có thể ngồi lại với nhau.


Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa


Chu Thập
4/11/19
Vì kém trí nhớ tôi ghét học thuộc lòng. Dó chính là lý do tôi không thích thơ và vì không thích thơ cho nên tôi dốt thơ. Có lận lưng được vài câu để “chém gió” thì hầu hết cũng đều là những câu đã được phổ nhạc. “Khúc Thụy Du” của thi sĩ Du Tử Lê, người vừa mới ra đi hôm mùng Bảy tháng Mười vừa qua, là một điển hình. Tôi thuộc vài câu trong ca khúc được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc này là nhờ tiếng hát của ca sĩ Tuấn Ngọc và câu mở đầu trong bài hát là câu tôi ưng ý nhứt, nhưng cứ ngẫm nghĩ mãi mà vẫn không hiểu được hết ý của tác giả. “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, không biết nhà thơ có muốn giải thích câu thơ mở đầu ca khúc không khi ông than thở: “Sẽ lấy được những gì /Về bên kia thế giới”.
Dù sao cứ mỗi lần nghe câu “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, tôi đều nghĩ đến thông điệp mà bất cứ ai khi nằm xuống, dù an bình hay tức tưởi, dù nguyên vẹn hình hài hay tan xương nát thịt, dù được ca ngợi hay nguyền rủa...cũng đều nhắn gởi cho người còn sống.
Tôi đặc biệt nghĩ đến 2 người nổi tiếng vừa mới ra đi cùng một ngày, hôm 27 tháng Mười vừa qua. Trước hết là Ivan Milat, kẻ giết người hàng loạt khét tiếng nhứt trong lịch sử Úc Đại Lợi. Với 7 án tù chung thân, cho tới lúc ra đi vì bệnh ung thư ở tuổi 74, Milat vẫn không hề để lộ bất cứ một dấu hiệu nào của hối hận và thốt lên bất cứ một lời xin lỗi nào với thân nhân của các nạn nhân.
Nhưng thành tích giết người của Milat chẳng nhằm nhò gì so với con số nạn nhân của Abu Bakr al-Baghdadi, thủ lãnh của tổ chức khủng bố “Quốc gia Hồi giáo”, người vừa bị quân đội Mỹ săn lùng và hạ sát.
Khác nhau về con số nạn nhân, về cường độ của sự hung ác, nhưng từ cổ chí kím, mẫu số chung nối kết tất cả những hung thần trong lịch sử nhân loại vẫn là: sự hối hận và hai tiếng “xin lỗi” không hề có trong trái tim và cửa miệng của họ! Nơi họ không hề có phân ranh giữa thiện và ác.
Nghĩ đến sự độc ác của con người đối với người đồng loại của mình tôi thường liên tưởng đến cuốn phim “Những tên sát nhân bẩm sinh” (Natural Born Killers) do đạo diễn Mỹ Oliver Stone thực hiện hồi năm 1994. Cuốn phim kể lại câu chuyện của một đôi trai gái đã từng là nạn nhân bị lạm dụng lúc còn nhỏ. Họ đã gặp nhau, yêu nhau và trở thành những kẻ giết người hàng loạt. Điều mỉa mai là đôi tình nhân giết người hàng loạt này lại được các cơ quan truyền thông ngưỡng mộ và đề cao!
Tôi luôn lạc quan về bản tính con người. Giáo lý Kitô Giáo dạy tôi rằng dù có bị hoen ố vì điều gọi là tội nguyên tổ, còn người vẫn không hoàn toàn bị sa đọa. Minh triết của Đông Phương lại bảo “nhân chi sơ tính bản thiện”. Tôi tin ở “bản thiện” của con người. Nhưng cái “bản thiện” ấy chỉ là một hạt giống. Nó  cần được ươm trồng, tưới tẩm và chăm bón mới có thể nẩy mầm, triển nở và sinh hoa kết trái. Không được dạy dỗ và sống giữa xã hội loài người, dù cho bản tính có tốt đến đâu, con người không thể lớn lên như một người bình thường, nghĩa là biết phân biệt phải trái hay thiện ác. “Được nuôi dưỡng bởi chó sói” (Raised by Wolves) là một chủ đề rất quen thuộc trong phim ảnh, ca nhạc của các nước Tây Phương. Trong một ca khúc có tựa đề “Được nuôi dưỡng bởi chó sói”, ca nhạc sĩ Bono của nhóm U2 đã nói đến sự độc ác bẩm sinh của con người khi chứng kiến một vụ đặt bom tại Thành phố Dublin, Ái Nhĩ Lan vào năm 1974, ngay lúc ông đạp xe đến trường. Điệp khúc “Được nuôi dưỡng bởi chó sói” cứ được lập đi lập lại như có ý nói lên rằng nếu không được nuôi dạy một cách bình thường, con người không thể phân biệt được thiện ác và như vậy có thể cư xử một cách tàn bạo, độc ác với người đồng loại.
Thánh Mười Một hàng năm, theo truyền thống của Kitô Giáo, là tháng dành để đặc biệt tưởng nhớ người quá cố, suy tư về sự chết và dĩ nhiên thân phận con người. Lời mời gọi của thi sĩ Du Tử Lê “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, đến thật đúng lúc. Không nơi nào dễ gợi lên những suy tưởng về thân phận con người cho bằng nghĩa trang, nhứt là khi đứng trước ngôi mộ của người thân. Có ai đi vào nghĩa trang mà không nghe văng vẳng lời nhắc nhở: “bụi tro trở về bụi tro” (ashes to ashes, dust to dust). Nhớ đến thân phận “bụi tro trở về bụi tro” cũng có nghĩa là ý thức về những giới hạn, bất toàn của mình về thể chất lẫn tinh thần. Kiếp sống mong manh như hoa sớm nở tối tàn đã đành mà tinh thần cũng đầy dẫy những khuyết tật luôn lôi kéo con người chạy theo những bản năng thấp hèn. Do đó, ý thức về kiếp “bụi tro trở về bụi tro” cũng đồng nghĩa với ý thức về đòi hỏi phải khiêm tốn.
Thời trung học, khi học về hai chữ “khiêm tốn” trong một số ngôn ngữ Tây phương (humilitas,humilité, humility), tôi được các giáo sư dẫn giải rằng từ này bắt nguồn từ tiếng La Tinh “humus” có nghĩa là “đất”. Do đó, khiêm tốn cũng có nghĩa là ý thức về nguồn gốc “bởi đất” hay “tro bụi” mà ra của mình. Chính trong ý nghĩa ấy mà thời xa xưa mỗi khi bày tỏ sự sám hối, người Do Thái thường rắc tro trên đầu hay nằm lên tro bụi. Nhưng dù có thuộc truyền thống văn minh nào đi nữa và dù có sử dụng biểu tượng nào đi nữa, cốt lõi của sự khiêm tốn vẫn là  ý thức về thân phận bất toàn của mình và bày tỏ sự hối hận về những lồi lầm của mình, nhứt là khi những lỗi lầm ấy xúc phạm hay làm tổn thương người khác cách này cách khác.
“Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa”, câu thơ thi sĩ Du Tử Lê đã khiến tôi nghĩ đến cái chết của lãnh tụ Baghdadi của “Quốc gia Hồi giáo”. Nghĩ đến người đã bị giết chết, tôi cũng không thể không liên tưởng đến kẻ chiến thắng là Tổng thống Donald Trump. Các cơ quan truyền thông của Mỹ và cả thế giới đã bàn luận rất nhiều về giọng điệu của ông khi loan báo về việc quân đội Mỹ hạ sát ông Baghdadi. Nghe lại giọng điệu huênh hoang và đắc thắng của Tổng thống Trump, tôi lại nghe vọng lại lời ước nguyện  của một trong những vị tướng lãnh tài ba của Hoa Kỳ là ông Douglas MacArthur (1880-1964): “Lạy Chúa, xin làm cho con thành một người con biết hãnh diện và đứng vững trong chiến bại và khiêm tốn và tử tế trong chiến thắng”.
Tôi cũng nghĩ đến đứa cháu ngoại 6 tuổi của bà chị tôi. Một hôm đang lúc ngồi bên cạnh nó, tôi hắt hơi liên tục mấy cái. Thấy tôi cư xử như chẳng hề có chuyện gì đã xảy ra, nó quay sang tôi và nhắc: Ông Mười “say sorry” đi!  Sự nhắc nhở của nó làm tôi nhớ lại cuốn sách có tựa đề “Tất cả những gì tôi thật sự cần biết, tôi đã học ở nhà trẻ” (All I need to know I learned in Kindergaten) của tác giả Robert Fulghum mà tôi đã đọc cách đây rất lâu. Thì ra ở nhà trẻ, người ta đã dạy cho đứa cháu ngoại của bà chị tôi biết “xin lỗi” mỗi khi làm một điều gì đó có thể làm tổn thương hay làm phiền người khác.
Thật ra, không những ngay từ tuổi thơ, mà ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống, ai mà chẳng cần phải học sống khiêm tốn trong cách cư xử với người đồng loại của mình. Và đã là học, nhứt là học  làm người thì không bao giờ có ngày mãn khóa.


Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2019

Nguy hiểm của những nhà lãnh đạo điên cuồng



David P. Barash Ph.D
Chu Văn chuyển ngữ
Có cả một lịch sử dài của những nhà lãnh đạo bệnh hoạn và lịch sử này vẫn tiếp diễn.
Người ta kể rằng văn sĩ Mỹ Francis Scott Key Fitzgerald (1896- 1940) đã có lần nói với văn hào Ernest Hemingway: “Người giàu khác với anh và tôi”. Hemingway đáp lại: “Đúng vậy, họ có nhiều tiền hơn”. Cũng thế, nhiều người giả định rằng các nhà lãnh đạo quốc gia khác với bạn và tôi và không chỉ vì họ thường có nhiều tiền hơn, mà vì sức khỏe tâm thần của họ cũng được cho là ổn định hơn.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều trường hợp sự ổn định (tinh thần) của các nhà lãnh đạo chính trị bị đặt vấn đề và một số khác thì rõ ràng là bệnh hoạn. Đây là trường hợp của hoàng đế La Mã Caligula. Ông này nổi tiếng vì thói hoang dâm và vì đã ra lệnh giết người để mua vui. Đó là chưa kể đến những bại hoại khác. Vào thời Trung Cổ ở Pháp có vua Charles VI. Ông này tin rằng mình được tạo thành bằng kiếng và lo sợ mình có thể bị vỡ bất cứ lúc nào. Tại Bavaria có Ludwig II, người được mệnh danh là ông vua điên. Ông này mắc chứng mà ngày nay người ta gọi là bệnh Pick, một chứng lú lẫn. Ngoài ra ông còn bị bịnh lẫn do phần não phía trước và hai bên thái dương bị hoại và rối loạn nhân cách. Riêng vua George III của nước Anh mắc chứng đa ngôn (logorrhea), lúc nào cũng cảm thấy có nhu cầu phải nói và viết đến độ thường không ai hiểu ông muốn nói gì. Ngoài ra ông cũng còn mắc chứng tâm thần phân liệt.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ rất hạn chế. Chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng nắm giữ một vai trò chính trị có nhiều trách nhiệm không đương nhiên là một bảo đảm để khỏi mắc bệnh tâm thần.
Nữ văn sĩ kiêm ký giả người Anh Rebecca West (1892-1983) có nói: “Chỉ có một phần trong chúng ta là lành mạnh. Chỉ có một phần trong chúng ta yêu thích khoái lạc, sống hạnh phúc lâu dài, sống tới 90 tuổi và chết bình an...” Không cần phải có cả một kho tàng khôn ngoan để nhận ra rằng bệnh tâm thần mãn tính không phải là nguyên nhân duy nhất khiến con người có cách hành xử “điên cuồng”: chúng ta thường hành động vì nhận thức sai, vì nóng giận, vì thất vọng, vì cố chấp, vì muốn báo thù, vì kiêu hãnh và vì óc giáo điều, nhất là khi bị đe dọa. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh -  như khi cả hai bên đều tin rằng chiến tranh là điều không thể tránh được hoặc bị áp lực phải tránh mất mặt- một hành động điện rồ, kể cả gây chết người, lại được xem là hợp lý, ngay cả được coi là điều không thể tránh khỏi.
Khi ra lệnh tấn công Trân Châu Cảng, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản giải thích rằng “Đôi khi cần phải nhắm mắt lại và nhảy xuống khỏi Đền Thờ Kiyomizu” (một nơi tự tử nổi tiếng bên Nhật). Trong thời Đệ nhất Thế chiến, Hoàng đế Wihelm viết bên lề một tài liệu chính phủ rằng “Ngay cả nếu chúng ta bị tiêu diệt đi nữa thì nước Anh cũng ít nhất mất Ấn Độ”.  Trốn trong hầm trú ẩn trong những ngày cuối cùng của Đệ nhị Thế chiến, Adolf Hitler ra lệnh làm điều mà ông ta hy vọng sẽ là sự hủy diệt hoàn toàn của Đức, bởi vì ông cảm thấy dân chúng đã “bỏ rơi” ông.
Cả hai vị tổng thống Woodrow Wilson (1856- 1924) và Dwight Eisenhower (1890- 1969) đều đã bị tai biến mạch máu não trầm trọng trong lúc còn làm tổng thống Hoa Kỳ. Boris Yeltsin, tổng thống Liên bang Nga từ năm 1991 đến năm 1999, đều được biết đến như một người nghiện rượu đến độ cứ sau mỗi lần uống xả láng là nói năng không mạch lạc và mất phương hướng. Người ta chẳng biết liệu Điện Cẩm Linh có bất cứ kế hoạch nào không để đối phó với những cuộc khủng hoảng quân sự dưới thời của Yeltsin.
Richard Nixon cũng là một tay nghiện rượu nặng, nhất là khi gặp căng thẳng khi phải đối phó với vụ Watergate khiến cho ông cuối cùng đành phải từ chức. Trong thời gian đó, Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger đã làm một bước phi thường là đòi hỏi phải được thông báo về bất cứ lệnh nào của tổng thống có liên quan đến vũ khí nguyên tử trước khi được thực hiện.
Mặc dù đi ngược lại Hiến Pháp, nhưng một cách khôn ngoan, ông Schlesinger và trong một mức độ nào đó, Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia, đã can thiệp để ngăn ngừa chiến tranh, nhất là chiến tranh nguyên tử, nếu Tổng thống Nixon ra lệnh. Với tư cách là thường dân, cả Yeltsin lẫn Nixon, nếu bị men rượu làm cho yếu nhược, đều không được cho phép lái xe. Vậy mà vì ở vị trí lãnh đạo, họ lại có toàn quyền đề khởi động một cuộc chiến tranh nguyên tử!
Trong thời gian tại vị, Tổng thống Donald Trump, vì những nét đặc biệt trong tư cách của ông, đã từng bị nhiều người xem là một mối đe dọa cho an ninh quốc gia. Có thể do tâm bệnh, ông nổi tiếng là người nói dối liên tục và có những triệu chứng đáng lo ngại như tinh thần bất ổn, bốc đồng, kỷ ái, chống xã hội và nhiều căn bệnh mà theo nhiều chuyên gia về tâm bệnh, khiến ông không có đủ khả năng để đảm nhận nhiều chức vụ trong quân đội và chính phủ, chứ đừng nói đến chức vụ tổng thống.
Nixon (và chúng ta) đã may mắn có được một Bộ trưởng Quốc phòng sẵn sàng ngăn cản tổng thống. Nay, các viên chức đã từng đóng vai trò đó như cựu Cố vấn An ninh Quốc gia H.R. McMaster, cựu Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis và cựu Đổng lý Văn phòng John Kelly, đều đã ra đi. Cuộc điều tra luận tội hiện nay đã khiến cho tổng thống Trump có những hành động và lời nói ngày càng kỳ quái: nhìn dưới khía cạnh tâm bệnh học, ông ta không còn thuốc chữa!
Thêm vào đó còn có sự kiện đáng sợ là theo luật pháp, chỉ mình ông có đủ quyền để ra lệnh sử dụng vũ khí nguyên tử và dù có lập trường chính trị nào đi nữa, tình hình hiện nay vẫn rất đáng lo ngại đối với mọi người.

David P.Barash, Ph.D là một nhà sinh vật học về tiến hóa; ông hiện là giáo sư về tâm lý học tại Đại học Washington. Tác phẩm mới nhất của ông là cuốn “Through a Glass Brightly: using science to see our species as it really is” (Nhìn xuyên suốt qua một tấm kính: sử dụng khoa học để nhìn thấy chủng loại của chúng ta đúng với thực chất của nó)


Thứ Năm, 17 tháng 10, 2019

"Khi Đồng Minh tháo chạy" hay là "Hết Thuốc Chữa"




Bài Viết từ thân hữu Ký Gà (Thời Báo Canada)
Kể Chuyện Cuối Tuần có nhiều cái khó hết biết luôn. Đầu tiên là phải kiếm chuyện – không phải gây gổ mà là tìm cho ra một chuyện đáng để kể với độc giả Thời Báo (những người hết sức khó tánh). Rồi khi có kiếm ra được chuyện thì lại cực khổ với việc chọn cho bằng được một cái tựa nói lên được nội dung, ý nghĩa của chuyện, và phải nghe cho được một chút.
Tuần nầy, sau khi kiếm (được) chuyện, KG vướng vô nỗi phân vân giữ hai cái tựa: “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” và “Hết Thuốc Chữa”.
Phân vân vì cả hai tựa đều trúng với nội dung, và đều…hay cả.
Tựa thứ nhứt hay bởi là chôm của người ta, và chủ nhơn của 5 chữ đó là một vị tiến sĩ, không hay sao được. Khỏi nói bạn đọc chắc cũng biết đó là tên một cuốn sách của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng hòa. Cuốn nầy trong một buổi ra mắt năm 2005 ở Cali đã bán sạch 1000 quyển tại chỗ!
Và cũng khỏi phải nói, ai cũng hiểu ngay rằng từ “Đồng minh” mà Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã dùng là để chỉ Huê kỳ, “đồng minh” đã bỏ rơi chánh quyền Việt Nam Cộng hòa và nhơn dân Miền Nam hồi năm 1975.
Nói nhiều về chuyện nầy chỉ làm thêm đau lòng, chảy nước mắt.
Mà cái tựa thứ hai, Hết Thuốc Chữa cũng hay luôn. Bởi nó chánh xác được sử dụng để nói lên kết quả xét nghiệm và hội chẩn của nhiều y sĩ chánh trị về vị nguyên thủ của cái nước đồng minh lại vừa tháo chạy một lần nữa.
Sau khi phân vân, KG thấy nên xài cả hai. Hồi xưa, thỉnh thoảng có những tuồng cải lương các tuồng cải lương được đặt tên như vầy: “Đứa Con Hai Dòng Máu” hay là “Vì Con Nên Mẹ Có Chồng”, vì cả hai đều nói lên nội dung của vở tuồng.
Và “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”hay là “Hết Thuốc Chữa” đều liên can tới một nhơn vật đang làm mưa làm gió đương thời.
Giải thích rồi nghen, xin bắt đầu kể chuyện.
Cuối tuần trước, Huê kỳ đã công bố quyết định rút quân Mỹ ở Syria. Chi tiết của công bố nầy là các lực lượng của Thổ nhĩ kỳ sẽ trách nhiệm các khu vực hiện đang do lực lượng người Kurd kiểm soát ở bắc Syria và các binh sĩ Huê kỳ đang có mặt ở đó sẽ rút đi.
Công bố đó được đưa ra sau cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa ông tổng thống màu da cam (kêu vậy bởi thiệt sự cả tóc lẫn da của ổng đều có một màu như vậy, KG không kỳ thị màu da) của Huê kỳ và ông Erdogan, tổng thống Thổ.
Ngay sau công bố nầy, dư luận lập tức ồn ào và so sánh hành động của Huê kỳ, thiệt sự là quyết định cá nhân của ông Châm, bởi nhiều tướng tá đã khẳng định ổng không “tham vấn” ai hết, khác với màn bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 mà Tiến sĩ Hưng đã kêu bằng “Khi Đồng Minh Tháo Chạy.”
“Người Kurd” trong nội vụ là những chiến binh của nhóm YPG, nằm trong Liên minh SDF (Lực lượng Dân chủ Syria). Mới cách đây ít lâu, ông Châm khoe đã dưới sự lãnh đạo của ổng, Huê kỳ đã “hoàn toàn chiến thắng Nhà nước Hồi Giáo (ISIS).” Ổng nói dóc, thực tế là chính liên minh SDF, trong đó cái xương sống là nhóm YPG gồm vài chục ngàn chiến binh dân quân người Kurd, mới là những dũng sĩ đã đánh bại lực lượng Hồi giáo ISIS. Huê kỳ chỉ giúp vũ khí và lâu lâu bỏ vài trái bom chơi.
Hồi năm 2017, chính Huê kỳ đã xác nhận lực lượng Kurd là cần thiết trong hoạt động tái chiếm tổng hành doanh của Nhà nước Hồi giáo ở Raqqa.
Sở dĩ người Kurd uýnh hăng như vậy là vì đây là quê cha đất tổ của họ, và vì họ tin rằng khi đã xóa sổ được bọn “giặc cờ đen” trong khu vực nầy, họ sẽ được quốc tế – và Huê kỳ, ghi công và bảo vệ để họ sống còn trên quê hương mình, không bị người Thổ đánh đuổi tới mức diệt chủng. Trong lúc đó, Thổ nhĩ kỳ coi người Kurd và nhóm YPG đáng ngại hơn cả ISIS, thậm chí xếp họ vô hàng ngũ “khủng bố”.
Tạp chí Blomberg bình luận: “Quyết định của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump bật đèn xanh cho một cuộc tấn công của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ chống lại các chiến binh người Kurd ở miền bắc Syria đã bỏ rơi một trong những đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong cuộc chiến chống lại Nhà nước Hồi giáo trước một tương lai vô định.”
Facebooker Trương Nhân Tuấn viết (chánh xác) trên trang của ổng như vầy: “Đối với dân quân Kurdes, tổng thống Trump đang hát bài «khi đồng minh tháo chạy». Hôm trước ông Trump có «tuýt» tuyên bố Mỹ đã «chiến thắng» trước ISIS. «Mission accompli», Mỹ rút quân. Có điều «chiến thắng» này ông Trump quên vinh danh các chiến sĩ Kurdes. Quân Mỹ chỉ hiện diện trong khu vực (ranh giới Thổ-Syria) khoảng 2.000 quân, chủ yếu lo về hậu cần, tiếp liệu cho «nững chiến sĩ nơi sa trường» là quân Kurdes. Việc tháo chạy của Mỹ là một hành vi phản bội, được chim bẻ ná, được cá bẻ câu. Tệ hại hơn cả lúc bỏ rơi VNCH.”
Ngay cả một số thượng nghị sĩ Cộng hòa, đảng của Châm, cũng phê phán ảnh. TNS Lindsey Graham, người đã từng ủng hộ Châm than thở: “Hành động bỏ mặc đồng minh của chúng ta (người Kurd ở Sirya) cho người Thổ Nhĩ Kỳ thật là một thảm họa và là một cơn ác mộng!” Ổng tiên đoán…trúng: “Bằng việc bỏ rơi người Kurd, chúng ta đã gửi đi tín hiệu nguy hiểm nhất có thể – Mỹ là một đồng minh không đáng tin cậy và chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi Trung Quốc, Nga, Iran và Triều Tiên hoành hành theo những cách nguy hiểm.” Sau khi tiên đoán …trúng như vậy, ông Graham thú nhận luôn: “lời nói xạo kinh khủng nhất của chánh quyền Trump là ISIS đã bị hoàn toàn đánh bại”.
Báo USA Today nhận xét như vầy: “Hành động phó mặc đồng minh như chú cừu giữa bầy sói Thổ-Sirya-Iran quả đúng là “một vết nhơ cho người Mỹ không hơn không kém”.
Ngay sau quyết định của ông Châm, biết rằng cửa đã mở, Thổ nhĩ kỳ mở cờ trong bụng. Ba bữa sau, hôm thứ Tư, ông Erdogan cho mở chiến dịch “Mùa Xuân Hòa bình”, điều quân vô khu vực sau khi oanh tạc và pháo kích vô các vị trí của dân quân YPG Kurd và các kho đạn dược xung quanh các thị trấn biên giới Thổ – Syria. Dân chúng, đa số là người tỵ nạn Syria, lại một lần nữa bỏ chạy tán loạn. Có tin YPG chết mất ít người.
Nãy giờ, chắc bạn đọc đã rõ vụ “đồng minh tháo chạy”, nhưng thắc mắc, chớ còn “hết thuốc chữa” ở đâu?
Thủng thẳng chút, nó đây nè, nó cũng liên hệ / liên can / liên lạc tới chuyện Huê kỳ bỏ rơi đồng minh Kurd.
Số là sau quyết định của mình về việc để cho con gà tây Thổ nhĩ kỳ mổ bầy gà tre Kurd bị chỉ trích, Châm vội vã tìm cách chống chế. Ảnh “tuýt” rằng ảnh sẽ dòm chừng Erdogan, và nếu thằng Thổ nầy làm chuyện gì bậy bạ (off limits), ảnh sẽ trừng phạt nó.
Nguyên văn cú tweet của anh như vầy: “Như tui đã mạnh mẽ tuyên bố trước đây và cần nhắc lại, nếu Thổ Nhĩ Kỳ làm bất cứ điều gì mà tui, theo sự khôn ngoan tuyệt vời và chưa ai sánh bằng của tui, coi là vượt quá giới hạn, tui sẽ phá hủy và xóa sổ hoàn toàn nền kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ (Trước đây tui đã từng đã làm (vậy) rồi!)…”
Khoa học, đặc biệt là y học thời nay, đã có những bước nhảy vọt vĩ đại. Rất nhiều thứ bịnh từng được coi là nan y, khó trị, nay đã có thuốc chữa, kêu bằng thuốc đặc trị. Thậm chí tới những bịnh coi bộ sẽ hổng có cách chi trị dứt cho nổi, y khoa đã tìm ra thuốc, hoặc các phương pháp để giữ cho nó không, hoặc chậm phát triển, tỷ như bịnh AIDS, bịnh ung thư, vân vân…
Vậy nhưng có một loại bịnh không có thuốc. Nói cho ngay là có đó, nhưng người bịnh hổng chịu uống, làm sao khỏi? Đó là những bịnh tâm thần và những người bịnh tâm thần.
Hổng có cách gì trị được cho người bịnh nếu họ không chịu dùng thuốc, phải hông? Đặc biệt là ở thời nay, khi người bịnh có quyền từ chối được chữa trị.
Bạn để ý khúc“theo sự khôn ngoan tuyệt vời và chưa ai sánh bằng của tui” chớ!
Khúc đó đã chứng tỏ căn bịnh vĩ cuồng của ông tổng thống Huê kỳ đã tới thời “hết thuốc chữa”.
Bệnh vĩ cuồng hồi xưa Tây kêu bằng mégalomanie, Ăng lê kêu bằng megalomania, từ chuyên môn y học nay kêu bằng “Rối loạn nhơn cách ái kỷ” (Narcisisistic Personality disorder viết tắt là NPD, hổng phải…NDP nghen).
Cẩm nang chẩn đoán của Hội Y sĩ Tâm thần học Huê kỳ (America Psychiatric Association / APA) nói các triệu chứng / biểu hiện của bịnh đó như vầy:
1 – Khoa trương về sự quan trọng của bản thân và muốn người khác trọng vọng mình.
2 – Liên tục hạ nhục, bắt nạt và coi thường người khác
3 – Lợi dụng người khác để đạt được lợi ích cho mình.
4 – Thiếu sự đồng cảm về các tác động tiêu cực mà họ gây ra cho tình cảm, ước muốn và nhu cầu của người khác
5 – Lúc nào cũng bận tâm với những huyển hoặc về quyền lực, thành công, sự thông minh, sức hấp dẫn… (của mình)
6 – Tự cho rằng mình là có một không hai, siêu đẳng và phải liên kết với những người hoặc tổ chức đặc biệt hoặc địa vị cao khác.
7 – Có nhu cầu được người khác luôn ngưỡng mộ mình.
8 – Cho rằng mình có quyền hưởng sự đối xử đặc biệt và sự vâng lời, tuân thủ của người khác.
9 – Hết sức ghen tị với những người khác, và tin rằng những người cũng khác đang ghen tị với mình như vậy.
Hội APA nói chỉ cần có biểu hiện của từ 5 điểm trên đây trở lên thì đã được coi là mắc chứng NPD – vĩ cuồng, rồi.
Bạn thấy ông đương kim tổng thống Huê kỳ có được bao nhiêu điểm?
Nếu bạn cần nhắc lại, thì đây nè:
– Ổng không từ một cơ hội nào để khoe khoang cách thành tích, sự tài giỏi, sự khôn ngoan, sự giàu có của mình, cái gì của ổng cũng phải nhứt.
– Ổng luôn than thở rằng mình bị chơi xấu, bị thiệt thòi, như bị hụt giải Nobel, bị thiệt thòi “cướp mất” hai năm trong nhiệm kỳ của mình không để cho ra tài trị nước.
– Ổng luôn tìm cách tiếp cận các nhơn vật mà ổng cho là vĩ đại (như Putin, Ủn và Tập) trong lúc luôn hạ nhục những người mà ổng coi là thấp hơn ổng…
– Mới gần đấy, ổng từng xác nhận rằng mình là “the chosen one”, người được Trời chọn (hổng biết để làm gì, và nếu xui mà có, thời chắc bữa đó Trời đang xỉn, nhưng Châm phát biểu như vậy khi uýnh Trung cọng bằng đòn kinh tế.)
Cũng cần phải kể thêm vô đó là chuyện ổng làm cho KG nín hổng nổi, phải nói về ổng hoài…
Ký Gà



Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

Nguyện nhân vụ Xì căng đan vè Ukraine: Khi Thuộc cấp muốn lấy lòng Xếp lớn


Bài viết của thân hữu Mai Loan
Trong bối cảnh phân hoá chính trị quá sâu đậm hiện nay trên chính trường cũng như trong xã hội nước Mỹ ngày nay theo đúng nghĩa của thành ngữ “Sư nói sư phải, Vãi nói vãi hay”, mọi cuộc tranh luận nghiêm túc dường như khó lòng được chấp nhận vì phe nào cũng nghĩ rằng đối phương chỉ mong tìm đủ cách để hạ gục mình, và do đó tất cả những luận cứ của họ, cho dù có kèm theo những bằng chứng cụ thể khó thể chối cãi được, cũng gần như bị bỏ lơ, nói gì đến chuyện mọi người có thể bình tâm để lắng nghe và suy xét.
Ngay cả giới truyền thông cũng trở thành nạn nhân trong tình cảnh chia rẽ nặng nề này khi mà công việc điều tra và tìm hiểu sự thật có thể sẽ khiến cho nhiều người phải mất vui vì những sự thật đầy bất lợi cho những niềm tin của họ về một lãnh tụ mà họ đã lỡ và tiếp tục ca tụng từ bấy lâu nay như trường hợp của đương kim TT Trump. Ông Trump chỉ cần gán cho nó cái mũ “Fake News” để đánh phủ đầu tất cả những bài viết điều tra và chứng minh sự thật cho mọi người cùng biết, và từ đó những người ủng hộ ông sẵn sàng vin vào đó để tin theo.
Chính vì thế mà nhiều người cứ mở đầu câu chuyện hoặc bài viết của mình bằng một nhận định tổng quát rằng TT Trump từ ngày lên cầm quyền đến nay đã luôn bị phe đối lập và đảng Dân Chủ luôn tìm cách đánh phá với đủ loại chiêu trò, dù rằng nước Mỹ dưới thời của ông đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp v.v.

Nhưng cũng chính những người ủng hộ cuồng nhiệt này cho TT Trump lại không bao giờ chịu bình tâm và kiên nhẫn để tìm hiểu xem việc giới truyền thông đã chứng minh rõ ràng, và khó thể chối cãi được, chuyện TT Trump cũng là người đã có những lời nói được đánh giá là sai trái, lật lọng, nói trước rồi phủ nhận sau đó v.v. tổng cộng lên đến hơn 10,000 lần trong gần 3 năm qua, và con số này còn tiếp tục gia tăng nữa vì mỗi ngày ông tiếp tục phun ra những lời phát biểu “văng mạng” một cách thản nhiên khi thấy rằng điều đó chưa mang lại một hậu quả tai hại cụ thể nào.
Một chính trị gia tầm cỡ, một vị nguyên thủ quốc gia chỉ cần có một lời nói sơ hở hoặc sai trái thường cũng đủ là đề tài khiến mọi người có quyền bình phẩm và chỉ trích, huống gì là một vị tổng thống lại nói dối đến cả chục ngàn lần, bảo sao giới truyền thông có thể im lặng đồng tình và do đó họ đã bị chụp mũ cho là thiên vị chỉ vì phải đảm đương chức năng truyền thông của mình. Cho dù là về sau này, người ta đã thấy là có rất nhiều những nhà báo và phóng viên của các hệ thống truyền thông bảo thủ rõ rệt như tờ Wall Street Journal hoặc đài Fox News cũng đã nhiều lần vạch ra rất nhiều điều sai trái từ phía TT Trump và những người cố tình biện hộ hoặc bao che cho ông.
Thậm chí có nhiều người còn biện hộ một cách miễn cưỡng rằng họ biết rõ ông Trump không phải là một người ăn nói lịch sự, hoặc có thể thay đổi những lời nói và luận điệu vì đó là thói quen và sở trường của ông, vốn là một doanh gia đã thành đạt trong ngành địa ốc nên nhiều khi phải sử dụng đến những thủ đoạn đó trong việc làm ăn. Và họ sẵn sàng đi đến kết luận rằng miễn là cuối cùng TT Trump đem lại quyền lợi cho nước Mỹ (dưới cái nhìn chủ quan của họ) hoặc có những lời nói và quyết định hạp ý với mình là đủ để họ sẵn sàng tiếp tục ủng hộ ông ta.
Thí dụ điển hình là trường hợp những lãnh tụ tôn giáo theo trường phái bảo thủ giáo điều (Evangelicals) chuyên chống đối các tệ đoan xã hội như mãi dâm, ngoại tình v.v. Họ khó lòng biện hộ cho một ông Trump đã ly dị hai lần để có bà vợ thứ ba, lại không ngần ngại dấu diếm chuyện ngoại tình và đi chơi gái (và còn bỏ tiền ra để mong bịt miệng các nạn nhân), nhưng họ lại chấp nhận chuyện phải bịt mũi để ủng hộ TT Trump chỉ vì ông đã bổ nhiệm những vị thẩm phán bảo thủ cực hữu vào Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ để bảo đảm rằng ngành tư pháp tại nước Mỹ sẽ tiếp tục con đường bảo thủ về xã hội trong một thời gian dài sắp tới.
Câu chuyện bắt đầu nổ lớn và nghiêm trọng hơn khi TT Trump đã tìm cách móc nối với chính quyền các nước khác để mong điều tra về các đối thủ chính trị của mình vì quyền lợi riêng tư, dù rằng điều đó quả tình là phi pháp, xuyên qua việc ông đã bí mật áp lực TT của Ukraine là hãy điều tra về cựu PTT Joe Biden và người con trai Hunter Biden. Để rồi khi sự việc này bị phát giác bởi một nhân viên tình báo tình cờ nghe được và đã “lên tiếng báo động” với văn phòng Tổng Thanh Tra của ngành tình báo là ông Michael Atkinson khiến cho ông Trump phải đành công khai một phần nội dung những cuộc điện đàm này cho mọi người thấy rõ phần nào sự thật.
Tuy vậy, thay vì tỏ ra xấu hổ hoặc hối tiếc vì câu chuyện không hay của mình bị tiết lộ, TT Trump còn trả đũa khi lên tiếng chỉ trích người lên tiếng báo động này với những lời lẽ có tính cách hăm doạ, và sau đó còn “tố mạnh” hơn nữa khi công khai kêu gọi nhà cầm quyền Trung Cộng là hãy nên điều tra xem cha con ông Biden có làm điều gì sai quấy trong thời gian qua hay không.
Những người ủng hộ mù quáng cho TT Trump đương nhiên không thấy có điều gì sai quấy trong vấn đề này, và tiếp tục biện minh rằng đó là chuyện bình thường nếu như quả thật cha con ông Biden có làm điều gì sai quấy hoặc phạm pháp. Cho dù người ta cố tình không thấy một sự phi lý quá lộ liễu là một quốc gia có hệ thống an ninh tình báo hàng đầu trên thế giới với những cơ quan nổi tiếng như FBI, CIA từ nhiều năm qua, kể cả trong nhiệm kỳ của TT Trump, tại sao đã không tìm ra những điều sai trái và phạm pháp đó trong thời gian qua (về cha con ông Biden) nếu như nó đã xảy ra khiến cho một ông tổng thống Mỹ phải đi cầu cứu các chính quyền của những nước kẻ thù như Trung Cộng, Nga Sô để điều tra giúp mình?
Sự việc này khiến người ta nhớ lại chuyện đã gây xôn xao hồi tháng 6 vừa qua khi TT Trump cũng đã thú nhận với xướng ngôn viên trụ cột của đài ABC News là George Stephanopoulos rằng ông không ngần ngại đón nhận những tin tức nói xấu về các đối thủ chính trị cho dù nó được cung cấp bởi các nước kẻ thù như Trung Cộng, Nga Sô thay vì theo lẽ thường mọi người đều phải có nhiệm vụ thông báo cho cơ quan FBI để giải quyết mỗi khi họ nhận được những tin tức từ các nước ngoài như vậy. TT Trump lúc đó đã trả lời rằng: “Không có gì sai trái cả khi tôi ngồi nghe họ cung cấp những tin tức như vậy. Điều đó không có nghĩa là một vụ họ xen lấn (vào chuyện bầu cử nội bộ của Mỹ). Bọn họ có được những tin tức. Thế thì tôi nghĩ là tôi sẽ sẵn sàng đón nhận nó. Nếu như tôi thấy có điều gì đó sai trái, từ đó có thể tôi sẽ đi gặp cơ quan FBI.”
Lời xác nhận rõ ràng này đã gây sự căm phẫn từ nhiều chính trị gia thuộc cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà, và đã khiến cho bà Ellen Weintraub, Chủ tịch Uỷ Ban Bầu Cử Liên Bang, phải bắn ra một mẩu tin ngắn trên mạng Twitter để xác nhận rằng việc một ứng cử viên hay một ban vận động tranh cử “thỉnh cầu, đồng ý hay đón nhận bất cứ một thứ gì có giá trị từ một người nước khác liên quan đến chuyện bầu cử tại Hoa Kỳ là một điều phi pháp.”
Và lần này, bà Weintraub cũng đã phải lại lên tiếng lần nữa để nhắc lại cho mọi người biết về lời xác nhận của bà trước đây về tính chất phi pháp của việc đón nhận sự giúp đỡ của một cá nhân hay chính quyền nước ngoài liên quan đến chuyện bầu cử tại nước Mỹ.
Thật ra khi nói đến chuyện vận động tranh cử, người ta có thể không từ bỏ mọi thủ đoạn nào miễn sao nó có lợi cho mình, hoặc bất lợi cho đối phương, cho dù đó là những biện pháp hay chiến thuật sử dụng có tính cách “ma giáo” (negative campaign) kiểu “đánh dưới thắt lưng quần” khiến người đời khó nể phục nhưng đôi khi lại rất hiệu quả. Nhưng dẫu sao đi nữa, các ứng viên tranh cử dù là theo Cộng Hoà hay Dân Chủ, từ trước tới nay vẫn đề ra một lằn ranh không thể vượt qua: đó là họ không thể chấp nhận việc sử dụng những thông tin được cung cấp bởi những người nước ngoài, dù là đồng minh hay kẻ thù, để đánh bại đối phương, có lẽ do bởi tinh thần tự hào quốc gia của họ.
Hơn thế nữa, luật pháp cũng còn quy định rõ ràng điều này là chuyện phi pháp và chắc chắn sẽ phải đón nhận hậu quả của cuộc điều tra bởi chính quyền liên bang. Tuy nhiên với TT Trump, có lẽ vì quá quen với phản ứng phải giành được phần thắng với bất cứ giá nào theo cung cách của một nhà buôn hám lợi, ông không còn coi trọng cái lằn ranh không thể vượt qua đó mà sẵn sàng chấp nhận miễn là nó có thể mang về lợi ích nhất thời cho ông.
Mới đây, một bài phân tích tổng hợp đăng trên tờ Washington Post của bốn nhà báo là Greg Miller, Paul Sonne, Greg Jaffe và Michael Birnbaum đã giúp cho người đọc hiểu rõ thêm phần nào về những diễn tiến của vụ xì-căng-đan đang nổ lớn trên chính trường Hoa Kỳ khiến cho bà Nancy Pelosi, Chủ tịch Hạ Viện, đã quyết định cho tiến hành thủ tục điều tra để luận tội TT Trump trong vụ này, đặc biệt là để xác định xem TT Trump phải chăng đã vi phạm vào nhiều sai phạm nghiêm trọng như lạm quyền chức vụ tổng thống, vi phạm luật lệ bầu cử, phản bội quyền lợi quốc gia, hối lộ, hù doạ nhân chứng và cản trở công lý.
Theo nhà báo Greg Walters phân tích trong một bài báo trên diễn đàn Vice News, thật ra chính quyền liên bang có thể mở một cuộc điều tra để tìm hiểu sự thật chỉ dựa vào một vài hành động mang tính cách ít nghiêm trọng hơn những gì mà TT Trump và các phụ tá cao cấp của ông đã nhúng tay vào. Do đó, cuộc điều tra lần này do Hạ Viện đứng ra chủ trì cũng là điều bình thường, nếu không muốn nói đó là điều cần phải làm bởi những cơ quan điều tra về an ninh của Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, cuộc điều tra này của Hạ Viện cũng cần thiết do bởi Bộ Tư Pháp dưới quyền của ông William Barr và Bộ Ngoại Giao dưới quyền của ông Mike Pompeo đã không hành xử đúng chức năng của mình, để xét xem liệu TT Trump đã phạm vào những sai lầm như sau:
Lạm Quyền Tổng Thống – TT Trump tự ý ngưng khoản viện trợ 391 triệu Mỹ-kim do Quốc Hội Hoa Kỳ đã chuẩn thuận để áp lực buộc Ukraine phải điều tra đối thủ chính trị đáng ngại nhất của ông trong kỳ bầu cử năm 2020 là cựu TT Joe Biden, ứng viên từ nhiều tháng qua vẫn luôn được đánh giá là luôn bỏ xa TT Trump trong tất cả những cuộc thăm dò dân ý, kể cả những cuộc thăm dò trong nội bộ của đảng Cộng Hoà.
Việc tự ý hoãn tiền viện trợ này không dựa trên những lý do chính đáng nào mà chỉ vì những toan tính riêng tư của ông Trump muốn làm hại đối thủ đáng ngại nhất của mình. Như vậy, TT Trump có thể bị luận tội là đã lạm dụng chức vụ nguyên thủ quốc gia để mưu cầu cho lợi ích riêng tư của mình thay vì cho quốc gia theo như lời thề khi nhậm chức.
Bản báo cáo dài 9 trang của nhân viên ẩn danh “thổi còi báo động” cho biết là TT Trump đã yêu cầu TT Zelensky của Ukraine tổng cộng đến 8 lần để mở cuộc điều tra về bố con ông Biden. Không những vậy, ông còn áp lực bằng cách ra lệnh cho PTT Mike Pence hủy chuyến đi đến thủ đô Kiev dự lễ nhậm chức của ông Zelensky như dự định lúc ban đầu, và thay thế bằng một viên chức cấp thấp hơn là Tổng Trưởng Năng Lượng Rick Perry.
Vi Phạm Luật Lệ Bầu Cử – Luật lệ ghi rất rõ rằng bất cứ một người Mỹ nào yêu cầu một người nước ngoài giúp đỡ mình để thắng cử tại Mỹ là đã phạm pháp.
Việc TT Trump áp lực TT Zelensky của Ukraine phải mở cuộc điều tra kiểu “bới lông tìm vết” xem có điều gì sai trái từ cha con ông Biden cho mục đích tấn công trong cuộc bầu cử sắp tới quả tình là việc vi phạm luật lệ bầu cử của Hoa Kỳ. Bằng chứng về cuộc điện đàm giữa hai vị tổng thống ngày 25/7 vừa rồi, đầu tiên do một nhân viên tình báo “lên tiếng báo động” và sau đó được TT Trump công bố cho mọi người nghe, là bằng chứng rõ ràng. Không những thế, TT Trump còn cử luật sư riêng của mình là Rudy Giuliani và Tổng trưởng Tư Pháp William Barr can thiệp với các viên chức của Ukraine nhiều lần về cùng vấn đề này. Vì thế nên nhân viên ẩn danh này đã báo động rằng “chiếu theo nhiệm vụ chính thức của mình, tôi đã nhận được tin tức từ nhiều viên chức chính quyền cho biết rằng TT Mỹ đã sử dụng quyền hành để nài nỉ sự can thiệp từ một chính phủ nước ngoài vào cuộc bầu cử năm 2020.”
Hối Lộ – Theo các cựu công tố viên liên bang, hành động của TT Trump áp lực TT Zelensky trong vụ này có thể được truy tố như là một hành động hối lộ. Luật lệ tại Hoa Kỳ quy định rằng việc hối lộ cũng như đòi hối lộ đều được coi là phạm tội.
TT Trump tự ý ngưng cấp khoản viện trợ 391 triệu Mỹ-kim mà Quốc Hội Mỹ đã đồng ý cho Ukraine để tự bảo vệ trước áp lực đe doạ của Nga, với hậu ý là sẽ tháo khoán số tiền này nếu như TT Zelensky chịu mở cuộc điều tra bố con ông Biden. Điều này có nghĩa là TT Trump đã sử dụng số tiền này, vốn là tiền thuế của người dân Mỹ để hối lộ chính phủ Ukraine làm một việc có lợi riêng cho ông trong chiến dịch tranh cử vào năm tới.
Phản Bội Quyền Lợi Quốc Gia – Quốc Hội Hoa Kỳ, với sự đồng ý của đa số các vị dân cử thuộc cả hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ, đã đồng ý biểu quyết việc cấp viện trợ 391 triệu Mỹ-kim cho Ukraine vì biết rằng quốc gia này đang cần số tiền đó để tăng cường ngân sách quốc phòng trước hiểm hoạ xâm lăng của lân bang Nga. Như vậy, việc ngưng khoản viện trợ này, mà không có lý do chính đáng, không những làm tăng rủi ro cho Ukraine mà còn gây hại đến quyền lợi và an ninh của Hoa Kỳ, vì vô tình làm lợi cho Nga vốn là kẻ thù rất đáng ngại cho quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ. Mà tất cả những hành động tai hại đó được thực hiện chỉ vì quyền lợi nhất thời cho riêng cá nhân TT Trump.
Hù Doạ Nhân Chứng – Sau khi nội vụ được tiết lộ bởi một viên chức ẩn danh đã chịu “thổi còi báo động”, TT Trump bèn áp dụng biện pháp hù doạ cổ điển là chỉ trích người này là gián điệp và muốn tìm hiểu tung tích người đó là ai để đem ra trù dập hay xét xử, dù rằng luật pháp đã có quy định bảo vệ sự an toàn cho người này. Vì thế nên các vị dân biểu chủ tịch các uỷ ban tiến hành thủ tục điều tra luận tội đã đưa ra một bản nhận định chung để cho rằng “lời nhận định của TT Trump là một hành động hăm doạ nhân chứng đáng khiển trách và là một mưu toan cản trở cuộc điều tra của Quốc Hội. Những đe doạ bạo lực từ một vị nguyên thủ quốc gia có ảnh hưởng làm nhụt khí trên toàn bộ tiến trình điều tra, với những hậu quả nghiêm trọng đối với nền dân chủ và an ninh quốc gia.”
Cản Trở Công Lý – Theo báo cáo của người ẩn danh “thổi còi báo động”, sau khi nội vụ có dấu hiệu bị tiết lộ và cảm thấy có điều gì đó bất thường, các phụ tá ở Toà Bạch Ốc đã tìm cách ém nhẹm bằng cách chuyển tất cả hồ sơ ghi âm các cuộc điện đàm này vào một hệ thống máy điện toán đặc biệt giành cho những tài liệu thuộc loại “tối mật” về quốc phòng, với mục đích là không muốn cho nhiều người biết đến.
Hơn nữa, khi văn phòng Tổng Thanh Tra trình báo sự việc lên Tổng trưởng Tư Pháp William Barr để xin mở cuộc điều tra, ông này lại tìm cách ém nhẹm và còn khuyến cáo là không nên chuyển hồ sơ báo động này lên cho Quốc Hội. Như vậy, phụ tá cao cấp của TT Trump là ông tổng trưởng Barr cũng có thể bị cáo buộc tội can dự vào việc cản trở công lý.
Trở về với bài báo phân tích trên tờ Washington Post, các nhà báo điều tra đã phỏng vấn khoảng hơn hai chục viên chức cao cấp đã hoặc đang phục vụ trong chính quyền nhưng muốn giữ kín danh tính để tránh bị các biện pháp trả đũa. Cùng lúc đó, họ cũng đã tìm hiểu tất cả các tài liệu mới vừa được cung cấp bởi các uỷ ban điều tra ở Hạ Viện.
Một trong những nhân vật chủ chốt gây ra vụ xì-căng-đan hiện nay chính là ông Gordon Sondland, hiện là Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Âu Châu, và nguyên nhân chính dẫn đến vụ này cũng bắt nguồn từ việc ông Sondland, cũng như nhiều viên chức thuộc hạ của TT Trump, đều sẵn sàng làm tất cả những hành động gì mà không cần để ý đến tính chất nghiêm túc và hợp pháp của nó, miễn sao nó có thể chứng minh sự trung thành tuyệt đối của họ với sếp trên vì mọi người đều đã rõ về bản tính của TT Trump là chỉ thích mọi người phải trung thành và nịnh bợ mình.
Ông Sondland trước đây không có thành tích gì sáng chói, cũng như không có chút kinh nghiệm nào trong lãnh vực ngoại giao. Nhưng ông có công đóng góp đáng kể là đã bỏ ra số tiền 1 triệu Mỹ-kim vào quỹ thực hiện lễ nhậm chức TT Trump vào đầu năm 2017. Và nhờ thế nên ông đã được ban tặng chức vụ đại sứ, một viên chức cao cấp được bổ nhiệm vì nhu cầu chính trị (political appointee) mà bất cứ tân chính quyền nào cũng thường áp dụng.
Trong những tháng gần đây, ông Sondland đã dần dần lún sâu vào các hoạt động ngoại giao tại Ukraine và có lúc còn qua mặt một viên chức cao cấp hơn là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia John Bolton do bởi một lý do duy nhất: đó là ông đã được sự cho phép bởi TT Trump. Ông đã làm việc tích cực với ông Kurt Volker, Đặc Sứ của Hoa Kỳ tại Ukraine, để lèo lái chính sách ngoại giao sau hậu trường giữa hai nước sau khi TT Trump đã không hài lòng và cách chức một viên chức kỳ cựu trong ngành ngoại giao là bà Đại sứ Marie Yovanovich.
Kể từ giữa tháng Năm vừa qua, mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Ukraine có dấu hiệu rạn nứt sau việc bà đại sứ Mỹ bị triệu hồi mà không có lý do chính đáng. Trong khi đó, vị tân tổng thống đang mong mỏi nhận được sự trợ giúp tích cực từ phía Hoa Kỳ. Nhưng những thông tin trao đổi qua lại giữa các viên chức cao cấp trong thời gian qua cho thấy là hai ông Sondland và Volker đã cùng bàn bạc với nhau và với những viên chức khác của Ukraine để chuyển thông điệp cho vị tân tổng thống Zelensky rằng ông ta sẽ không nhận được viện trợ của Hoa Kỳ, cũng như không được lời mời đến viếng thăm tại Toà Bạch Ốc trừ khi chính quyền của ông cam kết sẽ mở một cuộc điều tra “bới lông tìm vết” về cha con ông Joe Biden mà TT Trump mong rằng sẽ phanh phui được những chi tiết nào đó bất lợi cho ông Biden trong kỳ bầu cử sắp tới. Thay vì những lời trao đổi dưới hình thức điện thư trong nội bộ của Bộ Ngoại Giao, những nhà ngoại giao này lại liên lạc với nhau bằng tin nhắn qua mạng WhatsApp trên các điện thoại di động.
Ông Volker nói với một viên chức phụ tá cao cấp ở Ukraine rằng TT Zelensky có thể thuyết phục được TT Trump rằng ông sẽ tìm hiểu rõ ràng về những gì đã xảy ra trong kỳ bầu cử năm 2016 thì sau đó ông sẽ có cơ hội được gặp gỡ TT Trump tại Toà Bạch Ốc. Điều này bắt nguồn từ việc ông Trump vẫn luôn bị ám ảnh rằng phía Ukraine đã tìm cách phá hoại ông trong kỳ bầu cử vừa qua.
Về mặt ngoại giao chính thức, hai ông Sondland và Volker đã áp lực phía Ukraine về một số những yêu cầu của TT Trump. Mặt khác, TT Trump cũng ra lệnh cho luật sư riêng của ông là Rudy Giuliani cũng bắn tiếng qua những phương tiện khác để chuyển đi cùng một thông điệp. Và nội dung chính của nó được phơi bày trong một cuộc điện đàm vào ngày 25/7 giữa hai vị tổng thống do một lời tố cáo của một nhân viên ẩn danh gửi đến văn phòng Tổng Thanh Tra và sau đó mới được tiết lộ lên cho Quốc Hội biết, và phía Toà Bạch Ốc cũng đành phải công nhận là chuyện có thật.
Phía Ukraine quả tình là một nước đang lâm vào tình trạng khó khăn và cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Tuy nhiên ông Zelensky cũng đủ khôn ngoan để biết rằng ông không thể mù quáng chấp nhận những lời yêu cầu của TT Trump để can thiệp sâu vào nội tình chính trường Hoa Kỳ (qua việc “bới lông tìm vết” về cha con ông Biden) vì có thể sẽ làm phật lòng cho các viên chức phe Dân Chủ sau này. Nhưng đồng thời ông Zelensky cũng không thể làm phật lòng TT Trump nếu như không thoả mãn những đòi hỏi nhất thời.
Các viên chức kỳ cựu trong ngành ngoại giao và tình báo của Hoa Kỳ cũng ý thức được điều khó khăn và tế nhị này vì từ trước tới nay, họ chưa bao giờ đứng trước một tình huống như vậy với một vị tổng thống Mỹ đã có những lời nói và quyết định bất thường và khác lạ nhất so với tất cả các vị tổng thống tiền nhiệm. Nhưng những phụ tá trung thành với TT Trump như ông Sondland thì không ngần ngại dấn thân vào những việc này, miễn sao nó làm cho sếp lớn hài lòng để họ vẫn còn được TT Trump tiếp tục tin dùng thay vì cách chức như đã xảy ra với rất nhiều các phụ tá cao cấp khác.
Những mẩu tin trao đổi giữa hai ông Sondland và Volker cho thấy họ càng ngày càng lún sâu vào một thoả thuận chính trị giữa hai vị nguyên thủ Trump và Zelensky. Theo đó, Ukraine sẽ nhận được viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ và ông Zelensky sẽ được mời đến viếng thăm Toà Bạch Ốc sau khi đã cam kết sẽ mở lại một cuộc điều tra về công ty năng lượng Burisma mà chủ nhân đã thuê mướn con trai của ông Joe Biden vào hội đồng quản trị với đồng lương khoảng $50,000 mỗi tháng.
Vào ngày 19/7, ông Sondland bắn tiếng cho ông Volker rằng ông ta đã nói chuyện trực tiếp với TT Zelensky để trình bày đầy đủ chi tiết. Còn ông Volker thì trả lời rằng ông cũng đã trình bày mọi chuyện với luật sư riêng của TT Trump là ông Giuliani. Ông Volker kết luận rằng điều quan trọng nhất mà ông Zelensky cần phải làm là lên tiếng rằng ông sẽ tích cực can thiệp vào cuộc điều tra này.
Dĩ nhiên, các viên chức kỳ cựu trong ngành ngoại giao và tình báo thuộc cả hai nước Hoa Kỳ và Ukraine đều bắt đầu cảm thấy lo ngại trước những chuyển biến quan trọng như vậy bắt đầu được hé lộ ra ngoài, nhất là xuyên qua những lời tuyên bố mạnh miệng và vung vít của ông Giuliani trên nhiều diễn đàn truyền thông. Và điều này sau đó đã dẫn đến việc một nhân viên ẩn danh đã quyết định “lên tiếng báo động” bằng cách báo cáo lên văn phòng tổng thanh tra.
Một trong những viên chức cao cấp và kỳ cựu bầy tỏ sự lo ngại của mình là ông William Taylor, trước đó đã từng là Đại sứ Mỹ tại Ukraine từ năm 2006 đến 2009 dưới thời hai vị tổng thống Bush Con và Obama. Ông Taylor chỉ chấp nhận lời thỉnh cầu của ông Volker để trở lại chức vụ đại sứ này trong thời gian tạm thời sau khi bà Đại sứ Yovanovich bị TT Trump cách chức. Trong một đoạn trao đổi giữa hai người, ông Volker than phiền rằng ông đang cố gắng bơi lội trong cái thế giới mới đầy nghiêng ngửa này, và ông Taylor đã phúc đáp trở lại rằng “Tôi cũng không biết chắc rằng đó là cái thế giới mà tôi muốn đặt chân đến.”
Vào ngày 21/7, ông Taylor nhắc lại sự lo ngại rằng việc Ukraine đang bị sử dụng như là “con cờ trong những đấu đá chính trị của Hoa Kỳ”. Nhưng ông Sondland đã lập tức bác bỏ sự lo ngại này, và nói rằng ông Taylor không nhìn thấy rằng điều quan trọng nhất để cải thiện mối quan hệ giữa hai nước là chỉ cần làm theo ý muốn của TT Trump.
Qua ngày hôm sau, phụ tá cao cấp của TT Zelensky là ông Andrey Yermak đã có cuộc điện đàm với ông Giuliani. Vì đã được hướng dẫn từ trước bởi hai ông Sondland và Volker, ông Yermak dường như đã bảo đảm với ông Giuliani rằng TT Zelensky sẽ đồng ý những yêu cầu đó trong một cuộc điện đàm sắp tới với TT Trump.
Đến ngày 25/7 khi cuộc điện đàm giữa hai lãnh tụ diễn ra, nhiều viên chức cao cấp ở Toà Bạch Ốc trước đó có nghe loáng thoáng nhưng không nắm rõ chi tiết bắt đầu cảm thấy hốt hoảng trước nội dung những lời đòi hỏi của TT Trump khi yêu cầu một cách lộ liễu như vậy, nên họ bèn phản ứng bằng cách đem giấu toàn bộ nội dung những lời đối thoại vào một hệ thống máy điện toán giành riêng cho những tài liệu “tối mật” về an ninh quốc phòng.
Tuy nhiên, đối với những viên chức ngoại giao can dự vào vụ này, cuộc điện đàm giữa hai vị tổng thống được xem như là một bước ngoặt đáng kể. Ông Yermak kể lại với ông Volker rằng cuộc điện đàm diễn ra tốt đẹp, và ông Zelensky nhận được lời hứa là sẽ được mời đến viếng thăm Toà Bạch Ốc, dù rằng ngày giờ chưa được xác định. Và ông Volker đã trả lời rằng ông sẽ sắp xếp một cuộc gặp gỡ tại thủ đô Madrid giữa hai ông Yermak và Giuliani để giàn xếp chuyến viếng thăm ngoại giao này.
Theo lời kể của ông Volker, ông Giuliani nói rằng TT Ukraine cần phải đưa ra lời tuyên bố công khai rằng ông sẽ mở cuộc điều tra. Cả hai ông Sondland và Volker liền soạn thảo bản văn mà phía Ukraine sẽ công bố sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ. Sau khi họ trình bày bản văn dự thảo này, ông Giuliani tỏ ra không hài lòng, vì nó không nói rõ ràng và chi tiết, và vì thế nên ông ta đòi hỏi phía Ukraine phải nói chi tiết về vụ bầu cử năm 2016 và công ty Burisma, cơ quan năng lượng có thuê mướn con trai ông Biden vào hội đồng quản trị.
Đến ngày 10 tháng 8, ông Volker gửi tin nhắn cho ông Yermak để nói rằng một khi bản văn này được soạn thảo lại cho đầy đủ và ưng ý, họ có thể dùng nó để có được ngày chính thức đến viếng thăm TT Trump tại Toà Bạch Ốc.
Phía ông Yermak cũng phúc đáp rõ ràng về sự thoả thuận giữa đôi bên: “Một khi chúng tôi có được ngày giờ chính thức, chúng tôi sẽ mở một cuộc họp báo để báo tin về chuyến viếng thăm ngoại giao này để đẩy mạnh lại quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Ukraine, trong đó có cả việc liên quan đến công ty Burisma và những cuộc điều tra về sự xen lấn vào chuyện bầu cử.”
Nhưng rồi sau đó, bản văn dự thảo đã được dẹp bỏ sau khi phía Ukraine cảm thấy không thoải mái khi lên tiếng công khai và chi tiết về công ty Burisma và chuyện điều tra về việc xen lấn vào chuyện bầu cử tại Hoa Kỳ.
Đến lúc này, cả hai ông Sondland và Volker mới thấy rằng mình đã lún sâu quá nhiều vào những biến chuyển nổ ra tại thủ đô Washington đang bị phanh phui dần về những mưu toan của họ và từ đó dẫn đến cuộc điều tra để luận tội tổng thống Trump.
Vào ngày 12 tháng 8, một ngày trước khi hai ông Volker và Sondland trao đổi cho nhau những mẩu tin đắc thắng về chuyện họ đã đạt được một bản văn mà TT Zelensky sẽ đọc như họ mong muốn, một nhân viên ẩn danh của cơ quan tình báo CIA đã nộp một bản tường trình dài 9 trang để “lên tiếng báo động” về những điều được xem là bất thường lên văn phòng Tổng Thanh Tra. Những diễn biến dồn dập xảy ra trong những ngày sau đó đã dẫn đến việc mọi sự bắt đầu được phanh phui trong các buổi điều trần kín tại Uỷ Ban Tình Báo của Hạ Viện.
Vào ngày 1 tháng 9, Đại sứ Taylor lại lên tiếng bầy tỏ sự lo ngại của mình với ông Sondland: “Phải chăng chúng ta đang nói với phía Ukraine rằng việc viện trợ để bảo đảm an ninh và được tiếp kiến tại Toà Bạch Ốc phải tuỳ thuộc vào việc họ phải mở những cuộc điều tra?” Cùng ngày hôm đó, trong một cuộc gặp gỡ tại thủ đô Warsaw, các viên chức của Ukraine cũng nhận được một thông điệp tương tự từ phía PTT Mike Pence khi ông nói với TT Zelensky rằng Hoa Kỳ vẫn còn quan tâm đến việc chính quyền Ukraine vẫn chưa làm hết sức về vấn đề tham nhũng (ngụ ý là muốn Ukraine nên mở lại các cuộc điều tra).
Tuy nhiên đến lúc này, ông Sondland không chịu trao đổi với ông Taylor bằng những mẩu tin nhắn, mà chỉ nói rằng “Anh hãy gọi cho tôi.”
Đúng một tuần sau đó, vào ngày 8 tháng 9, Đại sứ Taylor bắn ra một lời cảnh cáo nghiêm trọng hơn để nói rằng ông ta sẽ không tham dự vào một hành động nào có tính cách ép buộc TT Zelensky phải có một cam kết công khai theo ý của Hoa Kỳ cũng như việc tự ý cúp ngân khoản viện trợ quân sự cho Ukraine mà họ đang rất cần có: “Điều ác mộng sẽ xảy ra nếu như họ đồng ý cuộc phỏng vấn nhưng rồi sau đó cũng không được viện trợ. Nếu như điều này xảy ra, phía Nga sẽ là người hoan nghênh nhất. (Và cá nhân tôi sẽ xin từ chức.)”
Qua ngày hôm sau, Đại sứ Taylor quyết định liên lạc với ông Sondland một lần chót khi bắn ra mẩu tin nhắn: “Tôi nghĩ rằng việc cúp viện trợ quân sự để đòi hỏi một sự giúp đỡ trong chiến dịch tranh cử là một điều điên rồ.”
Đến lúc này, ông Sondland có lẽ cũng bắt đầy cảm thấy rằng những lời lẽ trao đổi kiểu này sẽ dẫn đến những hậu quả bất lợi ra sao trước công luận một khi các điều tra viên tìm hiểu được sự thật, nên ông đã trả lời với một giọng văn thay đổi và nghiêm túc hơn: “Anh Bill, tôi tin rằng anh đã sai lầm khi nhận định về những ý định của TT Trump. Tổng thống Trump đã nói rất rõ: không hề có việc trao đổi qua lại (quid pro quo) dưới bất cứ hình thức nào trong vụ này.”
Sau đó không lâu, ông Volker cũng đã quyết định xin từ chức Đặc Sứ về Ukraine của Toà Bạch Ốc.
MAI LOAN
Houston, Texas, ngày 12 tháng 10/2019