Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020

Có đạo và vô đạo



Chu Văn

 

Đầu tháng Sáu vừa qua (2020), Quốc hội Bồ Đào Nha đã đồng thanh bỏ phiếu để dựng một đài tưởng niệm cho ông Aristides de Sousa Mendes, vị tổng lãnh sự đã từng cứu vớt hàng ngàn người Do Thái khỏi cuộc diệt chủng do Đức Quốc Xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến. Năm 1995, tổng thống Bồ Đào Nha lúc bấy giờ là ông Mario Soares cũng đã tuyên bố: ông Sousa Mendes là “vị anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt trong Thế kỷ 20”. Vì không tuân hành lệnh của nhà độc tài Antonio de Oliveira Salazar để cứu vớt người Do Thái, ông Sousa Mendes đã bị cách chức, lâm cảnh nghèo đói và qua đời trong tăm tối.

Khi được hỏi: động lực nào đã thúc đẩy ông sẵn sàng hy sinh sự nghiệp và mọi sự để cứu vớt người Do Thái, ông Sousa Mendes đã trả lời: “Nếu hàng ngàn người Do Thái đang đau khổ vì một tín hữu Kitô, thì chắc chắn một tín hữu Kitô cũng có thể chịu đau khổ cho nhiều người Do Thái” (1)

Người tín hữu Kitô làm cho hàng ngàn người Do Thái phải đau khổ mà ông Sousa Mendes ám chỉ đến không ai khác hơn là đồ tể Adolf Hitler.

Xuyên suốt dòng lịch sử nhân loại, các chính trị gia thường sử dụng ngôn ngữ tôn giáo để kiếm lá phiếu của cử tri. Một lãnh tụ hàng đầu thế giới đã tỏ ra rất hữu hiệu trong việc sử dụng ngôn ngữ tôn giáo. Hãy lắng nghe ông nói: “Trong giờ phút này, tôi chỉ muốn xin Thiên Chúa một điều duy nhứt là: xin Ngài chúc lành cho công việc của chúng ta và ban cho chúng ta có đủ can đảm để làm điều ngay lẽ phải. Tôi xác tín rằng được Thiên Chúa tạo dựng, con người phải sống phù hợp với ý muốn của Đấng Toàn Năng. Không ai có thể kiến tạo thế giới nếu chương trình và sức mạnh của họ không được Đấng Quan Phòng chúc phúc”.

Nhà lãnh đạo đã từng đọc tuyên ngôn trên đây không ai khác hơn là Hitler (1889-1945). Đây là một trích đoạn trong bài diễn văn của ông năm 1937, tức 4 năm sau khi được bầu làm thủ tướng Đức. Trong các bài diễn văn của ông, Hitler đã không ngừng kêu gọi người dân yêu thương tha nhân, quan tâm đến những người nghèo khổ bệnh hoạn cũng như đứng lên chống lại bạo lực. Trong quyển tiểu sử “Hitler, God and the Bible” (Hitler, Thiên Chúa và Kinh Thánh), tác giả  Ray Comfort viết rằng “những bài diễn văn của Hitler tràn đầy hy vọng”. Hitler luôn tuyên bố: “Tôi tin rằng tôi hành động theo ý của Đấng Tạo Hóa Toàn Năng”. Người đã từng sát tế 6 triệu người Do Thái thường tự nhận mình là một “môn đệ” của Chúa Kitô. Đây là niềm tin mà ông đã tuyên xưng ngay từ năm 1925 khi cho xuất bản quyển tiểu sử tự thuật và đồng thời cũng là bản tuyên ngôn của ông có tựa đề “Mein Kampf” (cuộc chiến của tôi). Trong cuốn sách, Hitler tuyên bố rõ ràng: “Kể từ hôm nay, tôi tin rằng tôi đang hành động phù hợp với ý muốn của Đấng Tạo Hóa Toàn Năng: tự vệ chống lại người Do Thái là chiến đấu cho công trình của Chúa”.

Hitler, con người bị xem là xấu xa, đồi bại và độc ác nhứt trong lịch sử nhân loại đã được rửa tội trong Giáo hội Công giáo. Ông đã từng là một cậu bé giúp lễ và ngay cả cũng có lúc muốn trở thành một linh mục công giáo. Để tỏ tình liên đới với Giáo hội Công giáo, năm 1933, ông đã ký một thỏa ước với Tòa thánh Vatican. Theo tác giả Comfort, với thỏa ước này, Giáo hội Công giáo bày tỏ sự ủng hộ dành cho Hitler và đối lại Hitler cam kết bảo đảm tự do tôn giáo cho Giáo hội. Cũng với thỏa ước này, Hitler đã bày tỏ nhiều mỹ cảm về Kitô Giáo. Ông nói rằng ông thù ghét chủ nghĩa vô thần và cam kết sẽ tiêu diệt chủ nghĩa này tại Đức.

Vào năm 1933, khi Hitler mới lên cầm quyền, kinh tế của Đức đang ở tình trạng rơi tự do, tỷ lệ thất nghiệp lên đến mức trên 30 phần trăm. Đức đang cần một vị cứu tinh và Hitler đã cương quyết trở thành vị cứu tinh ấy. Kinh tế Đức dần đần được khôi phục và dĩ nhiên quyền lực của Hitler cũng ngày càng được củng cố. Nhưng đây cũng chính là lúc sự khoan nhượng tôn giáo dần dần biến mất, Kitô giáo đã được thay thế bằng một tôn giáo mới trong đó không có Chúa nào khác ngoài Hitler. Lớp lông cừu của một tín hữu Kitô đã được cất đi, con chó sói Hitler đã hiện nguyên hình (2).

Sinh trước Hitler khoảng  12 năm, Joseph Stalin (1876-1953), một đồ tể khát máu không kém ông cũng đã từng là một tín hữu Kitô. Như tên “Joseph” của ông đã có thể gợi lên, Stalin đã được người mẹ rất đạo đức của ông đặt tên theo một trong những vị thánh nổi tiếng nhứt trong Kitô Giáo là thánh Giuse (Joseph), phu quân của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Như chính ông đã từng tiết lộ, cha ông là một linh mục Chính thống giáo. Lúc trẻ, người thanh niên Stalin cũng đã từng thụ huấn năm năm trong một chủng viện Chính thống giáo  với ước vọng trở thành một linh mục trong Giáo hội này.

Tên tuổi của người đã từng muốn làm linh mục này lại gắn liền với chế độ lao tù khổ sai khủng khiếp nhứt trong lịch sử nhân loại thường được biết đến với tên gọi “Gulag” (viết tắt từ cụm từ  Glavnoe Upravlenie Lagerei, nghĩa là Hệ thống Quản lý trại tù khổ sai) và được vạch trần trong quyển tiểu thuyết “Quần đảo Gulag” của văn hào Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008). Được thiết lập dưới thời Lenin, nhưng hệ thống lao tù khổ sai này đã đạt đến cao điểm trong thời gian Stalin cầm quyền tại Liên Xô, tức từ năm 1930 đến năm 1953, năm ông qua đời. Trong giai đoạn này người ta tính có khoảng 18 triệu người bị giam giữ trong hàng trăm trại tù trên toàn lãnh thổ Liên Xô, nhứt là tại Tây Bá Lợi Á, mỗi trại giam từ 2000 đến 10.000 tù nhân. Họ phải lao động mỗi ngày suốt 14 tiếng đồng hồ, trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhứt. Rất nhiều người chết vì đói và kiệt sức, hoặc ngay cả bị xử tử. Theo ước tính, đã có khoảng trên dưới 2 triệu người chết trong các trại tù khổ sai dưới thời Stalin.

Ngoài ra, tên tuổi của Stalin còn gợi lên nạn đói khủng khiếp tại Ukraine trong 2 năm 1932 và 1933. Khác với những nạn đói khác trong lịch sử nhân loại mà nguyên nhân thường là thiên tai, nạn đói tại Ukraine dưới thời Stalin do chính ông gây ra nhằm thay thế các tiểu nông bằng những hợp tác xã quốc doanh cũng như  để trừng trị người dân Ukraine vì họ tranh đấu giành độc lập chống lại chế độ độc tài của ông. Theo ước tính, nạn đói do Stalin tạo ra tại Ukraine đã cướp đi mạng sống của khoảng 3.9 triệu người (3).

Cũng như Hitler đã từng ký thỏa ước với tòa thánh Vatican để tìm kiếm sự hậu thuẫn của người công giáo, vào năm 1943, Stalin đã quay 180 độ trong chính sách tôn giáo của chế độ Cộng sản Liên Xô đối với Giáo hội Chính thống Nga. Trong 10 năm trước khi Stalin qua đời, Giáo hội Chính thống Nga đã được phục hoạt và hưởng được mọi tự do. Ai bảo Stalin là một người vô thần?

Hitler đã không ngừng “kêu tên Chúa” và tuyên xưng mình là một tín hữu Kitô. Stalin đã được vinh danh như một vị ân nhân của Giáo hội Chính thống dưới thời Liên Xô. Một đồ tể khét tiếng khác đã từng sát hại trên dưới 2 triệu đồng bào ruột thịt của mình là Pol Pot có lẽ cũng không hẳn là một người vô thần. Theo tiến sĩ Ian Harris, giáo sư về tôn giáo học tại Đại học St. Martin, Anh Quốc, trước khi lãnh đạo Khmer Đỏ, Pol Pot đã từng viết rằng “chế độ dân chủ sẽ phục hồi nền luân lý của Phật Giáo, bởi vì Vị Lãnh Đạo Vĩ Đại của chúng ta là Đức Phật là người đầu tiên đã dạy về dân chủ”. Cũng như Hitler và Stalin, Pol Pot đã từng được nuôi dạy như một phật tử và ngay cả như một người công giáo (4).

Nói theo ngôn ngữ nhà đạo của tôi, cả ba đồ tể khét tiếng nhứt trong lịch sử nhân loại trên đây đều đã từng là những người “có đạo” hay đã có lúc muốn tỏ ra mình là người “có đạo”.

Ngay từ thuở nhỏ, tôi đã được nhồi nhét vào đầu danh xưng “có đạo” ấy. Nơi tôi sinh trưởng là một ngôi làng nhỏ thuộc miền Trung. Về tôn giáo, một nửa dân số trong làng theo Công giáo, một nửa theo Phật giáo hay Đạo ông bà. Từ lúc vừa có trí khôn, tôi đã phải học bài giáo lý vỡ lòng của Công giáo là: “Hỏi: có mấy đàng lên Thiên Đàng? Thưa: chỉ  có một đàng rất chính rất thật là Đạo thánh Đức Chúa Trời”. Chỉ có một đàng, tức một Đạo rất chính rất thật là Đạo Công giáo, cho nên người ngoài công  giáo bị xem là “kẻ ngoại”, chết thì  phải “sa hỏa ngục” mà thôi!

Cũng may, bài học làm người mà tôi phải học suốt đời lại là bài học về khoan nhượng và tôn trọng đối với những người không có cùng niềm tin tôn giáo với tôi. Ngoài ra, lịch sử lại còn mở mắt cho tôi thấy rằng có biết bao nhiêu người “có đạo” lại là những kẻ vô đạo và có biết bao nhiêu hành động được xem là “có đạo” lại là những hành động vô đạo. Không là vô đạo sao khi người ta giương cao Thập Giá để cầm gươm đi xâm chiếm đất đai của các dân tộc khác, chém giết những người khác tôn giáo, phá hủy văn hóa của họ và ngay cả bắt họ làm nô lệ? Dĩ nhiên, đâu có riêng gì Công giáo của tôi, trong tôn giáo nào mà chẳng có những kẻ vô đạo? Miệng hô to “Thượng Đế Vĩ Đại”, mình mang bom tự sát để giết người vô tội vạ, đó chẳng phải là vô đạo sao? Để gọi là bảo vệ Đạo Pháp, người ta kỳ thị, xua đuổi và ngay cả tàn sát những người không đồng tôn giáo với mình, đó chẳng phải là vô đạo sao?

Khi suy nghĩ về “có đạo” và “vô đạo”, tôi cũng không thể không liên tưởng đến chuyện đang xảy ra trong thời đại này. Bên Nga, có lẽ không ai tỏ ra “có đạo” cho bằng Tổng thống Vladimir Putin. Trong các bài diễn văn, ông luôn miệng đề cao Giáo hội Chính thống Nga, tự nhận mình là người bảo vệ luân lý và những giá trị truyền thống. Nhưng thành tích vi phạm nhân quyền của ông thì đã rõ như ban ngày! Bên Thổ Nhĩ Kỳ, mới đây, bất chấp sự phản đối của Liên Hiệp Quốc và các nước Tây Phương,  lãnh tụ chuyên chế Recep Tayyip Erdogan đã tỏ ra rất “có đạo” khi ông biến một di tích lịch sử của chung Kitô Giáo và Hồi Giáo là bảo tàng viện Hagia Sofia thành một đền thờ Hồi Giáo.   

Chuyện xảy ra bên Mỹ cách đây không lâu có lẽ cũng là một hành động biểu dương sự “có đạo” không kém. Ai đó, sau khi dùng bạo lực để đàn áp một đoàn người biểu tình ôn hòa, tiến đến trước một ngôi thánh đường chỉ để chụp hình với quyển Kinh Thánh cầm trên tay  để  chứng tỏ mình là người “có đạo” và nhứt là luôn bảo vệ Giáo hội!

Suy nghĩ về “có đạo” và “vô đạo”, tôi lại nhớ đến lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho  một nhà thần học Châu Mỹ La Tinh, khi được hỏi: “Đạo nào là Đạo tốt nhứt?”, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng trả lời: “Bất cứ điều gì làm cho bạn cảm thông hơn, nhạy cảm hơn, siêu thoát hơn, yêu thương hơn, nhân đạo hơn, ân cần hơn, đạo đức hơn. Tôn giáo nào làm cho bạn được như thế là tôn giáo tốt nhứt” (5)

Với tôi, Đạo nào cũng tốt cả, bởi lẽ tự trong cốt lõi, Đạo nào cũng khuyên dạy con người ăn ngay ở lành. Do đó, nếu “Đạo” là đường thì “có đạo” hay “đi đạo” không chỉ là gia nhập vào một tôn giáo có tổ chức, thực hành các nghi lễ của tôn giáo , miệng ê a kinh kệ, tuần chay nào cũng có nước mắt...mà thiết yếu chính là cố gắng sống cho phải đạo làm người.

 

 

1.                 https://edition.cnn.com/2020/06/26/opinions/aristides-de-sousa-mendes-visas-refugees-portugal-berger-wall/index.html

2.                 https://www.cbn.com/700club/features/churchhistory/godandhitler/

3.                 https://www.history.com/news/ukrainian-famine-stalin

4.                 https://stellarhousepublishing.com/were-stalin-hitler-and-pol-pot-atheists/

5.                 https://www.staradvertiser.com/2010/07/03/religion/best-religion-is-the-one-that-makes-one-better/


Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

Tâm lý các lãnh tụ chính trị thời Cô Vi


Robert Klitzman

Khi một cơn dịch bệnh vượt quá tầm kiểm soát, về mặt tâm lý, các lãnh tụ chính trị thường có khuynh hướng dựng lên những trình tự nhằm che đậy sự thất bại của họ và đẩy mạnh những tham vọng chính trị của họ.

Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã  thấy được cách phản ứng rất người đó nơi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ba Tây Jair Bolsanaro.

Dĩ nhiên khuynh hướng này không phải là một điều mới mẻ. Các lãnh tụ hiện đại cần phải học hỏi từ những người đã đi trước họ và nhận ra rằng họ vẫn có thể tỏ ra hiệu năng khi chăm sóc các bệnh nhân.

Nã Phá Luân là một tấm gương.

tamly1

Bức tranh khổng lồ của họa sĩ Antoine Jean Gros với tựa đề "Napoleon Bonaparte thăm các bệnh nhân dịch bệnh tại Jaffa".

Trong phòng chính của Viện bảo tàng Louvre ở Paris, có treo một bức tranh khổng lồ của họa sĩ Antoine Jean Gros với tựa đề "Napoleon Bonaparte thăm các bệnh nhân dịch bệnh tại Jaffa". Đối diện với tác phẩm này là bức tranh nổi tiếng của danh họa Delacroix : "Nữ thần Tự do lãnh đạo dân chúng". Bức tranh vẽ cảnh Nữ thần Tự do thúc đẩy một đạo quân những công dân rách rưới vượt qua các rào cản, tay phải giơ cao lá cờ tam tài của nước Pháp và tay trái cầm một khẩu súng ; từ đôi vai chiếc áo dài chảy dài xuống.

tamly3

Bức tranh "Nữ thần Tự do lãnh đạo dân chúng" của danh họa Delacroix..

Được thực hiện vào năm 1804, bức tranh vẽ Nã Phá Luân có kích thước gấp 4 lần Bức tranh của Delacroix và ghi lại một biến cố lịch sử. Thật vậy, sau cuộc chiến thắng ở Ai Cập năm 1798, Nã Phá Luân (lúc bấy giờ đang là đại tướng) đem quân sang Palestine để tấn công Đế quốc Thổ, nhưng một cơn dịch hạch bắt đầu tiêu diệt quân đội của ông. Ông đã thăm viếng các binh sĩ mắc bệnh để nâng cao tinh thần của họ, giúp khiêng họ trên cáng và chấp nhận nguy cơ chính mình có thể bị lây nhiễm.

Nhìn vào trung tâm của bức tranh, người ta thấy Nã Phá Luân bước dọc theo bức tường hình cung của Thành Jaffa được dùng làm bệnh viện ; từ đó người ta cũng thấy lá cờ tam tài của Pháp phất phới trên một ngọn tháp. Đứng giữa trời nắng, Nã Phá Luân mặc một chiếc áo khoác đồng phục màu xanh mạ vàng, chiếc quần bó sát vào người và chiếc  mũ hai sừng màu đen đặc trưng của ông, cùng với một chiếc băng màu tím mạ vàng quấn quanh hông. Các binh sĩ bệnh hoạn, gần như trần truồng bao quanh ông. Ông đã tháo chiếc bao tay màu trắng ra khỏi tay trái và dùng nó sờ một cánh tay mưng mủ của một bệnh nhân. Đứng sau lưng Nã Phá Luân là một viên sĩ quan. Ông này đang dùng một chiếc khăn tay trắng để bịt miệng. Một viên bác sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ quì gối trước viên đại tướng, van xin ông đừng tiến tới nữa, nhưng Nã Phá Luân vẫn can đảm bước tới phía trước, không chút lo sợ. Làm một cử chỉ giống như Chúa Giêsu, ông sờ vào một bệnh nhân gần như trần truồng, như thể để chữa lành người này.

Sống vào thời Khai Sáng, Nã Phá Luân tôn trọng khoa học. Đi theo ông đến Ai Cập có các nhà thực vật học, địa chất học và nhân chủng học. Chính họ đã khám phá ra Rosetta Stone (nơi có những tảng đá được viết song song bằng hai thứ tiếng Hy Lạp và Ai Cập). Các nhà khoa học này đã hợp tác với nhau để thực hiện những cuộc nghiên cứu sâu rộng trong nhiều lãnh vực. Nã Phá Luân ra lệnh phải lột khỏi các bệnh nhân những quần áo bị nghi ngờ dính đầy chí rận và các binh sĩ phải được tắm gội bằng xà phòng và nước để tẩy sạch chí rận. Ngoài ra, ông còn hô hào các binh sĩ phải hy sinh sức khỏe của mình vì những mục tiêu quân sự rộng lớn hơn của ông. Ông thuyết phục họ rằng họ có thể chiến thắng được dịch bệnh nếu họ muốn.

Sau khi viếng thăm bệnh viện, Nã Phá Luân cho tiến quân về hướng Bắc để tấn công Acre, nhưng đã thất bại trong việc đánh chiếm thành phố này, vì bị quân Thổ và đồng minh Anh quốc chận lại. Ông ra lệnh rút quân về Jaffa. Với các binh sĩ bệnh nặng không thể di tản và trở về Ai Cập, ông đề nghị với y sĩ trưởng nên cho họ uống thuốc giảm đau được chế từ á phiện với mục đích giúp họ hết cảm thấy đau và tránh không bị bắt khi quân Thổ tấn công. Nhưng viên y sĩ trưởng đã từ chối, viện cớ lời thề Hippocrate không cho phép giúp bệnh nhân tự tử cũng như dựa vào sự kiện nhiều người bị dịch đã khỏi bệnh một cách tự nhiên.

Nã Phá Luân báo cáo  với chính phủ Cộng hòa Pháp tại Paris rằng ông đã cho rút quân để tránh dịch bệnh, chứ không phải vì thất bại quân sự. Nhưng thật ra dịch bệnh đã tấn công vào quân đội.

Trở về Ai Cập, Nã Phá Luân đã bỏ rơi quân đội của ông. Dưới sự chỉ huy của Lord Nelson, Hải quân Anh đã đánh chìm hạm đội của Pháp, ngăn không cho quay trở về Pháp. Nã Phá Luân lặng lẽ tìm đường thoát thân ; người Anh đã bắt giữ quân đội của ông và chiếm giữ luôn vùng Rosetta Stone.

Anh Quốc và các nước đồng minh đã lên án nặng nề thái độ của Nã Phá luân. Để đáp trả, ông đã cho họa lên bức chân dung mô tả ông như một Người Hùng Can Đảm.

Lối tuyên truyền của Nã Phá Luân tiên báo cách hành xử của nhiều lãnh tụ trong thời gian gần đây và cho thấy trong quá khứ các lãnh tụ chính trị cũng đã từng ứng phó với các dịch bệnh bằng cách tỏ ra mình làm việc có qui  củ và kiểm soát được dịch bệnh mặc dù dịch bệnh có tàn phá đến đâu.

Tuy nhiên, bức tranh của Nã Phá Luân cũng cho thấy những khác biệt, ít nhất là giữa ông và Tổng thống Trump và gợi lên những bài học đáng tiếc trong chính trị.

Không như Tổng thống Trump, Nã Phá Luân không hề phủ nhận hay trốn tránh dịch bệnh. Ông cũng không tự mãn để đưa ra những lối chữa bệnh giả tạo hoặc vô tâm đến độ không màng đến nỗi đau đớn của người khác. Ngược lại, Nã Phá Luân đã thân hành bước tới, bất kể người khác có khuyên ông không nên tiếp xúc với các bệnh nhân.

Chúng ta không thể thay đổi bản năng của một số nhà lãnh đạo khi họ muốn khai thác cuộc khủng hoảng vì đại dịch Covid-19 để theo đuổi những mục tiêu riêng của họ. Nhưng sự kiện bức tranh của Nã Phá Luân đã được trưng bày trên 200 năm qua tại một trong những phòng chính của một trong những trung tâm du lịch có sức hấp dẫn nhất thế giới nên nhắc nhở Tổng thống Trump và các chính trị gia khác rằng lịch sử đang theo dõi và lượng giá họ. Họ sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ. Họ phải thấy rằng các lãnh tụ trong quá khứ cũng đã tìm cách khai thác các cơn đại dịch, nhưng họ cũng đã quan tâm đến các bệnh nhân.

Tại Hoa Kỳ và hầu như trên khắp thế giới, đại dịch Covid-19 còn lâu mới chấm dứt.

Rõ ràng là các nhà lãnh đạo không nên khai thác dịch bệnh để thực hiện các mưu đồ chính trị của họ, nhưng rất tiếc là có một số sẽ làm điều đó. Tuy nhiên, nếu họ không thể cưỡng chống lại điều đó, thì ít ra họ nên biết rằng họ vẫn phải tỏ ra tích cực trong nỗ lực phòng ngừa dịch bệnh và giúp đỡ các bệnh nhân. Và họ cũng phải nhớ rằng lịch sử đang theo dõi họ và sẽ mãi mãi phán xét họ.

Robert Klitzman

Nguyên tác :  "The Psychology of Politics and Pandemics" (Tâm lý trong chính trị và đại dịch)

Chu Văn chuyển ngữ

Bác sĩ Robert Klitzman là một giáo sư về tâm bệnh học tại  College of Physicians and Surgeons và Joseph Mailman School of Public Health, thuộc trường Đại học Colombia , New York, Hoa Kỳ.

 


Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Không đem thắng bại mà luận anh hùng

                

Chu Văn

Tháng Sáu (2020) vừa qua đánh dấu đúng 80 năm việc Đức Quốc Xã xua quân sang xâm chiếm Paris và miền Bắc nước Pháp. Biến cố này không khỏi làm tôi nhớ đến một nhà ngoại giao Bồ Đào Nha được chính phủ nước này vinh danh như “vị anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt trong Thế kỷ 20”. Nhà ngoại giao đó là ông Aristides de Sousa Mendes.

Sau khi Đức Quốc Xã xâm chiếm miền Bắc nước Pháp, hàng ngàn người Do Thái và những người tỵ nạn khác đã chạy xuống phía Nam để tránh cuộc tàn sát của Đức Quốc Xã. Nhiều người đã đến được Bordeaux để tạm trú trong khi chờ đợi có được một giấy nhập cảnh vào một nước trung lập trong thời Đệ nhị Thế chiến là Bồ Đào Nha và từ đó tìm đường sang Hoa Kỳ và các nước khác.

Một số đã có được may mắn để vào tòa lãnh sự của Bồ Đào Nha ở Bordeaux. Tại đây, bất chấp lệnh của chính phủ, Tổng lãnh sự Aristides de Sousa Mendes đã cấp giấy nhập cảnh cho nhiều người được vào Bồ Đào Nha.

Đầu tháng Sáu vừa qua, Quốc Hội Bồ Đào Nha đã đồng thanh bỏ phiếu để vinh danh ông Sousa Mendes: tượng đài vinh danh ông đã được dựng lên trong Đài tưởng niệm quốc gia.

Trước Đệ nhị Thế chiến, người dân các nước có thể đến Bồ Đào Nha mà không cần chiếu khán nhập cảnh. Nhưng dưới thời nhà độc tài Antonio de Oliveira Salazar, Chính phủ Bồ Đào Nha đã ban hành một biện pháp mới có tên là “Thông Tư 14” (Circular 14) qua đó không cho phép người Do Thái và những người tỵ nạn khác được nhập cảnh vào Bồ Đào Nha.

Vì không tuân hành lệnh của Chính phủ Salazar, ông Sousa Mendes đã bị cách chức và trừng phạt nặng nề. 

Động lực nào đã thúc đẩy ông sẵn sàng hy sinh sự nghiệp và đánh đổi tất cả để cứu người Do Thái và những người tỵ nạn khác?

Theo tài liệu được ghi lại, nhà ngoại giao Bồ Đào Nha này đã kết thân với một người tỵ nạn đến từ Bỉ là giáo sĩ Do Thái Chalm Kruger. Ông mời vị giáo sĩ và gia đình vào trú ẩn trong Tòa lãnh sự và cấp giấy nhập cảnh để vào Bồ Đào Nha. Nhưng giáo sĩ Kruger đã từ chối, viện cớ rằng ông không thể bỏ rơi hàng ngàn người tỵ nạn Do Thái khác tại Bordeaux. Lương tâm bị đặt trước một chọn lựa khó xử, ông Sousa Mendes đã lui vào phòng ngủ trong ba ngày liên tiếp. Sau đó, ông xuất hiện và tuyên bố quyết định cứu vớt người tỵ nạn.

Kể từ ngày 17 tháng Sáu năm 1940, làm việc ngày đêm và với sự giúp đỡ của những người con trai của ông cũng như một số người tỵ nạn, ông đã đóng dấu và ký tên để cấp hàng ngàn giấy nhập cảnh vào Bồ Đào Nha cho người Do Thái và những người tỵ nạn khác. Sau đó, ông đi xuống thành phố Bayonne, vốn cũng nằm dưới quyền tài phán của ông. Tại đây ông còn ký thêm nhiều giấy nhập cảnh khác.

Theo một sử gia Israel chuyên về cuộc sát tế người Do Thái là giáo sư Yehuda Bauer, “có lẽ đây là hành động cứu vớt lớn nhứt do một cá nhân thực hiện trong thời Đức Quốc Xã tàn sát người Do Thái”.

Không bao lâu, chuyện ông Sousa Mendes vi phạm lệnh của chính phủ đã đến tai ông Salazar. Ngày 24 tháng Sáu năm 1940, nhà độc tài này ra lệnh cho ông Sousa Mendes phải ngưng việc cấp giấy nhập cảnh và trở về Thủ đô Lisboa gấp. Nhưng ngay cả trên đường hồi hương, ông Sousa Mendes cũng đã dừng lại tại Hendaye, một thành phố nằm sát biên giới Tây Ban Nha. Tại đây ông đã cấp giấy nhập cảnh và ngay cả sổ thông hành cho người tỵ nạn.

Khi trở về Lisboa, ông bị cách chức và cắt luôn tiền hưu bổng. Những người con nào của ông đang làm việc ở công sở cũng bị làm khó dễ. Chỉ nhờ sự trợ giúp của một tổ chức an sinh của người Do Thái, gia đình ông mới có thể sống còn.

Năm 1954, ông Sousa Mendes đã qua đời trong tăm tối, nghèo nàn và ruồng bỏ tại Bồ Đào Nha. Chỉ nhờ chứng từ của những người sống sót, trong số này có nhiều người trong hai gia đình nổi tiếng ở Mỹ là Rothschild và Rosenberg cũng như nhiều nhà hàn lâm và nghệ sĩ khác, hành động can đảm của ông Sousa Mendes mới được nhìn nhận và vinh danh.

Năm 1966, Quốc Hội Mỹ đã chính thức nhìn nhận ông là một anh hùng. Chỉ sau khi chế độ độc tài tại Bồ Đào Nha cáo chung, danh dự của ông Sousa Mendes mới được phục hồi. Năm 1987, Chính phủ Bồ Đào Nha đã trao tặng cho ông Huy Chương Danh Dự Bội Tinh. Năm 1995, Tổng thống Bồ Đào Nha lúc bấy giờ là ông Mario Soares đã tuyên bố: Sousa Mendes là “vị anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt trong Thế kỷ 20” (1).

Gương anh dũng của ông Sousa Mendes gợi lên cho tôi một số suy nghĩ về đạo đức và lương tâm trong chính trị. Mỗi lần cầm lá phiếu trên tay để gọi là “chọn mặt gởi vàng”, tôi luôn xem tiêu chuẩn đạo đức như một trong những nét quan trọng nhứt trong tư cách của một nhà lãnh đạo.

Tôi không thể nào xóa khỏi bộ nhớ của tôi một trong những câu tuyên bố nổi tiếng của Tổng thống Donald Trump. Ngày 23 tháng Giêng năm 2016, tại một cuộc vận động ở Tiểu bang Iowa, ứng cử viên Trump đã đưa tay lên làm hiệu như một khẩu súng và tuyên bố: “Tôi có thể đứng ở giữa đại lộ Fifth Avenue (New York) và bắn ai đó mà vẫn không mất bất cứ cử tri nào ủng hộ tôi” (2). Kể từ đó, tôi thường tự hỏi: liệu Tổng thống Trump có bao giờ cư xử và hành động theo một kim chỉ nam đạo đức nào không?

Trong một cuộc trao đổi với một người bạn vốn là một người triệt để ủng hộ Tổng thống Trump, tôi có nêu vấn đề tư cách đạo đức của một nhà lãnh đạo. Bạn tôi trả lời: “Người Mỹ chúng tôi không bỏ phiếu bầu một giáo hoàng lên làm tổng thống”. Trong cố gắng duy trì tình bạn, tôi không muốn ăn thua đủ trong cuộc tranh luận. Nhưng tôi vẫn tự trả lời: chẳng ai bầu một nhà lãnh đạo tinh thần hay một vị giáo hoàng lên làm nguyên thủ quốc gia, nhưng sẽ là vô đạo nếu người ta bầu cho một kẻ vô đạo để lãnh đạo quốc gia. Lịch sử không ngừng chứng minh: tất cả những nhà lãnh đạo độc tài khát máu đều là những kẻ vô đạo!

Tương quan giữa chính trị và đạo đức là một chủ đề đã được mang ra bàn cãi ngay từ thời triết học Tây Phương mới được khai sinh ở Hy Lạp. Ở Đông Phương, dù cho lý luận triết học chưa được hệ thống hóa, nhưng xem ra vấn đề tu thân, tức đạo đức, vẫn được đặt lên hàng đầu trong mọi sinh hoạt nhân sinh, nhứt là trong việc kinh bang tế thế, tức chính trị. Những câu như “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” hoặc “tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị gia dĩ tu thân vi bổn”...cho thấy học làm người, tập tành nhân đức, tức sống theo những giá trị đạo đức là điều tối cần trong mọi lãnh vực của cuộc sống, kể cả và nhứt là trong sinh hoạt chính trị.

Đạo đức chức nghiệp không chỉ áp dụng cho doanh nghiệp hay các lãnh vực chuyên môn. Nó cũng luôn có giá trị trong chính trị. Cuối thập niên 1990, Tổng thống Bill Clinton đã bị Quốc hội Mỹ mang ra đàn hặc vì tội gọi là bội thề và cản trở công lý. Nhưng chính vụ tai tiếng về tình dục giữa ông và nhân viên tập sự Monica Lewinsky ngay trong Tòa Bạch Ốc mới là giềng mối của cuộc đàn hặc. Đại diện cho người dân Mỹ, các vị dân cử trong Quốc Hội đã xem chuyện bê bối của Tổng thống Clinton diễn ra ngay trong Tòa Bạch Ốc như một hành vi thiếu đạo đức nghiêm trọng. Trong một ý nghĩa nào đó, họ đã xem trọng tư cách đạo đức của một nhà lãnh đạo.

Tiểu sử của cố Tổng thống Lyndon B. Johnson (1908-1973) có ghi lại cuộc gặp gỡ giữa ông và một chính trị gia nổi tiếng khác là ông George Wallace (1919-1998), Thống đốc Tiểu bang Alabama. Vào những năm cuối của thập niên 1960, phong trào tranh đấu cho quyền được đi bầu của người Mỹ gốc Phi Châu tại Tiểu bang Alabama đã dẫn đến nhiều cuộc bạo động đẫm máu. Muốn trút bỏ trách nhiệm lên Tổng thống Johnson, Thống đốc Wallace đã đến gặp ông để yêu cầu ra lệnh dập tắt các cuộc bạo động. Tổng thống Johnson nói rằng chỉ có một cách đơn giản để chấm dứt các cuộc biểu tình bạo động là nhìn nhận quyền được đi bầu của người da đen. Biết ông Wallace có ý định ra tranh cử tổng thống năm 1968, Tổng thống Johnson ôn tồn khuyên ông: “Này, George, anh và tôi đừng nghĩ tới năm 1968, mà hãy nghĩ tới năm 1988. Lúc đó cả hai chúng ta đều sẽ chết, đều sẽ không còn nữa. Ông muốn để lại cho hậu thế điều gì? Ông có muốn một đài tưởng niệm lớn bằng cẩm thạch có ghi hàng chữ “George Wallace: người đã kiến tạo?”  Hay ông muốn một tấm bảng nhỏ bằng gỗ thông trên đó có ghi: “George Wallace: người đã thù hận?” (3)

Tổng thống Johnson đã nói đến ý nghĩa của việc xây đài dựng tượng cho các chính trị gia có công với đất nước. Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng hiện nay tại Hoa Kỳ. Cùng với phong trào chống nạn kỳ thị chủng tộc, những người biểu tình cũng đòi dẹp bỏ những tượng đài hay tên tuổi của những người đã từng có chủ trương hay can dự vào việc buôn bán người nô lệ Phi Châu hoặc kỳ thị chủng tộc. Buôn bán nô lệ, xem người nô lệ như một vật sở hữu, kỳ thị chủng tộc và dĩ nhiên hận thù chủng tộc là một tội ác. Dẹp bỏ tượng đài của những người có chủ trương như thế chính là lên án tội ác và đồng thời cũng đặt nặng vấn đề đạo đức trong chính trị.

Nhà ngoại giao Sousa Mendes cùa Bồ Đào Nha đã ý thức được điều đó khi phải làm một quyết định sinh tử. Ông chỉ có thể làm quyết định ấy sau 3 ngày tự giam trong phòng ngủ, trực diện với không một người nào hay một quyền lực nào khác ngoài lương tâm của mình, một lương tâm được soi sáng và hướng dẫn bởi những giá trị đạo đức và sự thật. Có lẽ ông đã làm đúng lời khuyên của nhà bác học lừng danh của Thế kỷ 20 là Albert Einstein: “Đừng bao giờ làm điều gì trái với  lương tâm, ngay cả khi nhà nước đòi hỏi bạn phải làm điều đó”.

Khi làm một nghĩa vụ đạo đức cao cả là cứu vớt người hoạn nạn, vị “anh hùng Bồ Đào Nha vĩ đại nhứt của Thế kỷ 20” đã thấy trước mình sẽ mất tất cả. Có lẽ ông cũng chẳng màng đến việc danh dự của mình sẽ được phục hồi hoặc một tượng đài sẽ được dựng lên để tưởng nhớ ông. Ông là mẫu người hùng đích thực: anh hùng thực sự là người sẵn sàng đánh đổi tất cả, ngay cả mạng sống của mình, để sống theo lương tâm. Ông là mẫu anh hùng theo đúng câu nói của người Việt Nam: không đem thắng bại mà luận anh hùng! Phần thưởng duy nhứt ông tự dành cho mình là biết rằng mình đã hành động đúng theo mệnh lệnh của lương tâm. Tôi cho đó là thông điệp ông muốn nhắn gởi cho hậu thế, nhứt là trong thời đại nhiễu nhương này.

 

 

1.https://edition.cnn.com/2020/06/26/opinions/aristides-de-sousa-mendes-visas-refugees-portugal-berger-wall/index.html#:~:text=The%20Portuguese%20diplomat%20who%20saved,everything%20except%20his%20good%20name&text=Arthur%20Berger%20is%20a%20retired,active%20in%20human%20rights%20causes.

2.https://thehill.com/opinion/campaign/463710-donald-trumps-fifth-avenue-moment

3.https://www.washingtonpost.com/blogs/post-partisan/wp/2014/05/13/a-question-of-morality-in-politics/


Thứ Hai, 6 tháng 7, 2020

Mỗi ngày Hoa Kỳ có thêm ca nhiễm Covid 19 chỉ vì Ngu Dốt


Jamie Seidel

“Chúng ta không nên giả định rằng một cách nào đó một nhóm chuyên gia mới biết được điều gì là tốt nhất”. Thượng nghị sĩ Mỹ Rand Paul (thuộc Đảng Cộng Hòa) đã than phiền như thế vào hôm mùng Hai tháng Bảy 2020. Covid-19 hiện đang ở ngoài tầm kiểm soát của Hoa Kỳ. Và một sự khinh thường sâu xa như thế đối với sự hiểu biết có thể là lý do tại sao.

Thượng nghị sĩ Paul không phải là người duy nhất bác bỏ lời khuyên của các chuyên gia về dịch tể học. Một cựu bác sĩ nhãn khoa (như ông) mà không tin ở kinh nghiệm, giáo dục và hiểu biết chuyên môn là một thứ dịch bệnh cho Hoa Kỳ.

Đây là một thái độ vốn gia tăng nhanh chóng trên khắp thế giới. Thái độ này cũng tồn tại ngay cả khi đứng trước sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận được.

Các chính trị gia kỳ cựu như ông Paul tại Hoa Thịnh Đốn lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải nhanh chóng mở cửa lại nền kinh tế của đất nước. Họ lập luận như thế mặc dù hết tiểu bang này đến tiểu bang khác đều báo cáo rẳng các bệnh viện của họ đã quá tải, rằng ngày càng có nhiều người bị nhiễm Covid-19, rằng việc truy tìm điểm xuất phát đã thất bại, rằng dân chúng không màng tới lời khuyên phải đeo khẩu trang và rửa tay. Và dân chúng, cách riêng những người có tuổi và những người có tiền sử bệnh lý, đang chết.

Tại sao lại xảy ra như thế? Chúng ta đang sống trong một thế giới với lượng thông tin quá tải. Và như Giáo sư Tom Nichols chuyên giảng dạy về An ninh Quốc gia tại Học viện Hải quân Hoa kỳ giải thích, tình trạng này hiện đang bị những kẻ hoạt đầu thương mại và chính trị triệt để khai thác. Giáo sư Nichols viết: “Vì không hiểu được tất cả mọi vấn đề phức tạp xung quanh mình, họ (dân chúng và các chính trị gia) chọn lựa thà đừng hiểu gần như mọi điều và giận dữ đổ tội cho những thành phần ưu tú vì kiểm soát cuộc sống của họ”.

 

Những kẻ phủ nhận siêu vi

 

Các chuyên gia là những người đưa ra các đề nghị. Còn quyết định là việc của các vị dân cử. Nhưng rất hiếm khi các chính trị gia được dân bầu lên là chuyên gia, nhất là theo cơ chế đảng phái chính trị hiện nay. Ông Paul là thượng nghị sĩ Mỹ đầu tiên nhiễm Covid-19. Nay ông lại bảo rằng các chuyên gia y tế phải “tỏ ra dè dặt trong việc chẩn đoán của họ”, ngay cả miền Nam và miền Tây Hoa kỳ đang phải vất vả chiến đấu trước đợt tấn công thứ hai của dịch bệnh.

Thượng nghị sĩ Paul đã tuyên bố rằng người Mỹ “chỉ cần có thêm lạc quan” mỗi khi nghe khuyến cáo của một ủy ban (phòng chống) đại dịch, kể cả giám đốc của Viện Quốc gia về Dị ứng và Dịch bệnh là Tiến sĩ Anthony Fauci. Tiến sĩ Fauci vừa mới cảnh cáo rằng Hoa Kỳ đang trên đà mỗi ngày có thêm 100.000 người nhiễm Covid-19.

Thượng nghị sĩ Paul muốn các trường học phải mở cửa lại. Ông muốn các câu lạc bộ và tiệm ăn mở cửa lại. Ông muốn các cuộc thi đấu thể thao cũng phải được cho tổ chức lại. Thượng nghị sĩ Paul nói: “Tất cả những gì mà tôi nghe được là “Tiến sĩ Fauci nói: “Chúng ta không thể làm điều này. Chúng ta không thể làm điều kia. Chúng ta không thể chơi bóng chày”.

Vị thượng nghị sĩ của Tiểu bang Kentucky này cho rằng các công dân Mỹ sẽ trở thành một thứ “bày đàn  được một vài người ở Hoa Thịnh Đốn bảo phải làm gì và chúng ta chẳng khác nào những con cừu phải mù quáng đi theo họ”.

Ông đã không đá động đến kịch bản được những mục tử không chuyên môn đưa ra. Và theo Giáo sư Nichols, đây là một dấu hiệu cho thấy nguy hiểm biết chừng nào khi các chuyên gia đề nghị một đàng và các vị dân cử quyết định một nẻo.

Một bác sĩ nhãn khoa không phải là một nhà siêu vi học. Một nhân viên địa ốc không phải là một nhà ngoại giao. Một giám đốc tiếp thị không phải là một chuyên gia kinh tế. Tuy nhiên, chỉ cần một chút cố gắng, những người như thế cũng có thể hiểu và cân nhắc những lập luận của mình. Giáo sư Nichols viết: “Những người không có hiểu biết chuyên môn không thể làm mà không cần các chuyên gia và họ cần phải chấp nhận thực tế đó chứ không phải ngậm đắng nuốt cay. Các chuyên gia cũng vậy, cũng phải chấp  nhận lắng nghe, chứ không phải phủ nhận và lời khuyên của họ không phải lúc nào cũng được đón nhận”.

 

Vui mừng trong ngu dốt

 

Đối với nhiều người, ngu dốt là một đức tính. Đặc biệt trong chính trị. Thà mù quáng và hùng hổ tuyên bố ủng hộ “tín điều” đã được thiết lập, dù có lỗi thời, của phe nhóm mình hơn là phải thay đổi. Người ta không bao giờ cho rằng mình có thể sai lầm.

Giáo sư Nichols nói: “Lập luận có nguyên tắc và dựa trên sự hiểu biết là một dấu hiệu của trí tuệ lành mạnh và sức sinh động của một nền dân chủ. Tôi cảm thấy lo là bởi vì chúng ta không còn có những lập luận như thế nữa, mà chỉ là những đấu đá hò hét và giân dữ”.

Thái độ này là một siêu vi đang lây lan trên các trang mạng xã hội truyền thống, trong các cuộc tranh luận chính trị và trong các tiệm ăn trên khắp thế giới. “Khước từ lời khuyên của các chuyên gia để khẳng định sự tự trị của mình, đây là cách người Mỹ muốn chứng minh sự độc lập của họ đối với những thành phần ưu tú (có hiểu biết) và cô lập cái tôi mong manh của họ để khỏi nghe nói rằng họ sai lầm.”

Vấn đề không phải là bày tỏ ý kiến của mình mà là suy nghĩ với óc phê phán. Và sẽ không có suy nghĩ với óc phê phán nếu không thể chấp mình rằng mình có thể sai lầm.

Giáo sư Nichols giải thích: “Ngờ vực là một điều tự nhiên, nhưng tôi sợ rằng chúng ta đang vượt qua làn ranh của thái độ ngờ vực tự nhiên ấy khi từ ý kiến của các chuyên gia chúng ta tuyên án tử cho chính lý tưởng của sự chuyên môn. Được Google nuôi dưỡng, dựa trên Wikipedia và no say vì các Blog, người ta không còn phân biệt giữa các chuyên gia và những người không có hiểu biết chuyên môn, giữa giáo viên và học sinh, giữa những người có kiến thức và người không có kiến thức, nói cách khác, giữa những người đã thành đạt trong một lãnh vực và những người không có bất cứ thành đạt nào”.

Hiểu biết chuyên môn đã bị “loạt khỏi quày hàng” của những tiện nghi. Giáo sư Nichols giải thích: chẳng hạn người ta thích tìm đến một bác sĩ để xin toa thuốc chữa trị bệnh tiểu đường, nhưng lại  không muốn nghe dẫn giải về dinh dưỡng và nếp sống vốn là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật.

“Người ta muốn ý kiến của mình phải được tôn trọng và những chọn lựa ưu tiên của mình được nhìn nhận không phải dựa trên sức mạnh của những lập luận của mình hay trên bằng chứng hiển nhiên mình đưa ra mà dựa trên cảm xúc và bất cứ thông tin sai lạc nào mình nhặt được nơi này nơi nọ”.

 

Những sự thật gây khó chịu

 

Thượng nghị sĩ Paul xem ra không nghe chính lời khuyên của ông. Tại một phiên điều trần ở Thượng Viện, ông thách thức Tiến sĩ Fauci khi nói rằng: “Chúng tôi có thể lắng nghe lời khuyên của ông, nhưng phía bên kia cũng có những người nói rằng sẽ không hề có sự gia tăng (số người bị nhiễm Covid-19) và như vậy chúng ta có thể mở cửa kinh tế một cách an toàn. Và các sự kiện sẽ chứng minh điều đó”.

Và đây là các sự kiện. Một quán rượu ở Tiểu bang Michigan đã được nhận diện là trung tâm điểm phát xuất của 110 ca nhiễm mới. Một phòng tập thể dục ở Tiểu bang West Virginia đã gây thêm 100 ca nhiễm mới. Trên 230 người đã nhiễm siêu vi khi tham dự một buổi thờ phượng tại Tiểu bang Oregon. Và đây chỉ là một vài thí dụ điển hình.

Nhưng một cuộc thăm dò được cho phổ biến hồi cuối tuần đã cho thấy sức mạnh của làn sóng phủ nhận đại dịch. Theo cuộc thăm dò, hiện có khoảng 40 phần trăm người Mỹ tin rằng tình trạng (đại dịch) đang được kiểm soát, rằng điều tệ hại nhất đã qua rồi, rằng đại dịch đã chấm dứt rồi.

Họ sai lầm. Covid-19 đang tăng tốc hành hoành trên khắp thế giới. Hoa Kỳ hiện đang là trọng tâm của đại dịch: tính từ lúc đại dịch bùng phát tới nay Hoa Kỳ đã có trên 2.7 triệu người bị nhiễm, trong số này có 130.000 người thiệt mạng. Nay, dịch bệnh đang bùng phát dữ dội trên cả nước. Chỉ mới hôm qua (mùng Hai tháng Bảy năm 2020) thôi, theo ghi nhận đã có thêm 44.000 người bị nhiễm.

Hệ thống y tế của Tiểu bang Arizona đã bó tay. Các bệnh viện của tiểu bang đang phải cho áp dụng các biện pháp “tuyển chọn”: chọn ai cần được chữa trị và ai phải bị loại bỏ. Tiểu bang Texas cũng đang cảnh cáo rằng các phòng cấp cứu trong các bệnh viện của tiểu bang hiện đang gần như đầy ứ vì mỗi ngày có đến 8000 ca mới. Tiểu bang California hiện đang ghi nhận mỗi ngày có thêm 5000 ca mới. Hôm qua thống đốc của tiểu bang đã ra lệnh đóng cửa các tiệm ăn, rạp chiếu bóng và các quán rượu.

Trong một tình trạng như thế, Thượng nghị sĩ Paul vẫn tỏ ra thù nghịch với lời khuyên của các chuyên gia, cho dẫu đó là một lời khuyên chính xác. Hôm qua, ông đã tuyên bố: “Cần phải biết rằng nếu xã hội chiều theo lời khuyên của một chuyên gia và nếu chuyên gia ấy sai lầm, thì nhiều thiệt hại có thể xảy ra. Chúng ta không nên giả định rằng một cách nào đó một nhóm chuyên gia biết điều gì là tốt nhất cho mọi người”.

 

Khiên thuẩn của sự thật

 

Các chuyên gia y tế thừa nhận rằng họ chưa biết chính xác siêu vi hoạt động như thế nào hay sức mạnh và những yếu nhược của nó như thế nào. Hiện vẫn chưa có thuốc chữa. Đây là lý do tại sao trước khi tìm ra được một thuốc chủng hữu hiệu, thế giới chỉ mới có 4 vũ khí để chống lại đại dịch. Dĩ nhiên nhờ các chuyên gia. Đã có bằng chứng cho thấy các biện pháp này hữu hiệu.

Trước tiên là việc xét nghiệm. Điều này có nghĩa là nhận diện được nguy cơ. Điều này cũng cho thấy siêu vi đã xâm nhập sâu xa vào một cộng đồng như thế nào. Nó cũng cho phép nhận diện được những cá nhân bị nhiễm nhưng không có triệu chứng và nhờ đó cách ly tức khắc cũng như chữa trị người mắc bệnh.

Biện pháp thứ hai là truy tìm tông tích của việc lây lan. Đây là một công việc khó khăn đòi hỏi nhiều thời gian. Nhưng nó cho phép giảm bớt tốn kém mà vẫn có được hiệu quả tốt. Những người bị nhiễm được phỏng vấn và điều tra. Từng bước di chuyển của họ khi họ có thể lây cho người khác được kiểm tra chặt chẽ. Biện pháp này dẫn đến những người, những nhóm và nơi chốn có tiếp xúc với người bị nhiễm. Việc xét nghiệm sau đó lại hướng đến việc lây lan của siêu vị.

Biện pháp thứ ba là cách ly. Đây là điều tự nhiên phải làm và tốn kém. Nhưng đây là khí cụ duy nhất hữu hiệu mà các cơ quan y tế đang có để chống lại sự bùng phát của Covid-19. Và nếu như một cộng đồng bị cách ly đủ lâu thì siêu vi sẽ bị tiêu diệt. Nó sẽ “chết đói” vì không có những người khách mới!

Biện pháp thứ tư là vệ sinh cá nhân. Một cái ho trong một câu lạc bộ, một quán rượu, một tiệm ăn, một tiệm cà phê hay một cửa tiệm cũng có thể lây cho cả một vùng chỉ trong vài giờ đồng hồ. Chỉ cần vô tình tiếp xúc với một mặt bằng bị nhiễm rồi sờ lên mặt mình cũng đủ để bị nhiễm. Đây là lý do tại sao rửa tay và đeo khẩu trang là biện pháp phòng thủ cuối cùng.

Nếu cả bốn biện pháp trên đây không được áp dụng một cách đúng đắn, việc phòng chống dịch bệnh sẽ thất bại. Và đây là chính kinh nghiệm của Hoa Kỳ sau khi các chính trị gia và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xem thường lời khuyên của các chuyên gia y tế. Và điều này sẽ có những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai.

Giáo sư Nichols viết: “Bao lâu sự tin tưởng và tương kính không được tái lập thì công luận sẽ bị tiêm nhiễm bởi niềm tin mù quáng đối với những ý kiến không có nền tảng. Và trong một bầu khí như thế thì bất cứ điều gì và mọi thứ cũng đều có thể xảy ra, kể cả cái chết của nền dân chủ”

                                                                         Chu Văn chuyển ngữ

Nguyên tác: Jamie Seidel, Ignorance is why US faces 100.000 new infections every day (ngu dốt là nguyên do khiến Hoa Kỳ phải đối mặt với 100.000 ca nhiễm Covid-19 mỗi ngày) trong https://www.nzherald.co.nz/world/news/article.cfm?c_id=2&objectid=12345126

Jamie Seidel là một ký giả tự do chuyên viết bình luận cho News Corporations, Australia.