Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Nụ cười và Nghĩa trang



                                                                          

Nhiều lúc, tôi không biết mình có phải là người “bình thường” không, bởi vì tôi thích vào nghĩa trang.
Lúc nhỏ, tôi thường theo lũ bạn chăn trâu vào nghĩa trang để trốn học. Nghĩa trang ở làng quê thường nằm giữa cánh đồng, có những cây lớn rợp bóng mát, có cỏ hoang mọc um tùm.Vào nghĩa trang trốn học “an toàn” đã đành, mà “bắt dế” thì lại lý tưởng hơn bất cứ nơi nào. Lũ trẻ chúng tôi tin rằng những con dế sống trong nghĩa trang đều là những con “dế chiến”.

Lớn hơn một chút, đêm đến tôi cũng thường theo chúng bạn kéo nhau vào nghĩa trang để “cầu cơ”. Khi không tìm được một mảnh ván hòm (quan tài), chúng tôi cũng cố gắng lấy một miếng gỗ từ một chiếc guốc cùn, gọt đẽo thành một trái tim để làm trung gian tiếp xúc với cõi âm. Không khí nghĩa trang ban đêm lành lạnh mùi tử khí lại càng hấp dẫn đối với bọn trẻ chúng tôi. Cái cảm giác vừa “ sợ” vừa bị “hấp dẫn” bởi cái “linh thánh” lúc nào cũng chạy suốt cơ thể và tâm hồn thơ dại của tôi. Cứ thế, tôi bị nghĩa trang “mê hoặc” lúc nào không hay biết.

Ở tuổi biết buồn và bắt đầu có những suy nghĩ vụn vặt về cuộc sống, ngoài những dịp đưa tiễn bạn bè người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng hay tảo mộ người thân vào những dịp đặc biệt như Tết hay ngày tưởng nhớ người quá cố, tôi thường  tìm đến  nghĩa trang để sống lại những ngày thơ ấu hoặc tìm một chút thanh thản cho tâm hồn.

Đến bất cứ nơi nào, ánh mắt của tôi cũng đều tìm kiếm và dừng lại thật lâu trên nghĩa trang.Tôi thích nhứt nghĩa trang ở một thành phố nhỏ gần Copenhagen, Đan mạch. Tôi được một người bạn đưa đến đó để thăm viếng thân mẫu của anh. Trái với những nghĩa trang đầy những ngôi mộ đủ kích cỡ, kiến trúc và mầu sắc mà tôi thường thấy ở Pháp hay Ý, nơi yên nghỉ của thân mẫu bạn tôi chỉ là một vườn hoa sặc sỡ. Không có lăng tẩm, không có những ngôi mộ bề thế khoa trương, mà chỉ có những thảm hoa bằng phẳng. Bốn bề nghĩa trang được bao bọc bởi những cây liễu “rũ” mà một vị giáo sư Pháp văn của tôi ngày xưa mô tả như bóng dáng của những người phụ nữ xõa tóc đang khóc. Tiếng nhạc cổ điển nho nhỏ như muốn dìu bước khách lãng du đi vào một thế giới khác.

Nghĩa trang Rockwood ở Lidcomb, Sydney cũng là một nơi quyến rũ tôi. Nghĩa trang được xem là lớn thứ nhì trên thế giới này chẳng khác nào một thành phố nhỏ. Những lần đầu tiên vào đây, tôi thường hay lạc lối, đi mãi mà không tìm được lối ra.

Nhưng lạc lối mà không lạc lõng. Giữa người sống với nhau có rất nhiều khoảng cách trên mọi phương diện: chủng tộc, màu da, văn hóa, ngôn ngữ, ý thức hệ, lập trường chính trị, tôn giáo...Nhưng xem chừng giữa người sống và người chết, những khoảng cách ấy đều được san bằng. Đây là cảm nghiệm tôi thường có khi nghĩ về cha tôi. Lúc cha tôi còn sống, vì khoảng cách không gian và những cản ngại về chính trị, tôi không thể về thăm. Nhưng kể từ sau khi cha tôi qua đời, tôi thấy những khoảng cách ấy không còn nữa: tôi cảm thấy cha tôi lúc nào cũng có mặt bên cạnh tôi; lúc nào tôi cũng có thể gặp gỡ và truyện vãn với người.

Với bất cứ một người quá cố trong bất cứ một nghĩa trang nào, tôi cũng đều có cảm nhận ấy. Đi giữa một nghĩa trang nào, tôi luôn được nghe họ nói với tôi rất nhiều điều. Họ lập lại với tôi điều mà lẽ khôn ngoan của bất cứ dân tộc nào, nền minh triết ở bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng đều mách bảo tôi: giàu sang hay nghèo hèn, quyền thế hay thấp hèn, thông minh hay ngu dốt, xinh đẹp hay xấu xí… khi nhắm mắt xuôi tay mỗi người cũng chỉ còn lại ba tấc đất. Một số bậc vua chúa được người ta chôn cất trong lăng tẩm, một số người quyền thế được người ta ướp xác và đặt lên bệ thờ. Nhưng tất cả những người quá cố trong bất cứ một nghĩa trang nào cũng đều mượn lời Kinh Thánh của Do thái giáo và Kitô giáo để nói với tôi rằng “tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ, nhưng ba tấc đất mới thật là nhà, nơi họ ở muôn đời muôn kiếp”.

Những người quá cố trong bất cứ nghĩa trang nào cũng nói với tôi rằng trên dương thế này, người ta có thể hận thù nhau đến độ không muốn đội trời chung với nhau, nhưng khi nhắm mắt xuôi tay, ai cũng đều buông khí giới và nghỉ yên bên nhau: chẳng còn phải tranh giành cãi cọ, chém giết nhau nữa!

Nằm san sát bên nhau, dường như từ bên kia nấm mồ,  những người đã khuất núi chỉ muốn nhắn nhủ tôi rằng, xét cho cùng, con đường nào cũng dẫn đến nghĩa địa, cuộc sống nào cũng hướng  đến tận cùng là nơi an nghỉ, ý nghĩa của cuộc sống rốt cục cũng chỉ qui về hai chữ  “Yêu thương”.

Đây hẳn phải là điều mà con người thường nhận thức được khi đã đi đến cuối cuộc hành trình dương thế. Tôi nhớ lại những tiếng nói cuối cùng của các nạn nhân trong cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa kỳ. Trong những giây phút cuối đời, khi gọi về cho người thân, những người mắc kẹt trong Tháp Đôi ở New York hay đang phải hấp hối từng phút từng giây trên chiếc máy bay bị những kẻ khủng bố khống chế…đều chỉ lập lại một câu duy nhứt “I love you”: con yêu thương ba má, anh yêu em, em yêu anh, ba thương con…Những người này chợt nhận ra rằng trong cuộc đời này, chỉ có một điều thiết yếu và quan trọng là yêu thương, chỉ có tình yêu mới mang lại ý nghĩa và làm cho cuộc sống này đáng sống.
Trong nghĩa trang, con người không chết. Họ chỉ là những người đã khuất núi. Họ đã đi qua bên kia ngọn núi. Giờ đây, quay nhìn lại, họ thấy rõ lộ trình của cuộc sống. Họ nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Họ muốn nhắn gởi với chúng ta rằng cuộc sống chỉ thực sự đáng sống khi con người biết sống yêu  thương.

Tôi thường nghe được thông điệp ấy mỗi khi vào nghĩa trang, mỗi ngày đầu năm khi tưởng nhớ người quá cố và đặc biệt mỗi khi tháng 11 về. Văn minh Kitô giáo dành tháng này để tưởng nhớ người quá cố.
Có nhiều cách tưởng nhớ, như tảo mộ, cúng giỗ…,nhưng tưởng nhớ đến sự chết như một lễ hội cảm tạ và nêu cao hồng ân của “sự sống” vẫn là cách thế mà tôi cho là “đẹp lòng” người đã ra đi trước chúng ta nhứt. Tôi thích cái lối cử hành này của người dân Phi luật tân. Mỗi năm, cứ đến ngày 1 tháng 11, mọi người đều kéo nhau ra nghĩa trang. Họ làm đẹp cho ngôi mộ của người thân, rồi cắm lều ngay trên ngôi mộ và “vui chơi” nguyên một ngày và một đêm với người thân. Tiếng đàn, tiếng hát, ăn uống truyện trò, tiếng reo vui và ánh đèn tỏa sáng cả một khung trời khiến cho người ta không còn nói đến “nghĩa trang buồn” nữa. Ngày tưởng nhớ đến người quá cố không còn là một ngày buồn thảm để chỉ nghĩ đến lưỡi hái của tử thần, mà là một lễ hội cử hành để tôn vinh sự sống, để chia sẻ niềm vui và đoàn tụ với người thân.
Sống yêu thương và để cho người khác cùng được sống: đó là thông điệp mà tôi nghe rõ nhứt từ bên kia những nấm mồ trong các nghĩa trang. Sống như thế nào để không bị nguyền rủa vì đã xúc phạm đến sự sống và quyền được sống của người khác: đó hẳn phải là cách thế tưởng nhớ mà người quá cố vui thích nhứt.
Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc lá thư mới đây của một nhà lãnh đạo tôn giáo tại Việt nam là đức giám mục Vĩnh Long gởi cho các tín hữu trong giáo phận của ngài. Lá thư được gởi đến cho toàn thể giáo phận vào dịp khởi đầu tháng 11 là tháng được truyền thống Kitô giáo dành riêng để tưởng nhớ người quá cố.

Mở đầu lá thư, vị giám mục này viết: “Mỗi năm, bước vào tháng chín, tôi nhớ tới biến cố ngày 7.9.1977,được kể như ngày Đại Nạn của địa phận Vĩnh Long, khi Nhà thờ chánh tòa, đại chủng viện, dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Thánh gia học viện bị phong tỏa và sau đó, mọi người phải ra đi, kẻ vào tù, người thì được dời đi nơi khác. Ôi thôi! Đất bằng dậy sóng, những nơi tu hành bấy giờ bị coi như chỗ đào tạo phản cách mạng. Tội danh ấy tới nay vẫn chưa được chứng minh. Có những người đã chết, mang theo xuống mồ cái tội danh giả mạo ấy…”

Rồi nhắc đến chuyện chính quyền Vĩnh Long  cướp đoạt phần đất trước kia là của các nữ tu dòng Phaolo để xây quảng trường, biến thành điều được gọi là “lá phổi xanh cho nhân dân sống trong nội ô thành phố Vĩnh Long”, đức giám mục Vĩnh Long viết: “Tôi chợt nhớ tới Công Viên Cây Xanh ở đường Nguyễn thị Minh Khai, trước kia là Đất Thánh. Tôi nghĩ đến rất nhiều thân nhân của anh chị em Công giáo đang còn bị chôn vùi trong lòng đất, bên dưới công viên này và hơn 30 năm qua, hằng ngày có nhiều người lui tới chắc chắn không phải để thắp hương cầu nguyện, báo hiếu, nhưng chỉ để vui chơi và vô tình dẫm lên nơi an nghỉ của tiền nhân chúng ta. Như thế có đau lòng không!”

Quả thật, người chết không thể “ngậm cười nơi chín suối”, mà người sống lại càng không thể “vui cười” khi nơi thánh thiêng nhứt là nghĩa trang không còn được tôn trọng.

Tôi nhớ lại một nhận xét thâm thúy của một người bạn sau một chuyến du lịch tại Trung Quốc. Anh không bị choáng ngợp vì sức phát triển kinh tế nhanh chóng của quốc gia cộng sản khổng lồ này. Anh nói: “Có hai điều hiếm thấy tại Trung Quốc: một là nụ cười, hai là nghĩa trang”.

Cứ tưởng “buồn” và “đìu hiu” là hai tĩnh từ chỉ đi theo sau hai chữ “nghĩa trang”, cứ tưởng nụ cười và nghĩa trang chẳng ăn nhập gì với nhau. Thật ra, khi nghĩa trang bị đào bới, khi người chết bị xúc phạm, khi tình cảm của người sống không được tôn trọng, khi mạng sống và các quyền cơ bản nhứt của  con người bị xem nhẹ hơn rơm rác, khi tình nghĩa giữa người với người phải nhường chỗ cho tham lam, ích kỷ, gian dối…thì đương nhiên nụ cười làm sao còn đất sống.

Có khi phải vào nghĩa trang để tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, để học biết thế nào là tình người và để vui cười với cuộc đời, với và cùng  người khác.


Chu Thập, Tháng 11, 2009





Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Vật đổi sao dời


The Twelve Apostles, 5.2014

Nguồn gốc thổ dân của một số địa danh tại Úc Đại Lợi nghe đã lạ tai, âm hưởng Kinh Thánh trong một số danh lam thắng cảnh nghe còn khó hiểu hơn, nhứt là với những ai chưa làm quen với văn minh Kitô giáo. Tôi nghĩ đến trước tiên thắng cảnh có tên là “The Twelve Apostles” ở mạn Nam tiểu bang Victoria mà tôi đã có dịp thưởng ngoạn trong thời gian gần đây. Tôi không biết rất nhiều đoàn du khách Trung Quốc, con cháu của Bác Mao, vốn chỉ biết có mỗi “Cuốn sách Đỏ” của Bác, có hiểu được “12 tông đồ” là gì không. Hay cũng như một số “giáo sư đại học” nào đó ở Việt Nam gọi Tự Lực Văn Đoàn là một “gánh cải lương”, biết đâu họ chẳng hỏi “12 tông đồ” là những “thằng” nào vậy.
Tôi đã nhiều lần đến Melbourne. Nhưng lần nào tôi cũng chỉ luẩn quẩn trong nội thành hoặc các khu có đông người Việt sinh sống. Mãi cho đến gần đây, khi nghe nhiều người quen bảo “đến tiểu bang Victoria mà không đi dọc theo “con đường đại dương” (The Great Ocean Road) thì coi như chưa biết tiểu bang này”, tôi mới đặt vé cho một vòng thăm thú dọc theo con đường này. Quả đúng như nhiều người đã giới thiệu, có lẽ “The Great Ocean Road” là con đường đáng đi nhứt tại Úc Đại Lợi. Nhưng cái điểm đến của vòng du lịch là thắng cảnh “The Twelve Apostles” mới là điều đáng nói. Không hùng vĩ bằng các Đại vực (grand canyon) ở  tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ hoặc thác Niagara nằm giữa biên giới Hoa Kỳ và Gia Nã Đại và có lẽ cũng chẳng vĩ đại hơn một số thắng cảnh khác tại Úc Đại Lợi, nhưng “The Twelve Apostles” quả là một cảnh thiên nhiên đáng nhìn ngắm. Đây đúng là kỳ công của thiên nhiên. Những điều kiện thời tiết khắc nghiệt từ Nam Đại Dương đã bào mòn rặng đất nằm dọc theo bờ biển để tạo ra những tượng đá lớn cao đến 45 thước. Rồi cũng chính gió và sóng biển lại xói mòn khiến cho các tượng đá từ từ nhỏ lại hoặc chỉ trong một đêm bị đốn ngã và chôn vùi xuống biển. Chỉ mới đây thôi, ngày 3 tháng 7 năm 2005, một “ông tông đồ” cao khoảng 50 thước đã bị đốn ngã. Ngày 25 tháng 9 năm 2009, một “ông” khác teo nhỏ lại để sinh ra cụm đá “Three Sisters” (Ba chị em). Hiện nay, mặc dù vẫn tiếp tục được gọi là “12 tông đồ”, toàn bộ thắng cảnh chỉ còn lại 8 “ông”. Cứ nghe tiếng sóng vỗ và từng cơn gió rít, tôi e rằng sẽ có lúc  chẳng còn “ông tông đồ” nào  dám “trơ gan cùng tuế nguyệt” nữa.
Tôi không biết khách du lịch mà đa số là người Trung Quốc nghĩ gì trong đầu, riêng tôi khi đứng chiêm ngắm các ông phỗng đá “tông đồ”, tự nhiên  lại nhớ đến hai câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan khi bà nhìn Thành cổ Thăng Long: “Nghìn năm gương cũ soi kim cổ. Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường”.
Trước sức mạnh của thiên nhiên và sự bào mòn của thời gian, dường như chẳng có gì trên trái đất này có thể đứng vững và mãi mãi tồn tại. Một trận cuồng phong, một cơn thịnh nộ của hỏa diệm sơn, một luồng sóng thần, một trận động đất...chỉ trong nháy mắt, cũng đủ để tạo ra cảnh “thương hải biến vi tang điền”. Nói gì đến sức mạnh tự hủy và ngu xuẩn của chính con người. Có cần gì sức mạnh thiên nhiên để tàn phá những công trình của nhân loại. Bao nhiêu dinh thự, đền đài, lăng tẩm...trong phút chốc chỉ còn là những hòn đá chồng lên nhau. Tôi tiếc là mình chưa kịp đến A Phú Hãn để chiêm ngắm các  bức tượng Thích Ca cao đến 53 thước, cách thủ đô Kabul 240 cây số về hướng Tây Bắc và đã có cách đây đến cả 2500 năm, nhưng đã bị Phong Trào Taliban đặt bom phá hủy hồi năm 2001. Tôi cũng chưa từng được nhìn Tòa nhà Tháp Đôi ở New York, Hoa Kỳ, đã bị Al Qaeda thiêu rụi trong cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sức mạnh hủy diệt của con người cũng thật là khủng khiếp!
Từ ngàn xưa Chúa Giêsu đã báo trước sức mạnh tàn phá của chính con người khi Ngài loan báo cái cảnh của Đền thờ Jerusalem “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào”. Lời của Ngài đã thực sự ứng nghiệm khi năm 70 sau công nguyên, tướng Titus của đế quốc La Mã đã đem quân sang Palestine để “bình địa” ngôi đền thờ được xem là biểu tượng về sự hùng mạnh và thịnh vượng cũng như lòng tin sắt đá của dân tộc Israel vào Thiên Chúa.
Tôi cũng nhớ lại, khi nói đến Đền thờ Jerusalem (nhà của Đức Giêhova), Chúa Giê Su còn nói rằng sẽ đến lúc con người sẽ thờ phượng Thiên Chúa trong “tinh thần và sự thật”. Thì ra, nếu có một nơi thực sự xứng đáng để cho Thiên Chúa cư ngụ, nơi đó hẳn không phải là một công trình được xây dựng bằng gỗ đá, mà thiết yếu phải là “tấm lòng” của con người.
Đã có một thời, văn minh Kitô giáo được tô điểm bằng những công trình kiến trúc vĩ đại và rực rỡ là các ngôi thánh đường. Ở Âu Châu, thánh đường mọc lên như nấm. Không biết có phải vì Thiên Chúa không còn muốn bị giam giữ trong bốn bức tường của nhà thờ nữa chăng mà ngày nay tại rất nhiều nơi ở Âu Châu nhà thờ ngày càng trống vắng, có nơi phải rao bán các thánh đường.
Trong khi các thánh đường ở Âu Châu ngày càng trống vắng thì tại các nước thuộc thế giới thứ ba, người ta lại đua nhau xây dựng các thánh đường và xây dựng với những kích cỡ vĩ đại để được đưa vào sách các kỷ lục thế giới  “Guiness World Records”. Đó là trường hợp ngôi thánh đường có tên là “Vương cung thánh đường Đức Mẹ Hòa Bình” tại thủ đô Yamoussoukro, Cộng hòa Côte d’Ivoire (Bờ biển Ngà), miền Tây Phi Châu. Được khởi công xây cất năm 1985 và hoàn thành năm 1989 với kinh phí 300 triệu Mỹ kim, ngôi thánh đường này được xem như một phiên bản của Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ở Roma. Theo sách các kỷ lục thế giới, đây là ngôi thánh đường lớn nhứt thế giới, với chiều cao 158 và diện tích 30 ngàn thước vuông, với sức chứa khoảng 18 ngàn người.
Tên tuổi gắn liền với ngôi thánh đường này là cố tổng thống Félix Houphouet-Boigny (1905-1993). Ông là vị tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Côte d’Ivoire, tổng thống mãn đời từ năm 1960 đến năm 1993. Được hay tự xưng là “cha già dân tộc”, ông tổng thống này đã chọn nơi sinh của mình là Yamoussoukro làm thủ đô và muốn được người dân trong nước cũng như thế giới nhớ đến như là người đã cho xây cất ngôi thành đường lớn nhứt thế giới này. Trong một bức hình của Chúa Giêsu được vẽ trên kính bên trong nhà thờ, người ta còn thấy có cả chân dung của ông bên cạnh!
Mặc dù dưới sự cai trị gần như là độc tài của tổng thống Boigny, Côte d’Ivoire có một nền kinh tế tương đối ổn định hơn nhiều nước Phi Châu khác, nhưng theo Ngân Hàng Thế Giới, cho đến năm 1993, tức  năm ông Boigny qua đời, tỷ lệ dân chúng sống dưới mức nghèo khổ đã lên đến 31 phần trăm. Do đó, công trình xây dựng ngôi thánh đường lớn nhứt thế giới của ông đã bị rất nhiều người chỉ trích. Bị chỉ trích là phải, bởi vì trong khi bao nhiêu người dân đang đói khổ, một kinh phí quá lớn, dù là từ tiền túi của ông, lại được sử dụng vào việc xây cất một ngôi thánh đường nguy nga mà mục đích là chỉ để vinh danh ông hơn là phục vụ người nghèo. Chính vì vậy mà năm 1990, trước khi đến thủ đô Yamoussoukro để khánh thành ngôi thánh đường này, Đức cố giáo hoàng Gioan Phao II đã đưa ra điều kiện là bên cạnh ngôi thánh đường cần phải có bệnh viện hoặc trung tâm phục vụ người nghèo. Phải chăng vị lãnh đạo của Giáo hội công giáo không muốn nhắn gởi rằng chính “tấm lòng” của con người mới thực sự là nơi cư ngụ thực sự của Thiên Chúa, chứ không phải một dinh thự nguy nga được xây cất bằng gỗ đá và nhứt là với ý đồ khoe khoang của con người.
Mới đây, tôi cũng có nghe nói và được xem hình của ngôi giáo đường được xem là nguy nga nhứt tại Việt Nam hiện nay. Thoạt nhìn, tôi cứ tưởng như đây là nhà thờ chính tòa St Mary ở Sydney hoặc bất cứ ngôi thánh đường đồ sộ nào đó ở các thủ đô Âu Châu. Được biết đây là ngôi thánh đường của giáo xứ Bác Trạch, thuộc xã Vân Trường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, vừa được khánh thành dạo tháng 10 năm 2013 vừa qua. Đây là một trong những nhà thờ được coi là đẹp nhứt, cầu kì nhứt về kiến trúc và trang trí ở Việt Nam từ trước tới nay. Một bản tin chính thức được gởi đi từ chính giáo phận Thái Bình cho biết với kinh phí xây cất gần 60 tỷ đồng Việt Nam (chẳng là bao so với thánh đường Yamoussoukro! Nhưng so với lợi tức trung bình của người VN thì là một món tiền khổng lồ), ngôi thánh đường Bát Trạch “có đến 122 tấm kính tranh, gần 100 tượng tròn, phù điêu, tranh vẽ các loại, 2 tháp chuông treo bộ chuông gồm 6 quả, trong đó quả lớn nhất có trọng lượng là 3 tấn. Ngoài sự đồ sộ, lộng lẫy, nguy nga, nhà thờ Bác Trạch được trang trí với những nét hoa văn rất tỉ mỉ và cầu kỳ từ cánh hoa hay đường chỉ nhỏ nhất”.
Trong một đất nước còn nghèo như Việt Nam, đặc biệt trong tỉnh Thái Bình, xây dựng một giáo đường đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy nhứt hẳn phải là điều đáng suy nghĩ. Tôi không biết mình có thuộc loại “phản động” không, nhưng sự cảm nhận tôi thường có được mỗi khi bước vào một ngôi thánh đường nguy nga, lộng lẫy và nhứt là có nhiều tượng ảnh, thường là sự trầm trồ về kiến trúc và nghệ thuật hơn là cảm xúc tôn giáo. Có lẽ tôi được đánh động hơn nếu bất chợt nhìn thấy và chiêm ngưỡng dung nhan của một ông thánh hay bà thánh nào đó đã suốt đời sống chết cho tha nhân, nhứt là người nghèo. “Tấm lòng”, nhứt là tấm lòng hy sinh của con người có sức đánh động tôi hơn là những công trình kiến trúc đồ sộ. Còn nếu công trình kiến trúc ấy lại gắn liền với vô số những lạm dụng và bất công thì quả thực, tôi lại càng thấy phẫn nộ hơn.
Loch Ard Gorge, 5.2014

Trên đường trở về Melbourne sau cuộc hành trình trên con đường “The Great Ocean Road”, có lẽ tôi chỉ còn nhớ có mỗi một hình ảnh liên quan đến lịch sử của thắng cảnh “The Twelve Apostles”: đó là hình ảnh người thiếu niên còn sống sót trên chiếc thuyền Loch Ard, bị đắm khi cập bến gần Muttonbird Island ngày 1 tháng 6 năm 1878. Sau ba tháng lênh đênh trên biển từ Anh sang Melbourne, chiếc thuyền đã bị đắm và trong số 54 người gồm thủy thủ đoàn và hành khách, chỉ có hai người sống sót. Theo tài liệu được ghi lại tại địa danh Loch Ard Gorge, gần nơi “trụ trì” của “12 tông đồ”, người thiếu niên 15 tuổi tên là Tom Pearce, một thủy thủ tập sự, đã được sóng đẩy vào bờ. Nghe có tiếng cầu cứu ngoài biển, cậu đã bơi ngược ra và đã cứu được cô gái 17 tuổi tên là Eva Carmichael. Người thiếu niên cũng đã leo lên mỏm đá cao để làm hiệu cho cư dân trong vùng ra tiếp cứu. Hình của Tom Pearce và Eva Carmichael vẫn còn được gắn tại bia kỷ niệm ở Loch Ard Gorge. Người thiếu niên đã được ca tụng như một “anh hùng” vì đã dám liều mạng để cứu sống một mạng người trong cảnh hiểm nghèo của chính mình trong khung cảnh hoang vu và giá lạnh của nước Úc hơn 2 thế kỷ trước!
Một hình ảnh khác, cho tới nay, vẫn còn sống mãi trong ký ức tôi sau chuyến du lịch dọc theo đường “The Great Ocean road”, đó là hình ảnh của người tài xế kiêm hướng dẫn viên du lịch. Về người đàn ông trung niên tự giới thiệu là “Barry” này, tôi chỉ có thể tóm tắt trong một tư cách nói lên trọn vẹn con người của ông: con người tử tế! Thức dậy từ lúc 4 giờ sáng, về đến nhà vào lúc 11 giờ khuya, vậy mà trong suốt chuyến đi, lúc nào tôi cũng thấy ông tươi cười, vui vẻ, nhã nhặn, ân cần đối với mọi du khách. Tìm một tước hiệu xứng đáng nhứt để tặng cho ông, tôi nghĩ đến tức khắc hai chữ “tông đồ”. Với “tấm lòng” tử tế như thế, với riêng tôi, ông quả thực là một “tông đồ”, người cho tôi cảm nhận được thế nào là sự tử tế. “12 tông đồ” phỗng đá rồi cũng sẽ có ngày mai một với thời gian và ngay cả trong ký ức của tôi, nhưng “tấm lòng” của người tài xế kiêm hướng dẫn viên du lịch này thì chắc chắn vẫn còn sâu đậm trong tôi. Tôi vẫn xác tín  rằng trên cõi đời này, mọi thứ đều sẽ qua đi, nhưng “tấm lòng” của con người hay nói chung tình thương mà con người dành cho tha nhân, mới thực sự là giá trị vĩnh hằng, có sức làm cho con người trở thành bất tử.
Chu Thập 3.6.2014








Chủ Nhật, 8 tháng 6, 2014

Buồn, tủi và giận



Đã gần cái tuổi “thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ” (cái tuổi đạt đến tình trạng hoàn hảo về cách xử sự và xử thế, làm chủ được cái tôi của mình) tôi tưởng mình đã tu tỉnh đủ để lúc nào cũng có được cái tâm an bình. Nhưng nhìn qua ngó lại, nhìn trước ngó sau, tôi vẫn luôn thấy mình thuộc loại “khôn ba năm dại một giờ” hoặc “ba năm đốn củi thiêu rụi một giờ”. Niềm an bình mà tôi đã luyện tập hằng ngày đã hoàn toàn tan biến và cái tâm trạng bất an của tôi  bỗng chốc đã lên đến tột đỉnh trong thời gian gần đây.
Trước hết tôi thấy mình buồn. Chưa đến nỗi khóc như tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong nước hoặc nhiều tác giả khác, nhưng đã có lúc tôi cảm thấy buồn thúi ruột gan khi nhìn vào ánh mắt của thế giới, nhứt là tại một số nước Á Châu như Nhựt Bổn, Đại Hàn, Đài Loan và ngay cả Thái Lan. Buồn quá đi thôi khi cứ nghe người ta bảo nhau phải đề phòng trước “bọn Việt Nam” chuyên ăn cắp vặt hoặc ăn uống thiếu tư cách trong các nhà hàng của họ. Làm người Việt Nam, dù đang sống ở đâu, nghe như vậy mà không buồn thì có còn là người Việt Nam nữa không?
Nhưng buồn thôi chưa đủ. Tôi lại thấy “tủi” hơn bao giờ hết. Thời Pháp thuộc, tôi còn quá nhỏ để biết thế nào là tủi thân khi nước nhà bị ngoại bang xâm chiếm. Thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” thì đã hoàn toàn thuộc về lịch sử. Nhưng ít ra tôi cũng đã từng hãnh diện về gương anh dũng chiến đấu của tổ tiên tôi. Nay, ở vào thế kỷ 21 này, khi thấy đất nước đã hoàn toàn lệ thuộc vào “nước lạ”, nguy cơ mất nước ngày càng kề cận, những kẻ bán nước vẫn cứ thờ ơ, thế giới xem ra cũng chẳng đoái hoài tới...làm sao tôi không tủi thân. Nhưng tôi nghĩ vào lúc này đây, có lẽ  không có người Việt Nam nào mà không rơi vào tâm trạng của tôi.
Buồn, tủi đã đành, tôi lại thấy mình “giận” cũng tím cả ruột gan mỗi lần nhìn thấy “cờ đỏ sao vàng” bay phất phới, nhứt là trong những cuộc biểu tình chống “nước lạ”. Cơn giận lại càng sôi sục hơn khi nhìn thấy lá cờ máu ấy trong một số cộng đồng người Việt tại một số nước như Ba Lan, Đức, Pháp và ngay cả ở Mỹ.
Cái nhìn của tôi có lẽ quá đơn giản: chính vì lá cờ máu ấy mà ngày nay dân tộc mới rơi vào kiếp đọa đày mà chẳng có giai đoạn nào trong lịch sử có thể sánh ví được.
Tức giận quá, tôi mới chạy đến ông Google để hỏi cho ra lẽ. Thì đây trên một trang bách khoa toàn thư chính thức trong nước, tôi đọc thấy rằng dù đã tồn tại hơn 70 năm qua, cho tới nay người ta vẫn chưa xác định được ai là tác giả của lá cờ này. Theo tìm hiểu của nhà văn Sơn Tùng, lá cờ này được dùng lần đầu tiên trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa vào năm 1940 và tác giả là ông Nguyễn Hữu Tiến. Nhưng trong một công văn đề ngày 18 tháng 4 năm 2001 và mang chữ ký của Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin  của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lúc đó là ông Trần Tiêu thì “tất cả các nguồn tài liệu hiện có tại Cục Lưu Trữ Trung ương Đảng, tại Viện lịch sử Đảng trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh đều không có tài liệu nào chứng minh đồng chí Nguyễn Hữu Tiến là người vẽ lá cờ này cả”.
Vậy thì ai là tác giả và ai là người đầu tiên mang ra sử dụng lá cờ máu này? Cũng trên trang mạng chính thức trong nước, tôi được biết rằng theo ông Võ Nguyên Giáp, thì lá cớ máu này “do chính ông Hồ Chí Minh mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lần đầu tiên vào ngày “19/5/1941; lá cờ được treo giữa hang Pắc Bó, khai mạc Hội Nghị thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” (Thiên Sơn, “nhà văn Sơn Tùng và hành trình đi tìm tác giả Quốc Kỳ”, Báo Tiền Phong online. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2013).
“Từ nước ngoài” là từ nước nào và ai là người đã thiết kế ra là cờ này? Nhìn lá cớ máu của Trung Quốc hiện nay, cũng đỏ như máu và cũng có sao vàng, tôi ngờ ngợ rằng có lẽ lá cờ máu của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xuất phát từ chính “nước lạ” này. Tôi tin như thế bởi vì “Bác Mao không ở đâu xa. Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” (thơ của Chế Lan Viên) mà!  Người đã được “tôn vinh” như hình tượng và bản sao của đồ tể Mao Trạch Đông, nếu đã rước lá cờ máu ấy mang về nước thì có “rước voi về dày mả tổ” cũng chẳng là điều phải ngạc nhiên. Bằng chứng rõ ràng nhứt là năm 1958, khi thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Trung Quốc để nhìn nhận chủ quyền của “nước lạ” trên Trường Sa và Hoàng Sa, có thấy ông Hồ nào lên tiếng phản đối đâu. Rồi năm 1974, khi Trung Quốc đem quân tiến chiếm hai hòn đảo này, có thấy con cháu nào của Bác phản đối đâu.
Nay, khi người dân trong nước biểu tình phản đối việc “nước lạ” đem quân thiết lập giàn khoan dầu ngay trên lãnh hải của mình, con cháu Bác lại tìm đủ mọi cách để ngăn chận.
Cứ nghĩ như thế mà tôi lại thấy cơn giận sôi sục trong tâm can. Nhìn lá cờ ấy, tôi không chỉ thấy “mưa sa” như nhà thơ Trần Dần thời Nhân văn Giai Phẩm. Tôi thấy ở đó máu của triệu triệu người Việt Nam, Nam cũng như Bắc, đã bị sát tế để xây dựng một thứ thiên đàng mà chẳng ai thấy được mặt mũi như thế nào. Ngày nay, tôi lại càng thấy rõ ở đó nanh vuốt của “nước lạ” đang cấu xé dân tộc tôi. Còn nhìn sâu hơn một chút, cũng như người dân Ba lan hiện nay, tôi lại thấy hiện ra không chỉ hình búa liềm của chủ nghĩa cộng sản, mà cả lá cờ chữ “vạn” của Đức Quốc Xã.
Với nghị quyết 1481 được Nghị Viện Âu Châu thông qua và cho công bố ngày 25 tháng giêng năm 2006, Hội Đồng Âu Châu đã mạnh mẽ lên án các tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị và chính thức quăng chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác của lịch sử. Nhưng có lẽ chưa từng có nước nào tại Âu Châu đi xa hơn Ba Lan trong việc lên án chủ nghĩa cộng sản. Nhân dịp đánh dấu 20 năm chủ nghĩa cộng sản cáo chung tại Đông Âu, chính phủ Ba Lan đã muốn xóa sạch mọi ký ức về Chiến tranh lạnh và loại trừ tất cả những biểu tượng hoặc tất cả những gì gắn liền với chủ nghĩa cộng sản từ “búa liềm đến cờ đỏ” và ngay cả những chiếc áo thun có in hình của nhà cách mạng Marxit  Che Guevara (1928-1967) người Á Căn Đình.
Dạo tháng 10 năm 2010, chỉ vài ngày trước khi bị ngộ nạn máy bay khi đến Smolenks, miền Đông Ukraine để tưởng niệm 70 năm mật vụ Nga sát hại 22 ngàn sĩ quan Ba Lan bị Nga cầm tù tại rừng Katyn, tổng thống Lech Kaczynski đã phê chuẩn một tu chính án của luật hình sự Ba Lan để cấm sản xuất, chiếm giữ, phát tán và bán các sản phẩm có chứa đựng những biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản. Bất cứ ai bất tuân,  như phất cờ đỏ và hát Quốc tế ca của cộng sản tại trung tâm thủ đô Warsaw chẳng hạn, đều có thể bị phạt tiền hoặc ngay cả bị giam tù đến 2 năm.
Người em song sinh của tổng thống Lech Kaczynski, ông Jaroslaw Kaczynski, chủ tịch Đảng “Luật Pháp và Công Lý”, tuyên bố rằng “Chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống diệt chủng đã sát hại hàng chục triệu người. Do đó, không một biểu tượng nào của chủ nghĩa cộng sản có quyền hiện hữu tại Ba Lan, bởi vì đây là những biểu tượng của một hệ thống phải được so sánh với Đức Quốc Xã”.
Thật ra, Ba Lan đâu phải là quốc gia duy nhứt đã thể hiện một mối thù “bất cộng đại thiên” như thế với chủ nghĩa cộng sản. Một năm trước đó, Lituania, một trong ba nước vùng Vịnh Baltic, Bắc Âu, cũng đã từng thông qua luật ngăn cấm việc trưng bày các biểu tượng của Đức Quốc Xã và Cộng Sản. Cũng năm đó, Tổ chức An ninh và Hợp tác Âu Châu (OSCE) cũng đã xem Chủ nghĩa cộng sản và Đức Quốc Xã là một thứ “cá bè một lứa” như nhau. Chỉ có ông tổng thống Viktor Yuschendo của Ukraine, vì nặng nợ với quan thày Nga, cho nên đã chần chừ trong việc bài trừ các biểu tượng của cộng sản để rồi cuối cùng phải cuốn gói ra đi trước sự nổi dậy của dân chúng và đành phải rước voi về dày mả tổ.
Người Do Thái và thế giới nói chung đã xem Đức Quốc Xã như một chủ nghĩa đồi bại mà ngày nay bất cứ một hành động xiển dương một biểu tượng nào của chủ nghĩa này cũng đều bị xem là một sự xúc phạm đến chính con người .Hình ảnh của Hitler cũng như cờ chữ “vạn” đều là biểu tượng của tận cùng của sự đồi bại. Một khi chủ nghĩa cộng sản đã được xếp ngang hàng với Đức Quốc Xã, xét về sự tàn bạo dã man của nó, thì đương nhiên bất cứ hình ảnh nào của một lãnh tụ cộng sản, bất cứ lá cờ búa liềm nào và bất cứ lá cờ máu nào, cũng chỉ có thể là biểu tượng của sự đồi bại và độc ác cần phải loại trừ khỏi ký ức của nhân loại mà thôi.
Tôi buồn vì chế độ cộng sản Việt Nam đã biến  rất nhiều người đồng bào ruột thịt của tôi thành đối tượng của sự nhạo cười và khinh bỉ của một số quốc gia Á Châu.
Tôi tủi thân vì cũng chính cái chế độ đồi bại này, từ khi mới thành hình cho đến cuộc chiến đánh thuê cho quan thày Tàu Nga và nay đang nắm quyền sinh sát trong tay, đã bán đứng đất nước cho ngoại bang để đổi lấy một chút canh thừa cơm cặn từ bàn ăn quyền lực và tiền bạc của quan thày.
Tôi giận vì chính những kẻ biểu tình chống đối ngoại xâm lại cũng chỉ trương cao lá cờ máu vốn đã được chính kẻ bán nước mang về “từ nước ngoài”. Tôi biết rằng Việt Nam sẽ chẳng làm được gì và tệ hơn cũng chẳng muốn làm gì để chống lại hành động xâm lăng của “nước lạ”. Tôi cũng biết rằng cả cái thế giới được cai trị bởi rất nhiều lãnh tụ “giả nhân giả nghĩa” ngày nay cũng chẳng làm được gì và cũng chẳng muốn lay ngón tay, rước lấy của nợ để cứu lấy Việt Nam của tôi cho khỏi nanh vuốt của “nước lạ” hùng mạnh này. Chống lại cái nước lạ này thì tư bản tìm đâu ra một thị trường béo bở và một đối tác thương mại giàu có này? Chống lại nước lạ khổng lồ này thì lấy ai để mà bán dầu khí, các quặng mỏ và trao đổi hàng hóa? Cả thế giới đều sợ. Tôi nghĩ rằng người ta không sợ sức mạnh bành trướng bằng vũ lực bạo động của “nước lạ”. Người ta chỉ sợ “mất” mà thôi, không phải “mất” chữ tín, mất sự lương thiện, mất những giá trị nhân bản và tinh thần làm nên nền văn minh hiện đại, mà là mất những “món hàng” béo bở từ nước lạ này.
Cả cái thế giới này sẽ chẳng làm được gì và cũng chẳng muốn làm gì để cứu Việt Nam của tôi. Và dĩ nhiên, cá nhân tôi lại càng chẳng làm được gì trong tình thế này. Nhưng ít ra, mỗi khi nhìn thấy lá cờ máu mà một số người Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc dương cao lên, tôi biết rằng lá cờ đó chính là biểu tượng của hành động bán nước và tham tàn đáng lên án và phỉ nhổ. Đó là giềng mối dẫn đến mất nước.
Cũng như người Do Thái và cả thế giới đã triệt hạ hình tượng Hitler và lá cờ chữ vạn, cũng như cả thế giới đã mạnh mẽ lên án chủ nghĩa cộng sản, tôi cũng triệt hạ cho tới cùng lá cờ máu của cộng sản Việt Nam.  Và cùng với lá cờ máu ấy, bao lâu còn muốn sống cho ra người tử tế, tôi không thể không lên án cái ác, cái đồi bại, cái dã man và độc ác trong con người.
Chu Thập 31.5.2014