Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2014

Một xã hội không còn biết khóc






Tối Chúa Nhựt 27/4/2014 vừa qua, Đài Truyền Hình ABC đã cho trực tiếp truyền hình buổi lễ phong thánh cho hai vị giáo hoàng của Giáo hội Công giáo. Vị thứ nhứt là Đức Gioan XXIII (1881-1963), nổi bật với tinh thần cởi mở, sự khiêm tốn và lòng nhân ái. Vị thứ hai là Đức Gioan Phaolô II (1920-2005) được Giáo hội công giáo đề cao vì rất nhiều “nhân đức” mà các tín hữu ngày nay có thể noi theo. Riêng tôi, một người tỵ nạn cộng sản và thế giới nói chung, đặc biệt chú ý đến sự góp phần lớn lao của vị giáo hoàng người Balan này trong việc đánh đổ các chế độ cộng sản tại quê hương của ngài và cả Đông Âu.

Với tôi, “thánh” trước tiên phải là một người triệt để chống lại cái Ác mà hiện thân là các chế độ độc tài, dù là cộng sản, quân phiệt hay dưới bất cứ hình thức nào. Không biết đây có phải là lý do khiến Giáo hội công giáo do dự trong tiến trình phong thánh cho vị tiền nhiệm của Đức Gioan XXIII là Đức Piô XII (1875- 1958) không. Mặc dù  rất nhiều tài liệu từ văn khố của Tòa thánh Vatican được bạch hóa đã cho thấy vị giáo hoàng này đã kín đáo cứu vớt rất nhiều người Do Thái tại Roma trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng với rất nhiều người Do Thái hiện nay, ngài vẫn là một người “đồng lõa” của Hitler và Đức Quốc Xã trong chủ trương diệt chủng. Tại bảo tàng viện Yas Vashem ở thủ đô Tel Aviv, Israel, trong đó có hầu hết tên tuổi của gần 6 triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã sát hại trong các trại tập trung và lò sát sinh, người ta lại thấy tên của vị giáo hoàng này trong hàng ngũ những tên đồ tể Đức Quốc Xã. Lý do duy nhứt là bởi vì ngài đã không chính thức lên tiếng tố cáo tội ác của Hitler và Đức Quốc Xã. Tòa Thánh Vatican vẫn biện minh rằng sở dĩ Đức Piô XII đã không viết bất cứ một thông điệp nào để lên án Đức Quốc Xã là bởi vì dựa trên nguyên tắc “giữa hai cái xấu không thể tránh được, nên chọn điều ít xấu hơn”, ngài sợ Hitler sẽ trả đũa, tòa thánh Vatican có thể bị dội bom và tình trạng của Giáo hội tại Âu Châu sẽ tồi tệ hơn. Nhưng cho tới nay, hầu hết những người Do Thái trên thế giới vẫn không chấp nhận lời biện hộ này. Với họ, vị giáo hoàng này, vì những lý do “thầm kín”, đã để cho Đức Quốc Xã tiêu diệt một dân tộc mà đã có lúc trong Phong Trào bài Do Thái, nhiều tín hữu Kitô tại Âu Châu xem như “những kẻ giết Chúa” đáng nguyền rủa!

Tôi tin rằng rồi đây lịch sử sẽ làm sáng tỏ hồ sơ của Đức Piô 12. Nhưng sự kiện Tòa thánh Vatican, cho tới nay, vẫn chưa “phong thánh” cho vị giáo hoàng này gợi lên trong tôi một suy nghĩ:  sự “thánh thiện” hay nói chung nhân cách của con người bị sứt mẻ nếu hành động và ngôn từ của họ chưa phải là một lời tố cáo và lên án điều Ác.

Với ý tưởng ấy, tôi không thể không nghĩ đến văn hào nổi tiếng của Colombia là Gabriel Garcia Marquez (1927-2014). Sự kiện ông qua đời nhằm vào Tháng Tư Đen của người tỵ nạn cộng sản như tôi lại càng khiến tôi suy nghĩ về “nhân cách” của ông hơn. Trong những ngày vừa qua, không chỉ Colombia mà có lẽ cả thế giới đều vinh danh ông như một trong những văn hào nổi tiếng nhứt của hai thế kỷ 20 và 21 này. Tôi chưa đủ trình độ để nhận định về văn tài của ông. Việc đó đã có Ủy ban Trao tặng Giải Nobel Văn chương làm. Nhiều nhà phê bình văn học trên khắp thế giới cũng đã làm. Riêng tôi, tôi vẫn cứ mãi thắc mắc tại sao tác giả của “Trăm năm cô đơn” này, không biết có phải vì muốn làm một “người hùng cô đơn” chăng, đã suốt một đời kết thân và cúc cung tận tụy với nhà độc tài cộng sản Fidel Castro của Cuba. Ông đã lên tiếng phê bình chủ nghĩa tư bản, ông cũng không tiếc lời lên án các chế độ quân phiệt độc tài, nhứt là tại Châu Mỹ LaTinh. Nhưng trước tội ác của đồ tể Fidel Castro, ông vẫn giữ một  sự thinh lặng khó hiểu. Phải chăng vì ở giữa thiên đàng cộng sản khốn khổ Cuba, ông vẫn có được một ngôi biệt thự sang trọng để giữa đêm khuya lãnh tụ vĩ đại và “kính mến” Castro có thể đến bất cứ lúc nào để phì phà điều xì gà và chuyện vãn thân mật không?
Năm 1968, khi tác phẩm “Trăm năm cô đơn” đưa ông Marquez lên đài danh vọng, thì tại Cuba một thi sĩ nổi tiếng là Heberto Padilla đã cho xuất bản tập thơ với tựa đề “Out of the Game” (bị loại khỏi cuộc chơi). Chủ tịch Castro đã ra lệnh mở chiến dịch tấn công thi sĩ Padilla và tháng 3 năm 1971, bắt giữ ông, tịch thu tất cả các bản thảo của ông và tra tấn ông bằng một cuộc hỏi cung tàn bạo kéo dài cả tháng trời. Sau cuộc tra tấn dã man này, thi sĩ Padilla đã phải “tự thú”, kê khai mọi “tội lỗi” của mình và tố cáo hành động “phản cách mạng” của bạn bè và ngay cả người vợ của mình!

Nhiều nhà trí thức trên khắp thế giới, trong đó có người bạn một thời của ông Marquez là văn sĩ Mario Vargas Llosa, Peru, đã lên tiếng tố cáo trò độc ác dã man của Castro. Khi các bạn văn của ông xin ông ký tên vào một lá thư ngỏ gởi cho chủ tịch Castro để bày tỏ sự “giận dữ và xấu hổ” của họ trước sự đối xử vô nhân đạo đối với thi sĩ Padilla, ông Marquez đã thẳng thừng từ chối. Ông được mọi thứ ân huệ do Castro ban tặng. Và đối lại, ông cũng tung hô và đưa nhà độc tài cộng sản này lên chín tầng mây. Chẳng hạn, năm 1990, ông đã có thể viết về nhà độc tài lâu đời nhứt thế giới này như sau: ông ta là “một người có những thói quen khắc khổ và những giấc mơ không bao giờ có thể thỏa mãn...sử dụng ngôn từ rất cẩn thận và cung cách tế nhị, cũng như không thể cưu mang bất cứ ý tưởng nào mà lại không phi thường”. Chính vì đã không hết lời ca ngợi nhà độc tài cộng sản luôn có “những ý tưởng phi thường” này mà ông đã biện hộ ngay cả những bản án tử hình mà chế độ đã dành cho những nhà bất đồng chính kiến.

Năm 1980, trước áp lực của thế giới, chủ tịch Castro đã để cho thi sĩ Padilla lên đường sang Hoa Kỳ. Trong một cuốn hồi ký, ông Padilla có kể lại rằng ông đã nhờ ông Marquez can thiệp để được giấy xuất cảnh đi Mỹ, nhưng ông này đã thuyết phục ông nên từ bỏ ý định bỏ nước ra đi, bởi vì “những thế lực thù địch của Cuba sẽ lợi dụng sự ra đi của ông để tuyên truyền” chống chế độ!
Sang Mỹ, thi sĩ Padilla đã ngưng sáng tác và chết trong nghèo nàn năm 68 tuổi. Ông đã không có được một nửa tài năng của văn hào Marquez. Nhưng nhiều người vẫn ngưỡng mộ ông hơn một con người, dù thông minh đĩnh đạt, đã không những không lên tiếng tố cáo điều Ác, mà còn bẻ cong ngòi bút của mình để ca tụng một trong những chế độ độc tài tàn bạo nhứt trong lịch sử nhân loại.
Từ việc nhà khôi nguyên Nobel văn chương Gabriel Garcia Marquez qua đời trong Tháng Tư Đen vừa qua, tôi cũng nghĩ đến một nhà văn khác được trao tặng Giải Nobel Văn Chương 2013: nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn. Đây là nhà văn Trung Quốc đầu tiên đoạt giải thưởng cao quý này. Sau khi giải thưởng được công bố, bên cạnh những lời chúc mừng, không ít đồng nghiệp trong và ngoài nước đã lên tiếng chỉ trích dữ dội nhà văn và Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Là phó chủ tịch Hội Nhà Văn Trung Quốc, cho nên Mạc Ngôn không thể tránh khỏi danh hiệu “nhà văn quốc doanh” hoặc “bồi bút”. Cũng giống như trường hợp Giải Nobel Hòa Bình được trao tặng cho Lê Đức Thọ (1911-1990), người cộng sản vừa đánh vừa đàm để buộc Hoa Kỳ phải ký hiệp định Paris năm 1973 và thôn tính Miền Nam Việt Nam, Giải Nobel Văn Chương năm 2013 được trao tặng cho Mạc Ngôn được nhiều nhà văn Tây Phương xem như một “thảm họa”.
Trong  chế độ cộng sản, đã là một “cán bộ kiêm công an văn nghệ” cấp cao như ông Mạc Ngôn, thì đương nhiên nếu có mở miệng thì cũng chỉ mở miệng để ca tụng và biện hộ cho chế độ mà thôi.
Sau khi được trao tặng Giải Nobel, nhà văn Mạc Ngôn có dành cho báo Đức “Der Spiegel” một cuộc phỏng vấn trong đó ông giải thích về bút hiệu “Mạc Ngôn” của ông. Ông nói rằng “Mạc Ngôn” có nghĩa là “không nói”. Nói một cách nôm na, trong chế độ cộng sản, “không nói” trong trường hợp của ông cũng chỉ có nghĩa là “câm miệng”. Dĩ nhiên, ông chỉ “câm miệng” trước tội ác của chế độ cộng sản Trung Quốc mà thôi. Dù ông có dùng sự “lợi khẩu” và tài dụng ngữ điêu luyện của một nhà văn để biện hộ về sự “câm miệng” của mình đến đâu, với tôi nhà văn Mạc Ngôn cũng vẫn mãi mãi là một “văn nô”, nếu có mở miệng hay khai bút cũng chỉ để ca tụng và bênh vực chế độ cộng sản và “câm miệng” trước cái Ác đã nhập thể trong chế độ này mà thôi. Ông đã từng ca tụng chế độ kiểm duyệt của nhà nước cộng sản Trung Quốc. Ông  tuyên bố: “Tôi tin rằng sự hạn chế hay kiểm duyệt có ích cho sáng tạo văn chương”. Gần đây, ông lại tham gia chép tay “Bài nói chuyện tại Diên An năm 1942” của chủ tịch Mao Trạch Đông để đề cao “cương lĩnh văn học nghệ thuật giáo điều, bắt buộc văn học nghệ thuật phải phục vụ cho Đảng Cộng Sản. “Ma Chiến Hữu”, cuốn tiểu thuyết viết về cuộc chiến Việt-Trung năm 1979, nằm trong chủ trương đó.

Thái độ “câm miệng” của ông được thể hiện rõ ràng hơn cả qua phản ứng của ông trước đề nghị can thiệp cho nhà văn Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến đã được trao tặng Giải Nobel Hòa Bình năm 2010 và hiện đang thọ án 11 năm tù. Dạo tháng 12/2013, một nhóm gồm 134 người đoạt giải Nobel đã ký tên vào một kiến nghị gởi đến Tổng bí thư Tập Cận Bình để yêu cầu trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba và vợ ông, hiện đang bị quản thúc tại gia. Nhóm này đã xin ông Mạc Ngôn ký tên vào bản kiến nghị. Nhưng ông đã tuyên bố rằng ông muốn được “độc lập” cho nên từ chối ký tên vào bản kiến nghị.
Ai đó đã nói rất đúng về thái độ “câm miệng” trước cái Ác của nhà văn Mạc Ngôn như sau: “Ăn theo chính quyền, nghĩ theo chính quyền, ngủ theo chính quyền và giờ đây là phát biểu theo chính quyền”.
Tôi rất thấm thía với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Viện khi ông "nhờ" Đạm Tiên nhận xét thay cho ông về thực trạng của các văn  nghệ sĩ "chính thống": "Trong các chế độ độc tài, văn nghệ sĩ chính thống là kẻ đồng lõa với tội ác" (Nguyễn Viện, Đĩ Thúi, Blog Phạm Thị Hoài, http://www.procontra.asia/?author=1)  
Được trao tặng Giải Nobel Văn Chương cách nhau trên 30 năm: Gabriel Garcia Marquez năm 1982, Mạc Ngôn năm 2013, cả hai nhà văn này không chỉ được liên kết trong “phương pháp sáng tác hiện thực thần kỳ” (magical realism), mà còn gặp nhau trong chính sự “thinh lặng” trước cái Ác. Được trao tặng Giải Nobel Văn Chương thì đương nhiên được rước vào Điện Thờ (Pantheon) dành cho những nhà văn “vĩ đại” của thế giới. Nhưng với riêng tôi, có lẽ danh hiệu “con điếm hạng sang của Fidel Castro” mà nhà văn Mario Vargas Llosa đã có lần dành cho ông Marquez xem ra lại chính xác hơn. “Vĩ đại”, nói như đạo diễn Trần văn Thủy trong cuốn phim “Chuyện Tử Tế”, tôi chưa từng thấy. Tôi chỉ thấy thái độ hèn nhát và vô cảm trước cái Ác đang sờ sờ trước mắt mình.

Mở đầu câu chuyện với hai vị giáo hoàng của Giáo hội công giáo vừa được phong thánh, tôi cũng liên tưởng đến đương kim giáo hoàng là Đức Phanxicô. Trong một chuyến viếng thăm hồi năm ngoái  tại thị trấn Lampedusa, miền Nam nước Ý, nơi những người tầm trú từ Bắc Phi và Phi Châu thường dùng thuyền tìm đến như một cửa ngõ để vào Âu Châu, vị giáo hoàng này đã nói đến sự dửng dưng của con người thời đại bằng một câu đáng suy nghĩ: “Chúng ta là một xã hội đã quên khóc”.

Tôi không biết hai nhà văn  Gabriel Garcia Marquez và Mạc Khôn có bao giờ khóc trước tội ác mà các chế độ cộng sản đã gây ra cho nhân loại không. Nhưng tôi nghĩ rằng con người vĩ đại, không phải vì những thành tựu hiển hách trong bất cứ lãnh vực nào, mà chính là vì họ còn biết “khóc” trước nỗi khổ đau của người đồng loại. Tôi không bao giờ quên được “lời dạy” chí lý của ông tổ Marxit: “Chỉ có súc vật mới quay mặt làm ngơ trước nỗi khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ da riêng của mình”.


 Chu Thập 30.4.2014


Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Cái hôn của người say rượu





Triết lý, nếu được hiểu một cách thông thường và đơn giản như một cách nhìn đời hay một nghệ thuật sống, thì chắc chắn những người đi câu cá hẳn phải có một thứ triết lý riêng.
Thành phố nơi tôi đang sống có nhiều kỷ lục. Người ta nói rằng đây là thành phố có tỷ lệ thất nghiệp không những cao nhứt tiểu bang New South Wales và mà còn đứng đầu toàn quốc. Có người còn nói đây là thành phố có nhiều người già sinh sống nhứt. Nhưng đáng suy nghĩ hơn cả là hiện tượng tự tử nơi giới trẻ mà người ta cũng cho là cao nhứt nước.
Riêng tôi, sau hơn một phần tư thế kỷ bôn ba không dưới năm bảy thành phố trên thế giới, tôi còn tặng thêm cho thành phố này một kỷ lục khác được tôi chấm dựa trên kinh nghiệm bản thân: đây là thành phố kỳ thị nhứt. Ở đây, ngoại trừ một số phụ nữ Phi luật tân lấy chồng Úc hay làm y tá trong các bệnh viện và viện dưỡng lão, số người Á đông có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thỉnh thoảng, thấy có một thương hiệu đề “Hot Bread”, mới biết có người Việt nam.
Lúc mới dọn về đây, tôi rất cảm kích trước lòng hiếu khách của người bản xứ: ra đường, gặp bất cứ người đứng tuổi nào, mình cũng được chào hỏi. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, tôi khám phá ra một thực tế phũ phàng: người trẻ của thành phố này “kỳ thị” ra mặt. Trong vòng một tháng, tôi bị tấn công ít nhứt  bốn lần. Lần đầu tiên, đang đứng chờ xe lửa, tôi bị một cô gái choai choai đi ngang trước mặt, hất một cái vào hông muốn rơi xuống đường rầy xe lửa. Lần khác, đang đi bách bộ trên lề đường, tôi bị ba cô cậu đang ở tuổi vị thành niên, chửi thẳng vào mặt bằng những lời lẽ thô tục. Hai lần khác, cũng đang đi trên đường, tôi bị một nhóm thanh niên từ trong xe thò đầu ra la hét.
Có điếc hay khờ khạo lắm cũng biết rằng nhóm thanh niên này có thái độ kỳ thị ra mặt. Nhiều lần, tôi định viết thư gởi đến mấy tờ báo địa phương để góp ý xây dựng. Nhưng nghĩ lại thấy cần có thời gian để quan sát và nhứt là để nhìn lại bản thân và tự điều chỉnh, nên tôi chần chừ. Biết đâu, lỗi tại mình mà người khác có phản ứng kỳ thị?
Thật ra, tôi cũng nghĩ rằng đây là một thách đố để mình chiến đấu và vượt qua khỏi chính mình. Bao lâu mình còn để cho những chuyện không ra gì ấy làm bận tâm thì mình sẽ là người thua cuộc thôi.
Cuối cùng thì tôi cũng tìm được một chút ánh sáng trong việc câu cá.Tôi cảm thấy mình thật sự được “chúc phúc” khi dọn về thành phố này. Người Việt nam gọi đất nước là “giang sơn”: ở đâu có núi sông  thì ở đó có quê hương. Lớn lên ở đồng quê, sau lưng là núi, phía trước là sông cho nên khi về thành phố này, tôi thấy như thể tìm lại được một chút quê hương. Thật vậy, chỉ cần đi năm ba bước, tôi đã có thể thấy có sông nước, ao hồ để,nếu không  thả câu, thì ít nhứt cũng có thể ngồi ngắm cảnh trời mây sông nước.

Câu cá không chỉ để giải trí hay, nói theo kiểu nói quen thuộc ở Việt nam hiện nay,  để “cải thiện”, nghĩa là có thêm đồ biển cho một chế độ dinh dưỡng quá thừa mứa thịt thà. Câu cá còn là dịp để giao lưu. Ở bãi câu, người ta chẳng còn phân biệt màu da, chủng tộc nữa. Một chiếc cần câu quăng ra dòng nước cũng thường đi kèm với một lời chào hỏi và san sẻ, khởi đi từ chuyện câu cá đến đủ mọi đề tài trong cuộc sống. Người này kéo được con cá cũng tạo thêm niềm vui và phấn khởi cho người khác. Nhiều lúc người ta giúp nhau kéo một con cá lớn lên bờ.Tình liên đới giữa những người câu cá là chuyện dễ thực thi nhứt. Óc kỳ thị chủng tộc xem ra cũng không có chỗ đứng nơi bãi câu.

Tôi thường đi câu cá với nhiều hy vọng: hy vọng được nhiều cá đã dành, mà cũng hy vọng gặp lại một người bạn câu hay có thêm một người bạn mới.

Một hôm, sau nhiều ngày gió chướng, không chịu nổi cảnh bó chân trong nhà cho nên muốn thử thời vận và thách thức những  luật bất thành văn của các cao thủ trong nghệ thuật câu cá, tôi mang hành trang ra đi. Vác cần ra chỗ câu quen thuộc, tôi tưởng mình sẽ là ngư ông duy nhứt. Nhưng vừa đến nơi, tôi đã thấy có hai người mà tôi không nghĩ là dân chuyên nghiệp. Hình như họ đến đây để giải sầu hơn là câu cá.Từ xa, tôi đã nghe men rượu nồng nặc xông tới. Mặt mũi râu ria, bậm trợn và tấm thân to bự để trần lộ ra những hình xâm, khiến tôi phải khựng lại.Thế nhưng các đệ tử của Lưu Linh đã đánh tan sự nghi ngại của tôi: họ nhoẻn miệng nở nụ cười thân thiện và cho biết rằng họ đã có mặt tại bãi câu hơn ba tiếng đồng hồ mà chỉ bắt được một con cá hanh nhỏ. Cảm thấy an tâm vì thái độ cởi mở của hai người bạn mới, tôi bắt đầu đưa kinh nghiệm lâu năm trong nghề ra để góp ý và trao đổi.

Sách hướng dẫn câu cá có tựa đề “The Australian Fisheman” của tác giả Harold Vaughan có khuyên rằng, sau 20 phút thả câu mà không thấy động đậy thì nên cuốn cần câu đi về hoặc đi một nơi khác để không đánh mất “hứng khởi”. Nhớ lại nguyên tắc ấy, sau đúng hai mươi phút tôi thu cần và đứng lên chào từ giã hai ông bạn câu mới.

Thấy tôi chuẩn bị về, hai ông bạn mới của tôi cũng đứng lên xin quá giang một đoạn đến trạm xe lửa.Tôi thông cảm với dân nghiện rượu mà còn  giữ tinh thần thượng tôn pháp luật: nếu đã uống quá chén, họ thà gọi taxi hay đi xe lửa hơn là lái xe. Mặc dầu đi về hai hướng khác nhau, tôi cũng cảm thấy vui khi được đưa hai ông bạn đến ga xe lửa. Một  ông còn “dụ khị”: “Ông cho tụi tôi đến ga rồi sẵn tiện ghé câu thêm một bãi khác chứ về nhà sớm làm chi?” Tưởng tôi là người Tàu, hai ông bạn lại xổ nho “Nị hảo ma?” Tôi đính chính: tôi không phải là người Tàu, mà là người Việt. Vậy là một trong hai ông reo lên: “Tôi có một người bạn Việt nam ở King Cross”. Nghe đến địa danh này, tôi thấy nổi da gà. Nhưng không hiểu tại sao tôi vẫn tiếp tục tin tưởng ở sự chân thành của hai người đàn ông xa lạ này.

Xuống xe, bất thần một ông ôm lấy tôi, trao cho tôi một cái hôn nồng nặc mùi rượu kèm với lời cám ơn và câu chúc “good luck”.
Người đàn ông làm cử chỉ này nhanh quá khiến tôi không kịp phản ứng và cũng chẳng kịp suy nghĩ. Cho đến năm 1981, khi bỏ nước ra đi, tôi chưa hề có bất cứ một ý niệm gì về đồng tính. Cùng lắm, thỉnh thoảng tôi chỉ gặp một vài người “lại cái”, nghĩa là những người đàn ông có điệu bộ yểu điệu như đàn bà con gái. Phần lớn những người này cũng có vợ và sinh con đẻ cái như những người đàn ông khác.Tuyệt nhiên, tôi không hề hay biết rằng bên cạnh những người đàn ông lại cái ấy, còn có những bậc mày râu, tướng tá hùng dũng, nhưng lại chỉ thích đàn ông. Tôi chỉ biết trên thế giới có một hạng người như thế kể từ khi va chạm với thế giới Tây phương. Ý thức về sự hiện hữu của loại đàn ông ấy, tự nhiên tôi cảm thấy phải “dè dặt” trong cách cư xử với chính người cùng phái và trẻ con. Lúc còn trong nước, tôi cũng tự nhiên như mấy anh bộ đội: choàng cổ, bá vai, nắm tay đàn ông thanh niên mà chẳng thấy sợ bị ai dòm ngó. Nhưng ra nước ngoài, tự nhiên tôi bị buộc phải cân nhắc và không ngừng đề cao cảnh giác trong khi tiếp xúc với “phe ta”.

Chính trong sự dè dặt ấy mà tôi tiếp nhận một cách thụ động cái hôn bất ngờ của người bạn câu mới. Nhưng không hiểu tại sao hôm ấy, tôi không xem cái hôn ấy như một thể hiện tự nhiên của một người đồng tính hay như một cử chỉ “hữu nghị ” mầu mè và giả dối của những người cộng sản trong khối “xã hội chủ nghĩa anh em”.Tôi chỉ đón nhận nó như một thể hiện chân tình của một người bạn đối với một người bạn. Hơn thế nữa, tôi còn xem đó như một “chúc phúc” dành cho một nghĩa cử mình vừa làm.


Cái hôn của người bạn câu say rượu này làm tôi nhớ lại buổi câu cá tại Port Douglas cách đây không lâu: có hai cậu bé độ 7, 8 tuổi đi câu mà không có mồi, lại cũng chẳng biết cột lưỡi câu.Thỉnh thoảng chúng lại liếc nhìn sang tôi với ánh mắt khẩn khoản van xin.Thấy thế, tôi liền bỏ câu đến tóm lưỡi câu và chia sẻ một ít mồi câu cho hai cậu bé. Buổi chiều hôm đó, tôi được một mẻ cá nhiều hơn bao giờ hết.
Nghĩ lại “phép lạ” này, tự nhiên tôi cũng tin rằng có lẽ ông “thiên thần say rượu” muốn mách bảo tôi tiếp tục đi câu. Tôi liền dừng xe và tìm đến một chỗ mà bình thường những người “sát cá” mấy cũng chẳng câu được con nào.Vậy mà chiều hôm đó, tôi cầm về khoe với vợ một con cá hanh gần hai ký, con cá hanh lớn nhứt trong sự nghiệp câu cá của tôi.

Lần sau, trước khi tôi ra bãi câu, vợ tôi cũng ôm hôn tôi một cái và cũng nói “good luck”. Nhưng hôm đó tôi chẳng kéo được con cá nào.Tôi ngẫm nghĩ: mình làm cử chỉ đẹp đâu phải để được đền đáp; tự nó mỗi một nghĩa cử mình làm được cũng đã là một phần thưởng rồi.

Triết lý câu cá ấy lại đưa tôi về với những lần bị đám thanh niên kỳ thị tấn công. Lần này, tôi tự nhủ: mình đã không mong được đền đáp vì một nghĩa cử làm cho người khác, thì cũng chẳng nên mất ăn mất ngủ vì một sự đối xử tệ của người đời. Nhìn dưới một khía cạnh khác, nếu không để bị lung lay thì dù không hy vọng trở thành triết gia cũng vẫn có thể ung dung tiếp tục đi câu cá và “câu” những người bạn chân tình.
 Chu Thập 21.10.2009