Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Dửng dưng là tên gọi của cái Ác

 


Chu Văn

Khoảng đầu thập niên 1990, nghĩa là vài năm sau khi Việt Nam tuyên bố mở cửa và chạy theo điều được gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, một số sinh viên học sinh được gởi đi du học tại Phi Luật Tân. Phi Luật Tân được chọn làm địa điểm du học, bởi vì nước này tương đối gần Việt Nam, tại đây Anh ngữ được sử dụng như một sinh ngữ chính, học phí thấp, giá sinh hoạt cũng rẻ. Trong số những sinh viên du học tại Phi, tôi thấy cũng có một số tu sĩ công giáo và trong số tu sĩ công giáo, tôi biết chắc có một nữ tu đã từng là thành viên của cái gọi là “Ủy ban đoàn kết công giáo”. Đây là một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng Sản. Nhiều người đọc trại ra thành “Ủy ban đàn két cong giáo”.

Biết tôi hay lên tiếng phê bình chế độ, một hôm vị nữ tu này ngỏ ý mời mọc: “Hãy về Việt Nam thăm thú một lần cho biết. Bây giờ Việt Nam cởi mở và tiến bộ hơn Phi Luật Tân rất nhiều”. Vào thời điểm đó và cho đến nay, kinh tế Phi Luật Tân vẫn cứ èo uột, tệ nạn xã hội đầy dẫy. Mặc dù là một nước dân chủ, Phi Luật Tân vẫn bị thế giới bên ngoài xem như một “bệnh nhân của Á Châu” (the sick man of Asia). Dù vậy, tôi vẫn thấy Phi Luật Tân là một nơi dễ sống: đa số người dân Phi lịch sự, lương thiện và tử tế. Thành ra trong câu chuyện trao đổi với vị nữ tu, tôi chỉ hỏi lại: “Thế ở Việt Nam có tự do báo chí như Phi Luật Tân không? Người Việt Nam có dám lên tiếng phê bình và ngay cả chế diễu các cấp lãnh đạo quốc gia như người Phi không?” Và câu hỏi mà tôi nghĩ đã khiến cho vị nữ tu “giao liên” này ấm ức đến độ phải câm miệng là: “Ở Việt Nam ngày nay, người dân có biết “lịch sự” xếp hàng khi chuẩn bị lên những phương tiện di chuyển công cộng như người Phi không?” Hay “Ở Việt Nam, có cảnh trên các phương tiện di chuyển công cộng, hành khách có tự làm công việc trả tiền, thối tiền và giúp nhau chuyển tiền đến tận tay người tài xế mà không sứt mẻ đồng xu nào như người Phi không?”

Tôi thường đánh giá “sức khỏe” của một đất nước qua những cử chỉ nhỏ như thế. Về kinh tế, Việt Nam có lẽ đã đạt được nhiều bước đáng kể. Tuy nhiên, liệu những giá trị nhân bản và đạo đức vốn tạo nên “sức khỏe” của một quốc gia, có thực sự song hành với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam không?

Trước năm 1975, trong chương trình triết học, tôi có được học đôi chút về chủ nghĩa cộng sản. Nhưng phải “thành thực khai báo” là cái mớ lý thuyết ấy chẳng thấm vào đầu tôi bao nhiêu. Phải đợi cho đến khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam, áp đặt lên chủ nghĩa cộng sản, tôi mới thực sự hiểu được thế nào là cộng sản. Thật vậy, chủ nghĩa cộng sản mà khi đến Pháp vào đầu thập niên 1982, tôi thường nói với người Pháp rằng tôi đã chạm đến bằng đầu ngón tay của tôi (toucher du doigt), chính là cái Ác đã được định chế hóa. Cộng sản tự bản chất là độc ác và biến cái xã hội mà họ lãnh đạo cũng thành độc ác.

Cứ tưởng phát triển kinh tế sẽ làm cho người cộng sản bớt độc ác hơn và bộ mặt của xã hội cũng nhân bản hơn. Nhưng chưa bao giờ tại Việt Nam người ta lên tiếng báo động về sự lên ngôi của cái Ác cho bằng hiện nay. Gần đây, nhiều người chú ý đến lời báo động của ông Lê Kiên Thành, quý tử của đồ tể Lê Duẩn, người đã từng giữ chức Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Trong một bài viết có tựa đề “Tôi cầu mong chúng ta sẽ thức tỉnh”, ông Thành ghi nhận: “Điều rõ nhất tôi cảm nhận được là chưa bao giờ cái xấu và tội ác đến với chúng ta bình thản như thế này. Người ta nhìn nó thản nhiên, như là điều tất yếu”. Người đã từng là thái tử đảng kể lại: “Đó là buổi sáng, khi tôi đọc tin về một cậu thanh niên cứa cổ đứa bé 8 tháng tuổi; đó là khi tôi đọc tin về những người dân cùng xông vào đánh chết một kẻ trộm chó...” Ông Thành phê phán: “Có những người trong chúng ta hôm nay dùng cái ác và cái xấu để sinh tồn. Việc một tên cướp bị tuyên án tử hình vì chém đứt tay một người  và trước đó đã chém 14 người, nhưng bà mẹ đẻ ra tên cướp đó không hề mảy may ân hận. Đó là hình ảnh đáng sợ nhất: một người mẹ biết quý con mà không còn coi sự sống của người khác ra gì” (1).

Ông Thành đã có lý để nhấn mạnh đến thái độ dửng dưng của rất nhiều người Việt Nam hiện nay trước cái Ác. Theo nhà báo Tưởng Năng Tiến, “nói một cách tóm tắt, hiểm họa lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay”. Dửng dưng trước tình hình đất nước, dửng dưng trước cái Ác, nhưng lại rất hăng say và ngay cả cuồng nhiệt đối với các thứ “sao” như tin tức của báo chí nhà nước ghi nhận: “Fan Việt đội mưa rét vạ vật ở sân bay đón sao Hàn. Đón sao Hàn giữa dịch Corona. Fan vây kín Tân Sơn Nhất để đón nhóm nhạc Hàn giữa đại dịch Corona. Fan bóng đá còn đông đảo và cuồng nhiệt hơn gấp bội. Việt Nam không ngủ, hàng triệu người xuống đường mừng nhà vô địch Sea Games” (2). Để cho đủ danh sách các “sao” được người Việt Nam hiện nay sùng bái, có lẽ tác giả Tưởng Năng Tiến cũng nên ghi thêm “siêu sao” Donald Trump!

Tháng Tư năm nay, khi nghĩ về cái Ác đang bao trùm và nhận chìm xã hội Việt Nam xuống vực thẳm, tôi cũng liên tưởng đến số phận của người dân A Phú Hãn. Chính phủ Mỹ vừa tuyên bố sẽ rút quân ra khỏi nước này. Viễn ảnh của sự trở lại của chế độ Taliban trên đất nước này là điều xem ra gần như tất yếu. Thế giới đã chứng kiến sự độc ác của chế độ này và một khi trở lại cầm quyền chắc chắn nó cũng sẽ không từ bỏ bộ mặt độc ác của nó.

Tôi nghĩ đến người dân A Phú Hãn bởi vì số phận của họ cũng giống như số phận của người Việt Nam. Mỹ đến rồi Mỹ đi, bỏ mặc cho cái Ác cày xéo cả một dân tộc.

Là công dân của một quốc gia, tôi không đứng bên lề chính trị. Nhưng dĩ nhiên, tôi “làm chính trị” theo cách thế của tôi. Và cách thế của tôi là tôi không sống chết cho một đảng chính trị nào cả. Tôi sống chết cho lẽ phải. Phải thì tôi dồn phiếu cho. Không thì tôi nghỉ chơi. Về nước Mỹ, tôi cũng “ba phải” như thế.

Bàn về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa,  những người Việt Nam ủng hộ Đảng Cộng Hòa khăng khăng cho rằng chính cái Đảng Dân Chủ “thổ tả” đã khiến cho Miền Nam Việt Nam bị bức tử, vì Quốc hội mà họ nắm quyền kiểm soát đã cắt đứt viện trợ và chống lại việc dội bom xuống Bắc Việt. Những người Việt Nam sống chết cho Đảng Dân Chủ thì lại dựa trên sự kiện tổng thống thuộc Đảng Cộng Hòa Richard Nixon đã bắt tay với Trung Cộng để trút hết tội lỗi lên đầu Đảng này vì đã bán đứng đồng minh Việt Nam Cộng Hòa. Riêng tôi suy nghĩ một cách đơn giản: dù có thuộc Đảng nào đi nữa, Hoa Kỳ lúc nào cũng đặt quyền lợi của mình lên trên hết. Vì quyền lợi của họ, họ “đi vào” và vì quyền lợi của họ, họ “đi ra” và bỏ mặc cho cái Ác hoành hành trên một đất nước mà đã họ từng cam kết giúp đỡ.

Quyền lợi của nước Mỹ thật ra trước hết cũng chính là cái ghế của nhà lãnh đạo. Vì của ghế của ông, ông sẵn sàng bán đứng hay bỏ rơi đồng minh. Quyền lợi của nước Mỹ cũng là sự lãnh đạo của Đảng đang cầm quyền: sự lãnh đạo ấy được đặt lên trên số phận của một dân tộc khác. Và dĩ nhiên, quyền lợi của nước Mỹ xét cho cùng cũng là những thứ tự do cá nhân mà người Mỹ luôn đòi hỏi cho mình bất kể những mất mát, khổ đau và ngay cả mạng sống của người khác. Người Mỹ muốn dựng tượng nữ thần tự do trên khắp thế giới, nhưng tiếng kêu than của những người khốn khổ mà nữ thần này che chở, lại không được họ màng tới.

Tôi thường có ý nghĩ ấy khi suy nghĩ về hai cơn đại dịch đã và đang hoành hành tại Mỹ. Trước hết là đại dịch Covid-19. Văn minh nhứt thế giới, giàu có nhứt thế giới, có hệ thống y tế tiên tiến nhứt thế giới, vậy mà Hoa Kỳ lại là nước đứng đầu thế giới về con số người bị lây nhiễm và tử vong vì Covid-19. Tất cả chỉ vì hai chữ tự do: tự do chống lại những qui định cần thiết như đeo khẩu trang, tuân giữ giãn cách xã hội và tập trung đông người, tự do tập trung để “thờ phượng”...mặc cho dịch bệnh có cướp đi mạng sống của những người xung quanh. Ai có chết cũng mặc kệ, miễn là tôi được tự do!

Bênh cạnh đại dịch Covid-19, còn có một đại dịch khủng khiếp hơn: đó là đại dịch “bạo động bằng súng đạn”. Trong cái quốc gia lúc nào cũng muốn là “vĩ đại” nhứt thế giới lại xảy ra chuyện bắn giết như cơm bữa. Ai có chết vì súng đạn cũng mặc kệ, bằng mọi giá tôi phải bảo vệ quyền tự do mang súng và sử dụng súng của tôi! 

Tự do đã biến thành dửng dưng trước cái Ác và nỗi khổ đau của người khác. Cả thế giới đã theo dõi vụ án của Derek Chauvin, viên cảnh sát Mỹ đã sát hại người Mỹ gốc Phi Châu George Floyd dạo tháng Năm năm ngoái. Thước phim mà một thiếu nữ tình cờ quay được và được trưng ra như một bằng chứng sống động về hành vi sát nhân của Chauvin, cho thấy khi dùng 2 đầu gối đè lên ông Floyd cho đến độ nghẹt thở, viên cảnh sát này vẫn thản nhiên nhìn về hướng người đang quay phim bằng một cái nhìn mà ký giả John Blake của Đài CNN gọi là “còn tệ hơn cả sự hận thù”. Đó là cái nhìn của dửng dưng. Ký giả này viết: “Đây (cái nhìn của Chauvin) sẽ là một trong những hình ảnh tiêu biểu của thời đại chúng ta bởi vì nó nói lên một câu chuyện về chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc mà nhiều người không muốn nghe nói đến” (3).

Sự dửng dưng của xã hội Việt Nam trước cái Ác và chuyện đang xảy ra ở Mỹ không khỏi làm tôi nhớ lại lời cảnh cáo của ông Elie Wiesel (1928-2016), một người Do Thái đã từng sống sót từ cuộc diệt chủng do Đức Quốc Xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến  và được trao giải Nobel Văn Chương. Ông nói: “Phản nghĩa của tình yêu không phải là hận thù mà là dửng dưng”. Với tôi, dửng dưng trước cái Ác là tên gọi của cái Ác.  Nhìn nỗi khổ đau và chết chóc của người xung quanh mà ánh mắt của tôi như bất động, trái tim của tôi không thổn thức...thì tôi có khác gì thú vật chỉ biết chăm sóc cho bộ da riêng của mình.

 

 

 

 

Chú thích:

 

1.            baotiengdan.com/2021/04/13/vi-sao-tai-viet-nam-hom-nay-cai-ac-troi-day

2.            https://vietbao.com/a307720/s-t-t-d-tuong-nang-tien-nuoc-mien-nhin-tu-xu-viet

3.            https://edition.cnn.com/2021/04/24/us/derek-chauvin-eyes-indifference-blake/index.html

 

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

Con vật có lý trí


 


Chu Văn

Tuần qua, ghé thăm một ông bạn chí cốt, thấy ông đang nằm ôm Ipad nghe chuyện ma của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Hỏi sao không theo dõi thế sự nữa, ông nói rằng ông “chán” lắm rồi, vì chính trị, nhứt là chính trị Mỹ, quá thối nát, nghe bẩn tai. Tôi chưa từng đọc, nghe hay say mê bất cứ chuyện ma nào của nhà văn kiêm MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Nhưng với tôi, thoát khỏi cái vòng kim cô chính trị hiện nay không phải là dễ. Cụ thể, tôi đang bị ám ảnh bởi một nhân vật chính trị mà có lẽ hai thuật ngữ được nhà văn J.K Rowling sử dụng để nói đến nhân vật phản diện Voldemort trong tập truyện Harry Potter của bà diễn tả chính xác hơn cả. Thật vậy, Voldemort, trong thế giới phù thủy của nhà văn Rowling, đã tạo ra một sự thần phục, say mê hoàn toàn trên một số đám đông và một nỗi sợ hãi, kinh ghét khủng khiếp trên những đám đông khác đến độ tất cả mọi người đều chỉ dám nhắc đến ông như “kẻ không nên gọi tên” (He Who must not be named) và “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” (The One every knows who he is). Tôi không muốn nhắc đến tên nhân vật chính trị đó, bởi vì ai “cũng biết ông là ai” và ai cũng đều biết rằng ông hiện đang gây xáo trộn và chia rẽ phải nói là khủng khiếp trong quan hệ xã hội khắp mọi nơi chớ không riêng gì tại Hoa Kỳ.

Mới đây tôi có đọc được một bài phóng sự của Joe Pinsker trên báo The Atlantic. Trước hết tác giả ghi lại mối quan hệ sứt mẻ giữa 2 người phụ nữ mà tình bạn đã có từ 3 thập niên qua. Trong 15 năm qua, cứ 2 ngày thì họ đi ăn trưa với nhau một lần và rất thường đi nghỉ hè chung với nhau. Họ cũng có mặt trong hầu hết những dịp sinh nhựt, cưới hỏi hay ma chay trong gia đình của nhau. Nhưng người phụ nữ được ký giả Pinsker đặt tên là Luna cho biết kể từ khi “kẻ mà cũng biết là ai đó” được bầu làm tổng thống, người bạn của bà đã say mê cuồng nhiệt ông ta. Luna đề nghị nên dẹp “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” sang một bên để duy trì tình bạn. Nhưng người phụ nữ kia thà đánh mất một tình bạn keo sơn hơn là từ bỏ “niềm tin” đối với nhân vật chính trị đó.

Ký giả Pinsker trích dẫn một cuộc thăm dò do hãng thông tấn Reuters và Ipsos thực hiện. Kết quả của cuộc thăm dò cho thấy kể từ sau chiến thắng hồi năm 2016 của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”, 16 phần trăm những người được hỏi ý kiến cho biết rằng vì cuộc bầu cử, họ đã cắt đứt liên lạc với một người bạn hay một người thân trong gia đình. Tôi nghĩ nay tỷ lệ ấy cao hơn rất nhiều.

Trong số những người được ký giả Pinsker hỏi ý kiến có một phụ nữ gốc Việt tên là Helen Nguyễn. Là một kỹ sư điện toán, người phụ nữ gốc Việt 41 tuổi  này cho biết vì bà không thích “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” cho nên đã có những cuộc cãi vã gay gắt với cha mình. Rồi kể từ khi Quốc hội Liên bang Mỹ chứng nhận chiến thắng của ông Joe Biden, cha bà, mặc dù cùng sống chung trong gia đình, đã không còn nhìn mặt bà nữa. Bà nói với ký giả Pinsker: “Tôi cảm thấy như thể chúng tôi là những người xa lạ mặc dù sống chung dưới một mái nhà”.

Trên đây chỉ là một điển hình trong rất nhiều cuộc chia tay giữa bạn bè, người thân trong cộng đồng người Việt tại Mỹ.

Một số người được ký giả Pinsker tiếp xúc khẳng định rằng những ai ủng hộ “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” không đủ tư cách để trở thành một người bạn của họ. Họ nói rằng thái độ này nói lên một sự thiếu sót về mặt đạo đức (1).

Càng bước vào tuổi già, tôi càng trân quý tình bạn và dĩ nhiên, với tôi, tình bạn được kết nối dựa trên một số những giá trị mà 2 bên cùng chia sẻ với nhau. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, đó là chuyện thường tình trong quan hệ xã hội. Nhưng sau nhiệm kỳ 4 năm của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”, mặc dù đang sống ở tận Miệt Dưới này, tôi thấy mình cũng đã mất một số bạn và quan hệ với một số khác đã trở nên nếu không sứt mẻ thì cũng lạnh lùng. Có những người tôi rất muốn gặp lại để hàn gắn một tình bạn đã bị sứt mẻ, nhưng cánh cửa của hòa giải vẫn mãi mãi bị đóng kín. Số khác, rất đông, thì lại có thái độ giữ kẽ mỗi khi gặp lại. Tuyệt nhiên, ai cũng nắm vững một quy luật bất thành văn: chớ đụng đến tên của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”. Tôi vẫn cố gắng giữ liên lạc với bạn bè và người thân mà tôi biết rõ đang say mê cuồng nhiệt và ngay cả sùng bái “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”. Trên đời này có quá nhiều điều khó hiểu và điều khó hiểu nhứt hiện nay đối với tôi đó là sự say mê cuồng nhiệt và sùng bái ấy.

Mới đây một cựu luật sư của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” là bà Sydney Powell đã đưa ra một lời giải thích mà tôi không biết có nên xem như một chút ánh sáng chiếu rọi vào sự say mê cuồng nhiệt và sùng bái của bạn bè và người thân của tôi đối với nhân vật chính trị này không. Trong một lần xuất hiện bên cạnh luật sư nổi tiếng của nhân vật này là ông Rudy Guiliani ngày 19 tháng Mười Một năm vừa qua, bà Powell đã thao thao bất tuyệt với vô số “bằng chứng” về gian lận bầu cử đặc biệt nhắm vào hệ thống điện toán bầu cử có tên là Dominion Voting Systems. Vì uy tín của mình bị hạ giảm nặng nề cho nên hãng này đã đâm đơn kiện bà Powell và đòi một số tiền bồi thường lên đến 1 tỷ 3 trăm triệu Mỹ kim. Dĩ nhiên tất cả những “bằng chứng” mà bà Powell đưa ra, trong đó có cả chuyện hãng Dominion có liên hệ với nhà tộc tài của Venezuela là ông Hugo Chavez vốn đã qua đời cách đây 8 năm, đều là những lời dối trá lố bịch. Biết không thể chống chế được khi phải ra hầu tòa vì tội dựng chuyện để bôi nhọ hãng Dominion cho nên qua luật sư của mình, bà Powell xin tòa bác đơn kiện của hãng này. Lý do bà đệ trình lên tòa là: khi đưa ra các “bằng chứng” để tố cáo hãng Dominion, bà chỉ nói lên một “ý kiến” và bà biết rõ rằng không có một “người có lý trí” (reasonable person) nào tin lời bà (2).

Tôi thật chưng hửng khi nghe lời biện minh của bà Powell về những lời dối trá trắng trợn của bà. Tôi không dám cho rằng bạn bè và người thân của tôi là những người “không có lý trí” khi họ tin vào những lời dối trá của bà Powell và nhứt là của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” và trên 30 ngàn lời nói dối của ông ta. Cho tới nay, mặc dù việc ông Joe Biden đã tuyên thệ nhậm chức và đã hành xử như một tổng thống từ hơn 2 tháng nay là một sự thật không thể chối cãi được, vậy mà nhiều bạn bè và người thân của tôi vẫn tiếp tục cho rằng ông đã đánh cướp cuộc bầu cử và tin rằng “nay mai” “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” sẽ trở lại cầm quyền và bắt nhốt toàn bộ các lãnh tụ của Đảng Dân Chủ, kể cả cựu Tổng thống Barack Obama và bà Hillary Clinton. Bên cạnh niềm hy vọng hão huyền ấy còn có vô số thuyết âm mưu hiện đang được phát tán trên các trang mạng xã hội.

Lời thú nhận của bà Powell không thể không làm tôi nhớ đến định nghĩa về con người của một trong những cha đẻ của triết học Tây Phương là Aristotélès (384-322). Theo triết gia Hy Lạp  này, “người là con vật có lý trí”. Tôi vẫn hiểu một cách rất đơn giản về lý trí: đó là khả năng biết phân biệt thiện - ác và chân - giả. Thú vật không có khả năng đó. Thú vật chỉ hành động theo bản năng. Khi con người chỉ sống và hành động theo bản năng, nhứt là những bản năng thấp hèn thì khoảng cách giữa người và thú dễ bị xóa bỏ.

Mỗi năm cứ đến Tháng Tư Đen thì có lẽ hầu như người Việt tỵ nạn nào cũng đều nghĩ đến cái khoảng cách giữa người và thú khi những người Cộng sản xâm chiếm Miền Nam và áp đặt chủ nghĩa cộng sản. “Sâu bọ lên làm người” và “ người xuống hàng súc vật”. Nghe thật oái oăm, nhưng câu đối dường như muốn nói lên một sự thật phũ phàng là khi lý trí bị đè bẹp thì con người cư xử với nhau chẳng khác nào hay còn thua cả súc vật.

Hôm thứ Bảy 27 tháng Ba vừa qua, chính phủ quân phiệt Miến Điện đã cử hành Ngày Quân Lực. Song song với một cuộc diễn binh rầm rộ là những bữa tiệc linh đình của các tướng lãnh. Đại diện nhiều nước, trong đó dĩ nhiên có Nga và Trung Cộng, đã có mặt trong những cuộc liên hoan ấy. Và cùng ngày hôm đó, các lực lượng an ninh Miến đã xả súng vào đám đông những người biểu tình không có võ trang khiến cho gần cả trăm người chết, trong đó có cả trẻ con. Nhìn vào cuộc diễn binh, những bàn tiệc linh đình bên cạnh cảnh máu đổ thịt rơi của người dân vô tội, có người đã nhớ lại câu nói để đời của ông tổ chủ nghĩa Marxit: “Chỉ có thú vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ da của mình”.

Chẳng có ai muốn “xuống hàng súc vật” cả. Ai cũng muốn người khác tôn trọng nhân phẩm được xây dựng trên lý trí của mình. Người Việt Nam đau buồn vì một Tháng Tư Đen.  Người Mỹ gốc Phi Châu cũng có một Tháng Tư để tưởng niệm. Thật vậy, ngày mùng Bốn Tháng Tư năm 1968 là ngày một trong những nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng nhứt thế giới là cố mục sư Martin Luther King đã bị thảm sát. Ngày hôm đó, vị mục sư da đen này đã đến thành phố Memphis, Tiểu bang Tennessee để lãnh đạo một cuộc đình công và tuần hành do các nhân viên vệ sinh da đen trong thành phố tổ chức để yêu cầu được hưởng một đồng lương công bình và cải thiện những điều kiện làm việc. Ngày hôm đó, những người tham gia cuộc biểu tình đã đeo trước ngực một tấm bảng trên đó có viết hàng chữ: “Tôi là một con người” (I am a man). Khi những nhân viên vệ sinh da đen tại thành phố Memphis đeo tấm bảng “Tôi là một con người” trước ngực, họ không những muốn khẳng định sự bình đẳng như được ghi trong Hiến Pháp của Hoa Kỳ, mà dường như cũng còn muốn nhắc lại cả một lịch sử đau thương của một chủng tộc đã bị nô lệ hóa và đối xử chẳng khác nào thú vật chỉ vì màu da của họ.

“Tôi là một con người”. Đó là một khẩu hiệu đáng được đưa ra để nghiền ngẫm và nhứt là tự vấn lương tâm. Liệu tôi có thật sự là “một con người” không khi tôi chối bỏ, xúc phạm hay chà đạp phẩm giá của người đồng loại? Liệu tôi có thật sự là “một con người” không khi tôi từ bỏ cái phẩm giá cao quý của con người là lý trí để chối bỏ sự thật và hùa theo những lời dối trá độc ác? Liệu tôi có là “một con người” không khi không dám lên tiếng nói lên điều cần phải nói hay điều mà người ta tránh nhắc tên chỉ vì không muốn làm phật lòng một số người dù biết rằng đó vẫn là một ung thư trong giai đoạn di căn đáng sợ?  

Trong ngôn ngữ Việt Nam, từ “con người” hàm chứa một sự thật thâm sâu: sống là một cuộc chiến liên lỉ trong đó nếu những bản năng thấp hèn lấn lướt lý trí thì nhân cách sẽ bị thui chột. Nói cách khác, phần “người” chỉ thật sự được thăng hoa khi phần “con” được thu nhỏ lại.

  

Chú thích

1.      https://www.theatlantic.com/family/archive/2021/03/trump-friend-family-relationships/618457/

2.      https://www.news.com.au/world/north-america/us-politics/trump-lawyer-says-no-reasonable-person-would-believe-her/news-story/40b1c459713f4dd9743d00d02ac78778

 

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

Tiếp tay với dối trá là đồng lõa với cái Ác

 



Chu Văn

Những biến động tại Miến Điện làm tôi nhớ tới những người bạn Miến Điện mà tôi đã kết thân với trong thời gian làm việc trong một đài phát thanh công giáo tại Phi Luật Tân. Đài phát thanh mà tôi nói tới là một cơ quan truyền thông công giáo phủ sóng trên hầu hết các nước Á Châu, Nga và Ukraine. Riêng với Miến Điện, đài có tới 3 chương trình bằng tiếng Miến Điện, Kachin và Karen. Các nhân viên làm việc cho các chương trình ngoại quốc được cung cấp nơi ăn chốn ở trong một khu tập thể lớn ngay trong khuôn viên của đài. Chúng tôi gặp nhau mỗi ngày và trong nhiều sinh hoạt khác nhau. Riêng với những người bạn Miến Điện, tôi có một mối thâm tình đặc biệt. Lúc nhỏ mỗi lần nhắc đến Miến Điện, tôi  thường  chỉ nghe nói đến ông U Thant,  Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nổi tiếng từ năm 1961 đến năm 1971. Nhưng với những người bạn cùng làm việc và chia sẻ cuộc sống hầu như mỗi ngày, tôi mới có dịp tìm hiểu thêm về địa lý, lịch sử và văn hóa Miến Điện. Rất đa diện về sắc tộc, nhưng những người bạn Miến Điện của tôi đều có chung một nét rất dễ thương: họ là những con người chơn chất, tử tế và hiếu hòa! Gặp là muốn làm quen ngay!

Trong những ngày này, tôi thường nghĩ đến những người bạn Miến Điện ấy.

Ngày 20 tháng Hai 2021 vừa qua, cả thế giới đã rúng động khi một cô gái trẻ tên là Mya Thwet Thwet Khine bị cảnh sát bắn đạn thật vào đầu trong một cuộc biểu tình tại Thủ đô Nay Pyi Taw. Cô gái này bị sát hại chỉ 2 ngày trước sinh nhựt lần thứ 20 của mình. Tám ngày sau, thế giới gần như đã bị chấn thương khi Liên Hiệp Quốc công bố tin có 18 người bị sát hại. Nhưng sự độc ác của chế độ quân phiệt Miến Điện không dừng lại ở đó. Chỉ 10 ngày sau, một cô gái khác tên là Angel (thiên thần), mặc dù mặc một chiếc áo có ghi dòng chữ “mọi sự rồi sẽ ổn” (Everything will be Ok), cũng đã bị bắn chết bằng đạn thật. Mọi sự đã không ổn như cô gái này mơ ước, bởi vì cũng chính ngày hôm đó, cùng với cô, cũng đã có 38 người khác bị giết chết trong cuộc biểu tình.

Tôi thất vọng bởi vì dường như cả thế giới đang bó tay đứng nhìn tội ác đang tiếp tục diễn ra tại Miến Điện. Lệnh trừng phạt mà các nước Phương Tây đã hay sẽ áp đặt lên Miến Điện cũng chẳng lay chuyển được các tướng lãnh nước này một ly ông cụ nào cả. Liên Hiệp Quốc xem ra cũng chẳng làm được gì. Thậm chí Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có muốn tuyên bố lên án bạo lực của quân đội Miến Điện, cũng chẳng làm được, bởi vì Trung Quốc và Nga luôn đứng chống lưng họ. Soe Win, chỉ huy phó quân đội Miến đã thách thức: “Chúng tôi quen với lệnh trừng phạt rồi và chúng tôi có chết đâu” (1).

Lời tuyên bố này có lẽ cần phải được hiểu như một cảnh báo và đe dọa về những hành vi bạo lực ngày càng độc ác hơn mà chế độ quân phiệt Miến sẽ thực hiện. Không biết bao lâu nhưng chế độ quân phiệt và sự độc ác sẽ tiếp tục ngự trị tại Miến Điện. Cũng như bất cứ một chế độ độc tài nào, khi bắt chước cựu Tổng thống Donald Trump để tuyên bố rằng cuộc bầu cử vào tháng Mười Một vừa qua tại Miến Điện là gian lận, chế độ quân phiệt tại Miến Điện cũng được xây dựng trên những lời dối trá và được nuôi dưỡng bằng những thế lực dối trá. Tôi luôn tin rằng dối trá sinh ra độc ác và ở đâu có những người tiếp tay cho dối trá thì ở đó bạo lực vẫn tồn tại.

Ý nghĩ này luôn quay cuồng trong đầu óc tôi mỗi khi tôi nhìn về nước Mỹ hiện nay. Nước Mỹ là “đất nước của những cơ hội” cỡ nào thì tôi không biết, điều tôi đang chứng kiến mỗi ngày là bạo lực đã trở thành gần như tình trạng “bình thường” của đất nước vĩ đại này. Kể từ khi ông Donald Trump trở thành một “thường dân” như mọi người Mỹ khác, tôi tưởng mình sẽ không phải nhắc đến ông nữa. Nhưng ăn không được thì đạp đổ, dường như ông chẳng muốn để cho bất cứ ai được “yên” cả. Ông buộc mọi người phải luôn “nhớ” tới ông. Bài diễn văn dài 90 phút của ông tại Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ tại Orlando, Tiểu bang Florida hôm Chúa nhựt 28 tháng Hai vừa qua, đã được mở đầu bằng câu: “Quý vị đã thấy nhớ tôi chưa? Quý vị có nhớ tôi không?” (Do you miss me yet? Do you miss me?” (2)  Tôi không có mặt trong Hội nghị đó. Nhưng phải nói là tôi “nhớ” ông. Dĩ nhiên, như một nỗi ám ảnh và nhứt là mỗi khi tôi nghĩ đến tình trạng bất ổn hiện nay của nước Mỹ. Tất cả đều bắt nguồn từ trên 30 ngàn lời dối trá của ông trong suốt 4 năm làm tổng thống và nhứt là lời dối trá cuối cùng và trơ trẽn nhứt rằng cuộc bầu cử vừa rồi là một cuộc bầu cử gian lận và bị đảng dân chủ đánh cắp! Cho tới nay, ông vẫn lập lại lời dối trá ấy và đa số những người đã dồn phiếu cho ông trong cuộc bầu cử vừa qua vẫn tiếp tục tin điều đó.

Ông Trump chủ trương nói dối như Cuội, vì ông nắm chắc chân lý: các chế độ độc tài và các chế độ chuyên chế hay có khuynh hướng chuyên chế chỉ có thể tồn tại được là nhờ dối trá. Có lẽ ông cũng thừa biết rằng dối trá luôn dẫn đến bạo lực và chết chóc. Khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, Trung Cộng đã dối trá bằng cách bưng bít sự thật về sự lây lan chết người của dịch bệnh. Cả thế giới đã trở thành nạn nhân của sự dối trá độc ác của Trung Cộng. Riêng Hoa Kỳ, cường quốc số một thế giới về mọi mặt, nếu có “vô địch” thế giới về con số người bị nhiễm và chết vì Covid-19, cũng chỉ vì sự dối trá của ông Trump. Và hiện nay, nếu Hoa Kỳ, ngọn hải đăng của thế giới về dân chủ và ổn định, có rơi vào bất ổn cũng chỉ vì sự dối trá của ông Trump. Chính lời dối trá về gian lận bầu cử của ông đã kích động cuộc bạo loạn ngay trong tòa nhà Quốc hội Liên bang hôm mùng Sáu tháng Giêng vừa qua và cho tới nay vẫn tiếp tục gieo mầm mống cho bạo loạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Có bao giờ nước Mỹ trở thành một nơi bất ổn và không an toàn  như lúc này không?

Trong những ngày này, là một người Việt Nam, tôi không thể không lo cho số phận của thân nhân, bà con và bạn bè quen biết của tôi bên Mỹ. Tin tức trong những ngày gần đây báo động về sự gia tăng cường độ của những hành vi bạo động mang tính thù hận chủng tộc nhắm vào cộng đồng người Á Châu trong đó có người Việt Nam. Bạo động và kỳ thị chủng tộc, bài ngoại không phải là điều mới mẻ trong xã hội Mỹ. Nhưng kể từ một năm nay, đại dịch Covid-19 và những lời lẽ kích động hận thù chủng tộc của ông Trump đã làm cho bạo động chống người Á Châu thêm tồi tệ hơn (3).

Bao lâu ông Trump còn tiếp tục dối trá thì nước Mỹ vẫn còn chìm đắm trong bạo loạn và bất ổn. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhà báo Đinh Quang Anh Thái trong bài bình luận của ông với tựa đề “Nước Mỹ có còn an toàn không?” (4). Ở cuối bài bình luận, nhà báo này đã khẳng định: bao lâu ông Trump vẫn tiếp tục tung ra lời dối trá rằng cuộc bầu cử là gian lận và Tổng thống Joe Biden đã đánh cắp buộc bầu cử thì nước Mỹ sẽ mãi mãi là một nước không an toàn. Sở dĩ nước Mỹ sẽ mãi mãi là một nước không an toàn là bởi vì chính những lời dối trá của ông Trump đã và đang nuôi dưỡng những thuyết âm mưu vô căn cứ tràn lan trên các trang mạng xã hội.

Dối trá dẫn đến bạo lực. Dối trá nuôi dưỡng cái Ác. Dối trá càng được tung hô thì cái Ác càng trở nên chuyện thường ngày. Sau Đệ nhị Thế chiến, những người đã từng cộng tác với đồ tể Hitler và Đức Quốc Xã trong chủ trương diệt chủng đối với người Do Thái, đã bị săn lùng, bắt giữ và đem ra xét xử. Hầu hết đều biện minh cho sự vô tội của mình và tuyên bố chỉ hành động theo lệnh thượng cấp. Theo Hannah Arendt (1906-1975), nữ ký giả đã từng theo dõi vụ xử một trong những đồng phạm khét tiếng của Hitler là Adolf Eichmann và tường thuật trong tác phẩm nổi tiếng “Eichmann in Jerusalem”, “tội ác của Eichmann, cũng như của rất nhiều tên tội phạm phát xít khác, bắt nguồn từ sự tuân thủ mệnh lệnh cấp trên và những điều luật vô đạo đức của một chế độ độc tài. Tội ác đó càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự tán đồng hay bàng quan của rất nhiều người dân bình thường trong xã hội”(4).

“Những người dân bình thường trong xã hội”. Tôi nghĩ đến những người đang chạy theo các thuyết âm mưu và những lời dối trá phải nói là “độc ác” của một người như Donald Trump. Với tôi, tiếp tay với dối trá là đồng lõa với cái Ác.

 

Chú thích

1.                     https://www.luatkhoa.org/2021/03/va-chung-ta-ngoi-yen-nhin-nguoi-bieu-tinh-myanmar-bi-ban-chet/

2.                     https://www.news.com.au/national/do-you-miss-me-yet-trump-teases-2024-run-in-address-to-cpac/video/d8769d33391a4c27a4a0dbdc4ca9d95f

3.                     https://www.vox.com/identities/2020/4/21/21221007/anti-asian-racism-coronavirus-xenophobia

4.                     Youtube.com  Đinh Quang Anh Thái-Nước Mỹ có còn an toàn không?

5.                     https://ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/6046-s-t-m-thu-ng-c-a-cai-ac-nguy-n-h-ng

 

Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2021

Học biết...thua cuộc.

 



Chu Văn

Tôi học được nhiều  bài “học làm người” từ súc vật và trẻ con.

Về súc vật thì dĩ nhiên tôi không thể không nói đến cậu chó nhà tôi. Ở trong nhà cậu hiền như Bụt. Ai đến nhà chơi, cậu cũng lân la gạ gẫm để làm quen. Với những con thú khác, ngoại trừ khi được lệnh phải săn đuổi, lúc nào cậu cũng cư xử như một con cừu non. Hai con gà ri mà tôi nuôi như thú kiểng thỉnh thoảng cũng xâm nhập vào gia cư của cậu. Cậu vẫn để yên cho chúng tự do leo lên đầu lên cổ của cậu. Ngay cả khi cậu được thưởng cho một miếng ăn ngon, hai chú gà con cũng xáp tới giành giựt. Vậy mà cậu cũng chẳng buồn xua đuổi chúng. Hiền lành và “tử tế” như thế, nhưng mỗi buổi chiều khi được dắt đi làm một vòng để hòa nhập với thế giới bên ngoài thì cậu chó nhà tôi lại để lộ một bộ mặt khác hẳn. Nhỏ con, nhưng gặp bất cứ đối thủ nào, nhứt là những tay anh chị to con hơn cậu, cậu cũng đều xáp vô gây hấn và tấn công tới tấp. Nhà tôi đã vấn kiến các nhà “khuyển học” về tính khí bất thường này. Tất cả đều giải thích rằng cậu chó nhà tôi mắc phải chứng “bất an” và “lo lắng”. Cậu phải đánh phủ đầu bởi vì cậu nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Cậu tỏ ra hung hãn bởi vì cậu lo sợ.

Thì ra thế. Suy bụng ta ra bụng người là điều có thể hiểu được. Nhưng từ cách ứng xử của thú vật mà suy diễn ra tâm lý của con người thì quả là xúc phạm. Tuy nhiên, trong sự quan sát thường ngày của tôi, tôi nhận thấy những kẻ to mồm bạo miệng có khi  chỉ là những kẻ yếu nhược. Không biết người Tây phương có ám chỉ đến những hạng người như thế không khi họ nói “chó sủa là chó không cắn” (chien qui aboie ne mord pas). Nhìn đâu cũng thấy kẻ thù là tâm lý chung của những nhà độc tài và các chế độ độc tài. Sở dĩ họ có đôi mắt “có hình viên đạn” như thế là bởi họ sợ hãi. Thỉnh thoảng cậu Kim Jong Un của Bắc Hàn có la toáng lên về những âm mưu đánh phá nào đó từ các thế lực thù địch bên ngoài là bởi cậu luôn sống trong lo sợ, không biết ngai vàng cậu đang bám vào sẽ sụp đổ vào lúc nào. Tôi cũng thường có một cái nhìn như thế về cựu Tổng thống Donald Trump. Càng dao to búa lớn, càng tấn công mạt sát người khác bao nhiêu, ông càng để lộ nỗi bất an và sợ hãi bấy nhiều. Sự thất bại của ông trong kỳ bầu cử vừa qua cho thấy sức mạnh đích thực không thuộc về những kẻ hùng biện nói suông nữa. “Giờ đây, người ta không còn khen ai biết vung tay múa cẳng. Họ cần những người biết hòa giải xung đột. Người ta không còn tung hô những ai to mồm bạo miệng. Họ tán thưởng những người biết ôn tồn dùng lý lẽ để thuyết phục. Người ta cũng không còn ngưỡng mộ những ai “mày sai và tao lúc nào cũng đúng”. Họ trân trọng những người dám thừa nhận “tôi đã sai” và biết nhìn vấn đề từ góc độ khác” (1).

Dám thừa nhận “tôi đã sai”, tức thừa nhận “tôi đã thua”: đây là bài “học làm người” mà tôi đã học được từ đứa cháu ngoại của bà chị tôi. Cháu vừa tròn 7 tuổi và vừa bước vào năm thứ hai của bậc tiểu học. Kể từ khi biết đi và biết nói, cháu đã trở thành người bạn chơi của tôi. Bất cứ giờ phút nào tôi được ở bên cạnh cháu cũng đều trở thành những cuộc chơi, từ đánh tù tì, cút bắt, đá banh,  chơi domino và ngay cả đua nhau ăn uống...Luật chơi mà tôi cũng như mọi người xung quanh phải triệt để tuân thủ là bằng mọi giá phải thua, bởi vì trong mớ tự vựng còn nghèo nàn của cháu chưa có từ “thua”. Trong bất cứ trò chơi nào, mọi người đều phải thua. Nếu không, theo kiểu ví von của luật sư kiêm nhà báo Nguyễn Hoàng Duyên, cháu của bà chị tôi lúc nào cũng bắt chước mấy tay “kéo bài ba lá” ở Chợ Cầu Ông Lãnh để đạp bàn và quơ tiền bỏ chạy bằng cách xụ mặt xuống và nghỉ chơi. Tuy nhiên, cách đây vài tuần, sau khi cháu lên lớp hai, tôi nhận thấy có một biến chuyển tâm lý tích cực đáng kể. Trong hai lần chơi cá ngựa, tôi đã cố tình không tỏ ra là người chịu nhường nhịn (nice guy) nữa. Quả đúng như tôi dự đoán, trong cả hai lần thua, cháu của bà chị tôi không còn phụng phịu, “đạp bàn” bỏ chạy nữa. Kẻ thắng cuộc dĩ nhiên không phải là tôi mà chính là cháu, bởi vì đây là lần đầu tiên cháu biết chấp nhận “thua cuộc”. Chị tôi cho biết: kể từ hôm đó, biến chuyển tâm lý nơi đứa cháu gái của chị đã diễn ra một cách tích cực: nó đã hiểu rằng “thua cuộc” là một phần trong cuộc sống, nếu không muốn nói đó là phần quan trọng nhứt trong cuộc sống. Tôi hy vọng và tin tưởng rằng sự trưởng thành nhân cách của “người bạn chơi” của tôi sẽ gia tăng theo tỷ lệ thuận của sự lớn mạnh trong ý thức về sự “thua cuộc” trong cuộc sống. Biết chập nhận thua cuộc là một bước quan trọng trong sự trưởng thành nhân cách.

Qua ý thức về thua cuộc nơi đứa cháu của bà chị tôi, tôi học được bài học mà tôi cho là quan trọng nhứt trong cuộc sống: đó là  biết thừa nhận thua cuộc! Quan trọng nhứt bởi vì nếu không học biết thua cuộc, con người không những làm hỏng cuộc sống của mình, mà cũng có thể gây ra bao nhiêu tai hại cho người khác. Đây là điều đã xảy ra cho ông Trump và cả nước Mỹ.

4 năm tổng thống của ông Donald Trump đã được tính sổ và tính sổ dưới rất nhiều góc cạnh. Riêng tôi, vốn xem trọng chuyện học làm người và tư cách con người, tôi nhận thấy nét nổi bật nhứt trong dung mạo của ông chính là không bao giờ biết chấp nhận thua cuộc và mọi tai họa xảy ra cho nước Mỹ đều bắt nguồn từ thái độ ấy. Cho tới giờ phút này, không biết trong nội tâm sâu kín của ông, ông có biết rằng mình đã thất cử không. Nhưng qua những lời tuyên bố cũng như hành xử của ông, ông vẫn khăng khẳng quả quyết rằng ông đã đắc cử với một cuộc chiến thắng “long trời lở đất”. Và đây chính là nguyên nhân dẫn đến bao nhiêu thảm họa cho nước Mỹ.

Khi đại dịch xảy ra, ông đã đối phó một cách vụng về, nếu không muốn nói  là chẳng làm gì để chận đứng nó. Đây là thất bại nặng nề nhứt do ông tự tạo ra, nhưng lúc nào ông cũng huênh hoang tự cho điểm mười trên mười! Và cũng bằng giọng điệu của mấy ông bà Việt cộng, hễ “mất mùa là tại thiên tai”, “được mùa là bởi thiên tài đảng ta”, lúc nào ông cũng giành chiến thắng cho mình, mặc cho đại dịch có cướp đi bao nhiêu mạng sống con người và kinh tế có suy sụp đến đâu. Với ông, chính phủ do ông lãnh đạo không bao giờ thất bại. Thất bại là do đảng dân chủ và bọn truyền thông thổ tả hay một “nhà nước ngầm” nào đó tạo ra để hạ uy tín của ông mà thôi!

Cựu tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ là người không bao giờ biết chấp nhận mình thất bại hay thua cuộc. Tony Schwartz, nhà văn “ma” (ghostwriter) đã từng chấp bút cho cuốn sách nổi tiếng của ông Trump “Nghệ thuật mặc cả” (The Art of the Deal) xuất bản hồi năm 1987, cho biết từ đó cho đến nay  ông đã “theo dõi” từng đường đi nước bước của ông Trump. Ông nói rằng ngoài việc ông Trump chiến thắng trong cuộc bầu cử hồi năm 2016, chẳng có bất cứ điều gì ông cựu tổng thống này làm, khiến ông phải ngạc nhiên cả. Trong một bài đăng trên báo The Washington Post ngày 12 tháng 11 năm vừa qua, tác giả khẳng định: “Ông ta (Trump) lúc nào cũng thế và sẽ mãi mãi như thế. Ông ta sẽ không bao giờ chấp nhận mình thất bại, bởi vì ông không thể”(2).

Theo tác giả Schwartz, ông Trump tự giam hãm trong một thế giới huyễn hoặc do chính ông đã tự tạo ra. Ông không thể thoát ra khỏi nhà tù ấy để nhìn nhận kết quả bầu cử bởi vì nếu ông nhìn nhận, ông bị buộc phải đối diện với sự trống rỗng mà ông đã phải suốt đời hậm hực cố gắng để lấp đầy. Trốn trong  “nơi ẩn trú” của mình, ông gào thét: “Chớ có hối tiếc cho tôi. Tôi không phải là một kẻ thua cuộc”.

Cũng dõi bước theo ông “trên từng cây số”, bà Mary Trump, người cháu gái gọi ông bằng chú, không ngừng nói về ông chú của mình như một người không thể và không bao giờ chấp nhận mình thất bại hay thua cuộc. Là một chuyên gia tâm lý, bà Mary Trump nói rằng ông chú của bà không được phép phô bày  sự yếu nhược của mình. Chính vì vậy mà ông không thể chấp nhận thất bại, cụ thể là thất bại trong cuộc bầu cử vừa qua. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Vice News dạo đầu tháng Mười Hai vừa qua, bà nói: “Ông ta là người duy nhứt có thể tự ru ngủ mà tôi chưa từng gặp bao giờ. Có lẽ phần nổi bật nhứt trong tâm lý của Donald là nhu cầu phải chối bỏ bất cứ thực tế nào tô vẽ ông như một kẻ thua cuộc hay như một người yếu đuối”(3).

Suốt đời không chấp nhận thực tế, cụ thể là thực tế của sự thất bại hay thua cuộc, cho nên ông Trump cứ phải ngậm đắng nuốt cay và đổ lỗi cho người khác, tấn công người khác và nhứt là không nhìn nhận bất cứ một trách nhiệm nào về những sai trái mình đã làm hay những thiệt hại mình đã gây ra cho người khác. Dù có lui về một nơi “nghỉ mát” như Mar a Lago, tôi không tin rằng ông sẽ có được sự bình an trong tâm hồn, bởi lẽ học biết thua cuộc là chìa khóa để có được an bình.

Mỗi một năm mới, dương lịch hay âm lịch, với tôi luôn là một lời mời gọi làm lại và làm lại từ những thất bại hay thua cuộc của mình. Làm lại với ý thức về giá trị và tầm quan trọng của mỗi một người xung quanh tôi. Chẳng có ai là “nhứt” trong cuộc đời này cả.  Không có dân tộc nào “thượng đẳng” hơn dân tộc nào cả. Mỗi người là một nhân vị độc nhứt vô nhị cho nên bất cứ ai, dù nghèo nàn, xấu xí, bệnh tật  hay đần độn đến đâu, cũng đều có một điều gì đó để trao tặng cho tôi hay dạy tôi. Ý thức về thất bại hay thua cuộc của tôi do đó cũng là một lời mời gọi tôn trọng và cảm thông đối với người khác. Có như thế thì  lời cầu chúc “thân tâm an lạc” trong năm mới may ra mới trở thành hiện thực trong tôi.


Chú thích

1.    https://www.luatkhoa.org/2021/02/tet-nam-tinh-va-dan-ong-viet-nam/

2.    https://www.washingtonpost.com/outlook/2020/11/11/trump-losing-concede-election/

3.    https://www.businessinsider.com.au/mary-trump-president-gaslighting-himself-thinks-he-won-election-2020-12?r=US&IR=T

 

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2021

Tôi ăn Tết

 



                                                                        

 

Từ ngày bỏ nước ra đi, do không được sống gần các cộng đồng người Việt hải ngoại, tôi ít có dịp “mừng” những ngày Tết truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, mỗi dịp đầu năm Âm lịch, tôi cũng “ăn Tết” theo cách thế riêng của tôi.

Ngôn ngữ Việt nam thật độc đáo: chúng ta không “cử hành” hay “mừng” ngày đầu năm, mà lại nói “ăn tết”.

Ai cũng có quyền tự hào về ngôn ngữ của dân tộc mình. Mỗi ngôn ngữ đều có cái “hồn” và nét độc đáo riêng mà không một ngôn ngữ nào có thể thay thế được.

Một trong những nét độc đáo của tiếng Việt hẳn phải là “âm điệu” của nó. Với tai người ngoại quốc, thì người Việt nam nói nghe như “hát”. Lần đầu tiên ra chợ, nghe hai bà bán cá cãi nhau, người ngoại quốc tưởng họ đang hát là chuyện có thật! Ngay cả khóc lóc ở nghĩa trang mà cũng còn có vần có điệu nữa là!

Một tác giả (không rõ là ngoại quốc hay Việt nam) ký tên là Rene Pazzi đã viết một cuốn sách có tựa đề “Người Việt đáng yêu”, trong đó ông nói đến tinh thần uyển chuyển và tế nhị của ngôn ngữ Việt như sau: “Ngôn ngữ Việt nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc…

Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy và giọng thuần túy của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào.

Sự phong phú trong âm thanh lại được thay đổi qua nhiều miền đất của quê hương họ…

Nếu phải tô mầu các giọng nói ấy, người ta có thể vẽ một bản đồ Việt nam thật đẹp. Có miền mầu xanh, có miền mầu hồng, có miền mầu trắng, có miền mầu vàng, đấy là chưa nói mức độ đậm lợt khác nhau…” (1).

Sau năm 75, nhiều người đã có lý để nói rằng tiếng Việt đã bị “hãm hiếp” vì bị o ép đến độ mất đi âm điệu của nó. Trước kia, người Việt đâu có nói cộc lốc như “ăn tốt”, “làm tốt”, “học tốt”…mà luôn đệm vào đàng sau chữ “tốt” cái âm thanh “lành” “đẹp” cho nó êm tai. Trước kia, người ta cũng chả nói “học sinh trai”, “học sinh gái”, “bộ đội gái”… “Nam sinh, nữ sinh, nữ quân nhân” nghe nó chẳng êm tai và tôn trọng hơn sao?

Về những từ hay âm điệu được ghép vào chữ “ăn”, thì quả thật chẳng có ngôn ngữ nào phong phú cho bằng tiếng Việt. Giở bất cứ quyển tự điển tiếng Việt nào, tôi cũng đếm được gần 60 từ kép có chữ ăn: từ “ăn chay, ăn chận, ăn chẹt, ăn chơi, ăn gian, ăn hại” đến “ăn mặc, ăn nằm, ăn sương, ăn nắng…”

Người Việt nam quả có óc sáng tạo trong ngôn ngữ. Ngày nay ở Việt nam, ở đâu cũng thấy có hai chữ “văn hóa”, từ khu phố văn hóa, làng văn hóa, nhà văn hóa đến văn hóa ứng xử, văn hóa ăn uống, văn hóa chửi…Ngay cả như chữ “ôm” cũng được cho “ôm” vào bất cứ những gì có thể “ôm” được. Trước năm 75, người Việt nam chỉ nghe nói đến “xe ôm” hay cùng lắm là “bia ôm”, nay lại có cả “thịt chó ôm”, “hớt tóc ôm”, “ngủ trưa ôm”…đủ thứ “ôm”.

Nhưng đó là những “sáng tạo” mới trong ngôn ngữ Việt nam. Riêng động từ “ăn” thì ngay từ ngàn xưa, ông bà tổ tiên chúng ta đã biết chế biến để nó có thể đi với bất cứ từ nào.

Trong bài viết có tựa đề “Miếng ăn trong văn hóa Việt nam” (2), nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc nói rằng “hình như” “dân tộc Việt nam chỉ có một ám ảnh lớn: Ăn”. Theo tác giả, bảo rằng văn hóa Việt nam quá coi trọng miếng ăn thì có vẻ hơi kỳ nhưng không chừng đó lại là sự thật. Và tác giả đưa ra một số bằng chứng cho luận đề của ông như: muốn truyền ngôi cho con, vua Hùng đã cho tổ chức thi nấu ăn để xem người nào làm được món ăn ngon nhứt; ông Thánh Gióng nhờ ăn mà lớn như thổi để, từ một đứa bé, biến thành một trang thanh niên khôi ngô, dũng cảm; trong tín ngưỡng dân gian Việt nam, cúng, tức dọn món ăn cho người chết, là chuyện rất phổ biến; ông thần được chú ý tới nhiều nhứt là Vua Bếp, tức ông Táo…

Người Việt nam quả “coi trọng” miếng ăn.

Hình ảnh tôi vẫn giữ mãi trong ký ức của tuổi thơ đó là cảnh hàng hàng lớp lớp những bà mẹ quê ngay từ sáng sớm đã gánh gồng đi qua hằng bao nhiêu cây số đến chợ, trao đổi, mua bán để rồi mãi đến gần trưa mới trở về nhà lo miếng cơm cho chồng con. Suốt một ngày sinh hoạt, người mẹ quê chỉ quanh quẩn trong xó bếp. Miếng ăn quả đã chiếm hầu hết thời giờ của người dân quê. Người dân quê làm để có cái ăn và ăn để có đủ sức làm. Lẩn quẩn trong cái vòng “làm ăn” ấy cho nên có bảo rằng người Việt nam “xem trọng” cái ăn cũng chẳng phải là “cường điệu” chút nào.

Tuy nhiên, lo toan cho cái ăn, xem trọng cái ăn, nhưng người Việt nam vẫn luôn đề cao cảnh giác bởi vì “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Xung quanh bàn ăn, ông bà tổ tiên chúng ta đã phát huy được một thứ minh triết thật sâu sắc: chính xuyên qua cái ăn mà con người thể hiện tư cách làm người của mình. Cái ăn, như tác giả Nguyễn Hưng Quốc ghi nhận, chỉ “cách xử thế”. Chính vì thế mà chúng ta mới nói đến chuyện “ăn trên ngồi trốc, ăn cháo đá bát, ăn xổi ở thì hay cố đấm ăn xôi”. Vì tư cách con người và cách đối nhân xử thế được thể hiện qua cái ăn và cách ăn, mà ông bà tổ tiên chúng ta mới coi “học ăn” là bài học vỡ lòng quan trọng nhứt trong các thứ học: học ăn rồi mới tới học nói, học gói, học mở…Lớn lên thì cũng phải giữ ý tứ để biết “ăn coi nồi ngồi coi hướng”.

Vì cái ăn thể hiện tư cách con người cho nên đối với ông bà tổ tiên chúng ta, bàn ăn, chỗ ăn, lúc ăn đều được xem là “thánh thiêng”. Trời đánh mà cũng phải tránh bữa ăn thì đủ biết cái ăn của người Việt nam đáng trân trọng như thế nào. Ngồi xếp bằng trên bộ ván gỗ, trên chõng tre, quanh bàn ăn hay ngồi chồm hổm dưới đất, người Việt nam qui tụ trong bữa ăn là để “chia sẻ” cho nhau. Một nhà thừa sai ngoại quốc nọ nói rằng hình ảnh đẹp nhứt trong bữa ăn của người Việt nam chính là cái cảnh mọi người cùng chấm chung một chén nước mắm, cùng xẻ chung một con cá trong một dĩa, cùng chan chung một bát canh…Ăn thiết yếu là “ăn cùng”, “ăn với” người khác cho nên ăn cũng là chia sẻ. Như một phép lạ, thức ăn của người Việt nam xem ra chẳng bao giờ thiếu: một người khách lỡ độ đường ghé tạt vào nhà nhằm đúng bữa ăn ư? Chỉ cần dọn thêm một cái chén, một đôi đũa là giải quyết được vấn đề!

Ăn không chỉ là chia sẻ thức ăn, mà là chia sẻ niềm vui với nhau. Cơm không lành canh không ngọt là điều chẳng ai muốn. Người Việt nam thích vui vì được chia sẻ. Đi ruộng bắt được một con cá lóc, một con ếch, một con rắn hay một con chuột cũng đủ để làm một món nhậu và mời ông bạn láng giềng sang chung vui sau một ngày làm lụng vất vả. Kẹt lắm, một trái khế hay trái xoài xanh cũng đủ để lai rai vài xị.

Quả thật, người Việt nam thích sống vui. Cố linh mục Gildo Dominici, người Ý có tên Việt nam là “Đỗ Minh Trí”,đã từng làm việc tại Việt nam trước 75 và sau đó phục vụ trong các trại tỵ nạn Galang, Nam Dương và Bataan, Phi luật tân. Trong tác phẩm có tựa đề “Việt nam quê hương tôi”, vị linh mục này đã viết về Ngày Tết của người Việt nam như sau: “Ngày Tết, không một người nào có vẻ nghèo cả! Mọi người đều có một chút gì để mà “ăn Tết”. Người ta chấp nhận mang công mắc nợ để rồi sau đó sẽ vất vả làm lụng để trả nợ, nhưng vào Ngày Tết người ta cần phải tận hưởng. Mọi người đều có quyền ăn Tết”, mọi người đều cảm thấy có bổn phận vui hưởng Tết.

Bị vây hãm bởi chiến tranh, nghèo nàn và đau khổ, người ta mong chờ ngày Tết để được sống thật sự vài ngày! Tết chính là cái khoảng thời gian kỳ diệu, chính là một thời kỳ mà tất cả mọi người có thể thưởng thức được một chút gì hấp dẫn của kiếp sống con người”.

Nêu lên câu hỏi: “Vậy, sự quyến rũ của Ngày Tết bắt nguồn từ đâu?” linh mục Dominici trả lời: “Câu trả lời rất dễ dàng. Vẻ duyên dáng quyến rũ của ngày Tết đã do chính người ta tạo ra! Ngày Tết rất dễ thương chính là vì người Việt nam rất dễ thương...Người Việt nam đã tạo ra một ngày lễ để diễn tả hình ảnh của chính con người họ. Không một điều gì khác hơn có thể diễn đạt được tinh thần của người Việt nam bằng ngày Tết cả!

Tất cả những người ngoại quốc đã từng sống ở Việt nam đều nhận thấy nơi con người Việt nam có một cái gì lôi cuốn họ: tốt bụng, lịch thiệp, nhã nhặn, lễ phép, dễ thương!” (sđd).

Đọc những dòng trên đây, tôi cảm thấy hãnh diện, ấm lòng và nhứt là “vui như ba ngày Tết”. Thật vậy, chẳng có lúc nào vui cho bằng “ba ngày Tết”, nhứt là đối với trẻ con. Trong những kỷ niệm của tuổi thơ, tôi vẫn nhớ mãi những ngày Tết trước khi diễn ra cuộc đảo chánh sát hại cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước thập niên 60 và ngay cả những năm đầu của thập niên này, khi các hàng rào ấp chiến lược chưa bị phá vỡ, các làng quê đã thực sự hưởng cảnh thái bình: đêm đến không có giới nghiêm, người dân có thể vui chơi cả đêm. Người dân quê vẫn còn lấy cả tháng Giêng để “ăn chơi”. Cả tháng, cứ đêm đến, trẻ con chúng tôi đạp xe đạp đi từ làng này sang thôn khác để xem hát bài chòi. Có cả một tháng vui chơi như thế là để nhắc nhở con người Việt nam lam lũ quanh năm vì cái ăn rằng “con người được tạo dựng để thụ hưởng niềm vui và hạnh phúc, chứ không phải để đau khổ và bất hạnh. Cuộc sống của một dân tộc sẽ trở nên phong phú và nhân bản hơn nếu cái dáng dấp bi thảm của khổ đau được quân bình với hân hoan và hạnh phúc” (sđd)

Quân bình giữa công việc và giải trí: đó là nét nổi bật trong cuộc sống của người Việt nam, mà Tết là một biểu trưng. Chính nhờ thế quân bình giữa cuộc sống vất vả và việc vui hưởng cuộc sống mà người Việt nam xem ra có được một giây thần kinh rất vững chắc. Bất cứ người ngoại quốc nào phục vụ trong các trại tỵ nạn Việt nam tại các nước đông nam Á từ cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90 cũng đều kinh ngạc về số lượng rất thấp những người bị rối loạn tâm trí giữa một số lượng đông đảo người tỵ nạn đang sống trong một tình cảnh bi đát.

Năm nay, cũng như rất nhiều năm trong cuộc sống ly hương, tôi không biết thế nào là bánh chưng, bánh tét, hay kẹo mứt. Trong nhà tôi cũng không có mâm quả “cầu dừa đủ xài”. Tôi cũng chưa bao giờ một lần thưởng thức món “thịt mỡ dưa hành câu đối Tết”. Còn cảnh “ngoài hiên đêm trước một cành mai” thì chắc phải đến Tết Congo hay Maroc tôi mới có được ở nơi đất khách quê người này. Nhưng cũng như mọi năm, năm nay tôi cũng “ăn Tết” theo cách thế của tôi: tôi sẽ cố gắng tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại như một ân lộc Trời ban; tôi sẽ sống mỗi ngày như một ngày Tết… Tôi nghĩ đó là bí quyết hạnh phúc mà ông bà tổ tiên muốn để lại cho con cháu khi “bày ra Tết Nhứt”.

 

1.  Doãn Quốc Sỹ,  Người Việt đáng yêu

2.  Việt luận 20/10/09