Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

Số học thời Cô Vi



Chu Thập
19/4/20
Thời đại dịch, một “cụ ông” như tôi dành một thời lượng khá lớn cho việc xem truyền hình: theo dõi tin tức chán chuyển qua du lịch, nấu ăn, đố vui để học...Vậy mà vẫn còn thừa cả khối thời gian. Chẳng còn biết làm gì, tôi mới mò vào đài SBS World Movies, thường được người Việt gọi là Đài sắc tộc ở Úc Đại Lợi. Phim nào có phụ đề còn thưởng thức được. Gặp phim không có phụ đề, tôi chỉ còn biết ngồi xem như vịt nghe sấm. Cũng may mới đây, có một cuốn phim đã khiến cho cái đầu cằn cỗi của tôi phải động não và trái tim tưởng như khô cằn của tôi cũng phải thổn thức. Đó là cuốn phim có tựa đề “Eye in the Sky” (Con Mắt trên Trời). Ông Google cho biết: cuốn phim do đạo diễn Anh Gavin Hood thực hiện hồi năm 2015; vốn liếng bỏ ra chỉ có khoảng 13 triệu Mỹ kim, nhưng thu về được trên 50 triệu Mỹ kim, cuốn phim được đánh giá là tương đối thành công.
“Eye in the Sky” xoay quanh những thách thức về mặt đạo đức của  việc sử dụng máy bay không người lái trong chiến tranh. Cuốn phim được mở màn với cảnh một bé gái người Kenya, Phi Châu, đang chơi Hula Hoop trong vườn sau nhà ở Thủ đô Nairobi. Bên kia bờ đại dương, nữ Đại tá Anh Catherine Powell vừa  thức giấc và nhận được tin một nhân viên tình báo người Kenya đã bị tổ chức khủng bố Al-Shabaab sát hại. Bà Powell vừa nhận được lệnh phải bắt sống hay giết 3 trong số 10 lãnh tụ cao cấp của tổ chức khủng bố này. Tổng hành dinh của họ là một ngôi nhà an toàn tại Nairobi.
Nhờ máy bay không người lái cũng như sự hợp tác của các nhân viên tình báo địa phương, từ tổng hành dinh của mình, Đại tá Powell có thể theo dõi nhứt cử nhứt động của toán lãnh đạo của nhóm khủng bố. Kế hoạch của Đại tá Powell lại được giám sát chặt chẽ bởi một ủy ban đặc nhiệm gồm có một trung tướng, hai bộ trưởng và một thứ trưởng. Sau khi cân nhắc mọi dữ kiện và nhứt là biết rõ nhóm khủng bố đang chuẩn bị cho nổ bom tự sát tại một khu chợ đông người ở Thủ đô Nairobi, Đại tá Powell quyết định cho ném bom tiêu diệt bọn khủng bố. Việc ném bom từ một chiếc máy bay không người lái được giao cho hai viên sĩ quan, một nam một nữ, đang ngày đêm theo dõi kế hoạch từ một căn cứ không quân ở Tiểu bang Nevada.
Những pha gay cấn và hồi hộp nhứt của cuốn phim lại xoay quanh cô bé gái ở thủ đô Kenya. Cứ mỗi lần 2 viên sĩ quan chuẩn bị bấm nút để ném bom từ chiếc máy bay không người lái, thì bé gái lại được mẹ sai mang bánh mì ra bán tại một vệ đường sát bên cạnh tổng hành dinh của nhóm khủng bố. Đại tá Powell và ủy ban đặc nhiệm giám sát cuộc hành quân đã phải cân nhắc sự thiệt hại của việc ném bom tiêu diệt nhóm khủng bố: con số nạn nhân bị vụ nổ bom tự sát của nhóm khủng bố tàn sát sẽ rất cao, nhưng mạng sống của cô bé bán bánh mì cũng quan trọng không kém. Cả cuốn phim là những hồi tranh luận sôi nổi giữa Đại tá Powell và ủy ban đặc nhiệm giám sát kế hoạch. Cuối cùng, được bảo đảm rằng nguy cơ thiệt mạng cho cô bé gái chỉ có khoảng từ 45 đến 60 phần trăm, Đại tá Powell đã ra lệnh cho 2 viên sĩ quan thi hành kế hoạch bấm nút thả bom. Kết quả của cuộc ném bom: toàn bộ nhóm khủng bố bị tiêu diệt, cô bé bán bánh mì bị thương. Được cha mẹ em chạy đến kịp để đưa vào bệnh viện, nhưng cô bé đã không qua khỏi. Cuốn phim kết thúc với cảnh: những giọt nước đã trào ra từ khóe mắt của 2 viên sĩ quan!
Từ lâu dường như tuyến nước mắt trong người tôi không còn hoạt động nữa. Nhưng cuốn phim “Eye in the Sky” đã khiến tôi bồi hồi xúc động nhứt là trong thời đại dịch này. Kể từ khi cơn đại dịch bùng phát, ngày nào tôi cũng lượng giá tình hình bằng những con số được các cơ quan truyền thông cung cấp. Ngày nào tôi cũng được cập nhựt về con số người bị nhiễm trên toàn thế giới và số người chết tại mỗi quốc gia. Thét rồi đại dịch đối với tôi chỉ còn là những con số và mỗi một nạn nhân của Covid-19 chỉ còn là một con số gần như vô hồn và vô nghĩa. Tôi rùng mình nghĩ đến những con số mà Đức Quốc Xã đã cho xâm lên người của các tù nhân: từ lúc bước vào các trại tập trung cho đến lúc bị lùa vào các lò sát sinh, mỗi một người trong số 6 triệu người Do Thái chỉ còn là một con số!
Có lúc tôi cũng rùng mình nghĩ đến những con số người bị nhiễm và chết vì Covid-19 tại Hoa Kỳ. Ở cái đất nước “vĩ đại” này, cái gì cũng nhứt hết, kể cả nhứt về con số người bị nhiễm và chết. Vì có lẽ các nạn nhân chỉ là những con số, cho nên một số chính trị gia, nhứt là Tổng thống Donald Trump, vẫn thường dựa vào đó để đo lường sự “thành công” của mình trong việc đối phó với cơn đại dịch. Trong một cuộc họp báo ngày 30 tháng Ba vừa qua, tổng thống Trump nói rằng nếu chính phủ của ông giữ cho con số người chết vì Covid-19 ở Mỹ ở mức  100.000 người, thì như vậy cũng đã là “làm được một việc rất tốt” rồi.
Trước đó, vào đầu tháng Ba, khi bị chất vấn về việc đối phó với cơn đại dịch, ông cũng đã tự cho điểm 10 trên 10.
Vì vô hồn và vô nghĩa cho nên những con số dễ làm cho con người trở thành dửng dưng và vô cảm. Cách đây không lâu, Nha Lộ Vận RTA (Road and Traffic Authority) ở Tiểu bang NSW nơi tôi ở có cho quảng cáo một lời kêu gọi rất có ý nghĩa. Trong thước phim quảng cáo, một người đàn ông trung niên được một nhân viên cảnh sát cho biết trong năm 2017 đã có 347 người chết vì tai nạn giao thông rồi hỏi: ông muốn con số được giảm xuống còn bao nhiêu? Người đàn ông ngập ngừng một lúc rồi trả lời: “70! 70 là điều có thể chấp nhận được!” Liền sau đó, thước phim quảng cáo cho xuất hiện 70 người đang tiến tới. Nhận ra cả đám đông là bà con gia đình thân thuộc của mình, người đàn ông thốt lên: “Đây là gia đình của tôi!”. Khi được hỏi lại: mỗi năm con số người chết vì tai nạn giao thông bao nhiêu thì có thể chấp nhận được. Lần này ông trả lời dứt khoát: “phải là số không!”
Nếu trong số 70 nạn nhân ở Úc hay trên 35 ngàn người Mỹ có ít nhứt một người bà con thân thuộc của tôi thì chắc tôi phải buồn lắm. Tôi vô cảm là bởi vì tôi chỉ nghĩ đến các nạn nhân như những con số không hơn không kém, mà quên rằng mỗi một người, ngay cả một em bé gái trong cuốn phim “Eye in the Sky”, đều là một nhân vị độc nhứt vô nhị và dù có nghèo hèn mạt rệp đến đâu, cũng đều có một giá trị vô song vượt lên trên mọi giá trị và thước đo trên trần gian này. Cùng với mỗi một nạn nhân là cả gia đình, người thân và cộng đồng của họ. Cùng với gia đình, người thân và cộng đồng của họ lại có biết bao nhiêu thứ có liên hệ với nhau. Nỗi đau và sự mất mát của một người cũng là nỗi đau và sự mất mát của không biết bao nhiêu người. Thật ra, nếu tôi nhận ra mỗi một tha nhân như một phần của nhân loại và nhứt là như người anh em của tôi, thì nỗi đau và sự mất mát của họ cũng phải là của chính tôi. Có rất nhiều thứ mất mát, tiền của không bao giờ có thể chuộc lại được. Vĩnh viễn, không bao giờ!
Thời đại dịch, hơn bao giờ hết, có lẽ “nhân đức” cần trau dồi hơn cả phải là sự cảm thông. Elie Wiesel (1928- 2016), một người sống sót từ trại tập trung của Đức Quốc Xã và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 1986, có nói rằng nghịch nghĩa của tình yêu không phải là hận thù mà là sự dửng dưng. Ông cho rằng “dửng dưng là hiện thân của cái Ác” (Indifference, to me, is the epitome of evil).
Thời đại dịch, được “ngồi yên” một chỗ nhiều hơn bao giờ hết, tôi thường đem lời khuyên của Đức Đạt Đai Lạt Ma ra nghiền ngẫm: “Chúng ta cũng cần phải nhớ rằng không ai thoát khỏi đau khổ. Chúng ta cần đưa tay ra cho người khác là những người mất nhà cửa, nguồn lợi hay không có gia đình để bảo vệ họ. Cuộc khủng hoảng này cho chúng ta thấy rằng chúng ta không tách biệt nhau, ngay cả khi chúng ta sống xa nhau. Do đó, tất cả chúng ta phải có trách nhiệm thực thi sự cảm thông và giúp đỡ”



Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

Nỗi buồn tháng Tư thời Cô Vi




Thời đại dịch, đang bị cấm cố, nghe ông Chỉ huy trưởng cảnh sát Tiểu bang New South Wales, Úc Đại Lợi  tuyên bố: câu cá cũng là một thứ “thể dục thụ động” (passive exercise) được phép làm,  dân ghiền câu cá như tôi cảm thấy như mở cờ trong bụng. Cứ như tin vui giữa giờ tuyệt vọng!  Với tôi, “cần câu là đầu câu chuyện”. Đi câu cá không chỉ để quăng cần cho giãn gân giãn cốt, ngắm cảnh, giải trí và dĩ nhiên để kiếm cá ăn, mà còn để giao lưu với các bạn “đồng nghiệp”. Theo nhận xét của nhiều người, tôi là người hướng nội, rụt rè và vụng về trong giao tiếp xã hội. Nhưng như một phép lạ: cứ ra bãi câu là tôi thấy mình trở thành một người linh hoạt và hoạt bát ngay. “Chẳng còn sợ thằng Tây” nào nữa! Gặp bất cứ ai, tôi cũng xáp tới hỏi chuyện. Mà cũng lạ. Tôi không phải là người có tài gợi chuyện. Vậy mà bất cứ người nào tôi lân la đến gần để chào hỏi và làm quen cũng đều cởi mở tấm lòng để góp chuyện. Cần câu và con cá dẫn đến đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất. Nhiều tình bạn đã nẩy nở từ bãi câu. Nhưng cái bản mặt da vàng mũi tẹt và mắt hí của tôi dường như lúc nào cũng làm bật lên nơi người đối diện câu hỏi: “Ông là người nước nào?” (Where are you from?). Đây là cơ hội để tôi “nổ” về lý do tại sao tôi có mặt ở Úc, về quê hương và văn hóa của tôi, về cuộc chiến trong đó có sự tham gia của người Úc...
Bình thường tôi hãnh diện để nói về mình và đất nước của mình. Tuy nhiên, trong thời đại dịch này, dường như câu hỏi: “ông là người nước nào?” thốt lên từ miệng một người Úc da trắng khiến tôi khựng lại. Mới đây, ở bãi câu tôi gặp một ông Úc trắng tốt bụng. Đứng cách ông không phải chỉ một thước rưỡi như quy định mà đến cả 5,7 thước, tôi cũng tránh cả việc chào hỏi. Vậy mà ổng gọi tôi lại gần, tặng cho một con cá đối để làm mồi, rồi hỏi: “ông là người nước nào?”  Không biết có phải do có tật giật mình không, tôi nghe thấy trong câu hỏi ấy không những thái độ dò xét, điều tra mà còn cả sự nghi kỵ và kỳ thị nữa. Sở dĩ tôi có một phản ứng như thế là bởi vì kể từ khi đại dịch từ Vũ Hán, Trung Cộng bùng phát và lây lan đi khắp thế giới, người Á Châu nói chung đã trở thành điểm nhắm của những hành vi kỳ thị của người da trắng, vốn xảy ra tại rất nhiều nước Tây Phương. Cuối tháng Ba vừa qua, báo The Bulletin ở Úc đưa tin:  một cô gái Á Châu tên là Sophie Do  (Đỗ là một họ đặc thù của Việt Nam) cùng với cô em gái đang đi bộ trên một con đường tại Marrickville, một khu ngoại ô của Sydney, thì một thiếu nữ da trắng xáp tới rủa sả bằng những lời lẽ thô tục như “Đồ chó Á Châu” , “chúng mày đã mang Coronavirus đến đây”. Ngoài những lời lẽ thô tục, người thiếu nữ da trắng còn tìm cách đá vào người em gái của cô Sophie. (https://www.themorningbulletin.com.au/news/asian-dog-young-women-spat-on-in-street/3985339/)
Theo tường thuật của Đài CNN,  khi cơn đại dịch vừa mới tấn công vào Vương quốc Anh, một sinh viên người Tân Gia Ba gốc Hoa đã bị đánh đến vỡ một xương trên mặt ngay giữa thành phố London. The báo The Atlantic, đầu tháng Giêng vừa qua, khi tin tức về đại dịch từ Vũ Hán bắt đầu được lan truyền đi khắp thế giới, một cô gái người Mỹ gốc Hoa ở New York liền đeo khẩu trang mỗi khi ra đường. Thế rồi, trong những tuần lễ sau đó, cái khẩu trang ấy đã thu hút sự chú ý của nhiều người cho nên cô đã liên tục bị tấn công bằng những lời lẽ và thái độ kỳ thị ...
Đó là những mẩu tin tôi đọc được trên báo. Còn tận tai nghe được thì tôi có chứng từ của một ông Úc rặc có vợ người Phi Luật Tân. Một hôm khi đến giúp tôi lấy mật từ những tổ ong trong vườn sau nhà, ổng than phiền: người vợ Phi của ổng bị kỳ thị ra mặt mỗi khi lên xe lửa để đi làm!
Trong các phương tiện di chuyển công cộng, trên đường phố, người Á Châu bị kỳ thị đã đành, mà với tôi điều đáng buồn hơn cả là khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chuẩn y và công khai hóa thái độ kỳ thị của nhiều người khi gọi đích danh siêu vi Corona là “Siêu vi Tàu” (China virus). Trong một cuộc họp báo hồi tháng trước, lời tuyên bố được soạn sẵn cho ông đọc gọi tên siêu vi là “Coronavirus” , nhưng ông đã lấy bút xóa tên này và thay vào bằng  chữ “siêu vi Tàu”. Kể từ đó, con số người Mỹ gốc Á bị những người kỳ thị chủng tộc tấn công nhiều hơn.
Và cũng kể từ đó, dường như nhiều người đồng bào Việt Nam của tôi cũng không tiếc lời để rủa sả người Hoa bằng những tên gọi miệt thị như “Dịch Tàu” “Cúm Chệt”. Chế độ độc tài cộng sản ở Trung Quốc đáng bị lên án vì sự bưng bít của họ đã  khiến cho cơn đại dịch Covid-19  lan truyền đi khắp thế giới. Người Việt Nam nào cũng có đủ lý do để thù ghét cái chế độ đã cướp biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông. Nhưng người Hoa nói chung, tự họ không phải là kẻ thù của tôi. Tôi không biết mình có máu Tàu không, nhưng hồi mới đến Pháp, tôi vẫn bị gọi một cách thân mật là “Tàu” (Le chinois). Đầu thập niên 1980, tôi rất hãnh diện khi nghe nói đến một viên thanh tra cảnh sát rất nổi tiếng ở Marseille, miền Nam nước Pháp, tên là Georges Nguyễn Văn Lộc. Do thành tích trừ gian diệt tặc trong thành phố, ông được người Pháp tặng cho danh hiệu “Robin des Bois” (Robin Hood). Nhưng dù tôi có cải chính cách mấy, một người Việt Nam với tên họ rành rành là Việt Nam như ông Lộc vẫn được người Pháp gọi là “Le Chinois” (ông Tàu, ông Chệt hay ông Ba Tàu gì đó nếu dịch sang tiếng Việt). Có lẽ dưới mắt người Tây Phương, người Á Châu nào cũng đều là Tàu, là Hoa cả. Thành ra trong thời đại dịch này, kỳ thị không chỉ nhắm vào người Hoa mà là người Á Châu nói chung.
Thời đại dịch, vào giữa lúc cần có tình liên đới nhân loại để đối đầu với siêu vi Covid-19, thật đáng  buồn vì có một ông tổng thống Mỹ kỳ thị ra mặt. Nhưng tôi buồn hơn vì có một số người Việt của tôi có khi còn có máu kỳ thị hơn cả những người thượng tôn da trắng. Trên “meo đàn” của những người đồng môn thời trung học của tôi, không thiếu những người bạn của tôi gọi cựu Tổng thống Barack Obama là “thằng mọi đen”. Mùa hè cách đây 2 năm, tôi có ghé thăm một người bạn thời tỵ nạn hiện đang ở Orange County. Hai vợ chồng là những người công giáo thuần thành. Tôi ghé thăm họ vào một buổi chiều Chúa nhựt khi họ vừa đi lễ về. Trong câu chuyện, khi nhắc đến các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, người vợ tuyên bố: dứt khoát không bao giờ để cho con cái chơi với “đám Mỹ đen”. Còn về người Mễ vốn nhan nhản và đóng góp không ít cho nền kinh tế “tiểu thương” ở Little Sai Gon, một người bạn tỵ nạn khác của tôi lập lại y chang lời của Tổng thống Trump: đó là bọn hiếp dâm, buôn bán ma túy và lười biếng!
Tổng thống Trump quả có một sức thu hút phi thường đối với người đồng bào Việt Nam của tôi. Qua các cuộc thăm dò cũng như qua những phản ứng tôi nghe được, có đến hai phần ba người Việt ở Mỹ ủng hộ Tổng thống Trump. Không những ủng hộ mà còn sẵn sàng sống chết, đỡ đạn cho ông. Đụng đến ông là đụng đến “tổng thống của chúng tôi”!  Người ta đã thấy được sự tôn sùng lãnh tụ ấy qua phản ứng của một số người Việt ở Mỹ đối với Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Trong một đất nước có tôn trọng tự do ngôn luận như Hoa Kỳ, Mẹ Nấm đã phê bình sự việc Tổng thống Trump khuyên nên sử dụng thuốc sốt rét Hydroxychloloquine để trị Covid-19. Trên Blog của mình, cô viết nguyên văn như sau: “P/s: Dịch bệnh nên đọc cảnh báo của các chuyên gia y tế, đừng nghe lời lãnh đạo nha quý vị”. Chỉ có vậy mà sự cuồng nộ đã nổi lên như sóng cồn: một vài chiến dịch xin chữ ký để trục xuất Mẹ Nấm về Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã thu thập đến trên dưới mười ngàn chữ ký. Tựu trung, bản án dành cho Mẹ Nấm được tóm gọn trong câu: “Chống Cộng mà lại chống Trump thì chỉ có bọn nằm vùng...”
Tháng Tư, người Việt tỵ nạn nào mà chả buồn. Ngoài nỗi buồn chung ấy, thời đại dịch này, tôi còn có nỗi buồn riêng: người ta có thể trốn chạy chế độ cộng sản, nhưng vẫn mang theo cái cốt lõi của chế độ đó là sự tôn thờ lãnh tụ, chụp mũ và ném đá người khác! Buồn thật! Hành xử như thế thì có khác gì người cộng sản!
Trong những ngày này  mà Kitô Giáo gọi là “Tuần Thánh”, tức tuần lễ tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu và chuẩn bị lễ Phục Sinh, các tín hữu Kitô được mời gọi “ăn năn sám hối”. Trong một lời kinh sám hối thường được đọc trong những ngày này, người ta “lo buồn đau đớn” vì đã “cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa”. Chúa ở trên trời cao xa vời vợi quá, không biết tôi có phản nghịch và xúc phạm tới không. Nhưng chắc chắn xúc phạm tới tha nhân, hạ phẩm giá tha nhân, kỳ thị tha nhân chỉ vì màu da, chủng tộc, văn hóa, địa vị xã hội và ngay cả chính kiến...thì quả thật đây mới là điều đáng cho tôi “lo buồn đau đớn” hơn cả!
Buồn và đau hơn nữa khi tôi lẩn thẩn tự hỏi: Nếu Chúa Giêsu khi xuống thế làm người mà chẳng may mang cái màu da đen hay là một ông Á châu da vàng mũi tẹt như tôi thì sao?





Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Lãnh đạo thời Cô Vi



Zaheena Rasheed
                                                                                 Chu Thập chuyển ngữ

Đại dịch Covid-19 đang đe dọa mạng sống và cuộc sống của con người trên khắp thế giới.
Chỉ trong 3 tháng, đã có hơn một triệu người tại trên 180 quốc gia bị nhiễm bệnh và ít nhất 50.000 người chết vì một cơn dịch mà Liên Hiệp Quốc gọi là “cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất” đối với thế giới kể từ Đệ nhị Thế chiến.
Tại nhiều vùng rộng lớn trên trái đất, việc “đóng cửa” nhằm chận đứng sự lây lan của siêu vi đã khiến cho cuộc sống và hoạt động kinh tế dậm chân tại chỗ. Ở những vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, các bệnh viện đã quá tải vì số bệnh nhân và người chết, trong khi đó khắp nơi người nghèo và những người dễ bị tổn thương phải đương đầu với tình trạng thiếu thốn lương thực và chết đói.
Hôm thứ Ba (mùng Bảy tháng Tư 2020) vừa qua, khi nhấn mạnh đến nguy cơ mà cuộc khủng hoảng đang đặt ra cho hòa bình và sự ổn định trên thế giới, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Antonio Guterres đã gởi đến các chính trị gia lời kêu gọi khẩn thiết hãy “bỏ qua một bên những trò chơi chính trị” và ngồi lại với nhau để “đối phó một cách mạnh mẽ và hữu hiệu” (với cuộc khủng hoảng).
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nói: “Thế giới đang đối đầu với một thử thách chưa từng có. Và đây là lúc phải hành động”.
Thật ra, những hệ lụy của cuộc khủng hoảng lẽ ra không nên cao hơn.
Cuộc sống hay cái chết của hàng triệu người tùy thuộc vào những quyết định mà các nhà lãnh đạo thế giới sẽ làm trong những ngày và tuần lễ sắp tới. Nhưng các nhà phân tích lại nói rằng những dấu hiệu mới nhất thật dáng lo ngại.
Tại một số quốc gia, vì lợi ích riêng tư, vì không tin tưởng vào khoa học hay vì sợ kinh tế sụp đổ, các nhà lãnh đạo đã đối phó bằng sự do dự và phủ nhận.
John M Barry, một sử gia đã từng nghiên cứu về cơn đại dịch cúm Tây Ban Nha trong đó đã có 100 triệu người bị thiệt mạng hồi năm 1918, nói: “Tại nhiều nước, thật đáng buồn. Tại một số nước, thật đáng lên án vì hành động của một số nhà lãnh đạo sẽ khiến cho nhiều công dân phải chết một cách không cần thiết”.
Tại Trung Quốc của ông Tập Cận Bình, là nơi cơn bệnh đã được phát giác trước tiên hồi cuối tháng Mười Hai năm vừa qua, chính quyền đã bị tố giác đang bưng bít và trừng phạt những bác sĩ nào đã lên tiếng báo động khi đại dịch vừa mới bùng phát. Đây là những hành động mà những người chỉ trích nói rằng đã cho phép siêu vi phát tán từ trung tâm thành phố Vũ Hán ra mọi hang cùng ngỏ hẻm trên thế giới.
Tại Hoa Kỳ, thoạt tiên Tổng thống Donald Trump đã xem thường tính nghiêm trọng của mối đe dọa khi ông tiên đoán rằng siêu vi sẽ “biến mất” như “một phép lạ”  và hạ giảm các mối lo ngại ngày càng gia tăng khi nói rằng dịch bệnh chỉ là một “cú lừa” của các  đối thủ chính trị của ông. Ông chỉ thay đổi giọng điệu đó hồi tuần trước sau khi các cuộc thăm dò cho thấy dân chúng ngày càng lo âu và các chuyên gia tiên đoán rằng sẽ có 200.000 người chết tại Hoa Kỳ nếu không có những biện pháp ngăn chận sự lây lan.
Tại Ba Tây, Tổng thống Jair Bolsanaro cứ tiếp tục phủ nhận dịch bệnh mà ông gọi là chuyện “tưởng tượng” hoặc chỉ như “một thứ cúm nhẹ”. Chỉ mới tuần vừa qua, ông đã thách thức lời khuyên của các viên chức y tế của ông về việc phải tránh tiếp xúc khi đi thăm các khu phố ở Thủ đô Brasilia để kêu gọi dân chúng trở lại làm việc.
Trong khi đó tại Mễ Tây Cơ, hồi cuối tháng Ba vừa qua, Tổng thống Andres Manuel Lopez Obrador đã tổ chức các cuộc biểu tình, ôm hôn những người ủng hộ ông và thúc đẩy người dân Mễ hãy “sống bình thường”. Tổng thống Mễ đã hành động như thế mặc dù chính Bộ trưởng Y tế của nước này đã kêu gọi dân chúng nên ở nhà để tránh lây lan.
Giáo sư Charles Call, thuộc Viện Brookings có trụ sở tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nói rằng hành động của các nhà lãnh đạo trên đây làm nổi bật “thái độ thù nghịch đối với khoa học và các cơ chế nhà nước”. Viết trên Blog của ông, giáo sư Call nói rằng thái độ ngạo mạn của các nhà lãnh đạo trên đây đang bị nhiều người chỉ trích. Ông tiên đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ là một “cuộc trắc nghiệm về chủ nghĩa dân túy” tại các nước này.
Tại Nam Dương,  hồi tuần trước, Tổng thống Joko Widodo đã nhìn nhận rằng ông đã cố tình bưng bít thông tin về sự bùng phát của đại dịch. Ông nói rằng đây là một chiến thuật nhằm ngăn ngừa sự sợ hãi của dân chúng. Trong những ngày đầu khi dịch bệnh bùng phát, một số bộ trưởng của ông đã nói rằng sự cầu nguyện có thể ngăn ngừa được dịch bệnh, trong khi đó những người khác lại cho rằng thời tiết ấm áp của Nam Dương có thể làm cho việc lây lan bị chậm lại.
Viết trên báo The Diplomat, ông Asmiati Malik, giáo sư phụ khảo tại Đại học Universitas Bakrie của Nam Dương, cho rằng thái độ “phi khoa học” của chính phủ bắt nguồn từ những quan ngại về tinh trạng kinh tế của quốc gia có dân số đông đứng hàng thứ tư trên thế giới. Tuy nhiên theo giáo sư Malik, phủ nhận và giới hạn sự  truy cập thông tin của dân chúng về sự lây lan của dịch bệnh là một chính sách có thể gây tử vong cho hàng ngàn người.
Theo sử gia  Barry, sự phủ nhận và chậm trễ (trong việc đối phó với dịch bệnh) sẽ gây thiệt hại cho những nước này khi đến một lúc phải đưa ra những giới hạn cứng rắn hơn để chận đứng dịch bệnh. Ông nói  “Nếu bạn chờ đợi dân chúng sẽ tuân thủ lời kêu gọi giữ khoảng cách xã hội (social distancing), thì phải làm sao để họ tin vào lời kêu gọi đó. Nếu dân chúng không tin tưởng những người đưa ra lời kêu gọi đó thì họ sẽ không tuân thủ và một khi không có sự tuân thủ thì lời kêu gọi đó sẽ không hữu hiệu”.
Đây là lý do tại sao bài học duy nhất và quan trọng nhất từ đại dịch năm 1918 là: “hãy nói sự thật”
Có một số nhà lãnh đạo đã làm điều đó.
Ngày 11 tháng Ba, khi sự lây nhiễm đã bắt đầu gia tăng mạnh tại Ý, thủ tướng Đức, bà Angela Merkel đã nói rằng sẽ có đến 70 phần trăm dân chúng Đức bị lây nhiễm. Lời cảnh cáo này hoàn toàn đi ngược lại với những lời tuyên bố của các chính trị gia khác vào thời điểm đó. Một tuần lễ sau, trong một bài diễn văn đươc truyền hình, bà thủ tướng đã kêu gọi dân Đức hãy tôn trọng những giới hạn nghiêm nhặt về việc đi lại và giao tiếp xã hội. Bà nói: “ Tình trạng thật nghiêm trọng. Hãy ứng phó một cách nghiêm chỉnh. Trong một thể chế dân chủ,  không nên xem thường những giới hạn như thế, ngay cả chỉ là tạm thời. Nhưng hiện nay, đây là những giới hạn cần thiết để cứu mạng người”.
Kể từ đó, tại Âu Châu, Đức đã dẫn đầu trong  việc xét nghiệm rộng rãi về Covid-19 : kể từ lúc xảy ra cuộc khủng hoảng, đã có gần một triệu người được xét nghiệm. Và mặc dù đang đứng hàng thứ năm trên thế giới về con số người bị nhiễm bệnh, với trên 80.000 người bị nhiễm, Đức vẫn có số tử vong thấp nhất trong nhóm này.
Ca ngợi Thủ tướng Merkel, bà Judy Dempsey, thuộc viện Carnegie Europe, nói rằng hành động của thủ tướng “vạch ra con đường phía trước để có một sự đáp ứng thống nhất và cương quyết. Đây là một đáp ứng cần thiết và cho thấy các nền dân chủ có thể thực hiện cách tốt nhất”.
Tại Tân Gia Ba, Thủ tướng Lý Hiển Long cũng được ca ngợi vì đề ra một chiến dịch truy tìm và xét nghiệm gắt gao nhờ đó, kể từ khi dịch bệnh bùng phát, chỉ có khoảng 1000 người bị lây nhiễm. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài CNN hôm chủ nhật (Mùng Năm tháng Tư vừa qua), Thủ tướng Tân Gia Ba nói rằng sự trong suốt và tin tưởng là những yếu tố nền tảng trong cuộc chiến của Tân Gia Ba chống lại siêu vi. Ông nói: “Chúng tôi hành động một cách trong suốt. Nếu có tin xấu, chúng tôi sẽ cho bạn biết. Nếu có những điều cần phải làm, chúng tôi cũng sẽ nói cho bạn biết. Nếu dân chúng không tin tưởng bạn thì  ngay cả khi bạn có đề ra những biện pháp đúng đắn, rất khó để tuân thủ”.
Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in, nữ Thủ tướng Tân Tây Lan Jacinda Ardern và Tổng thống El Salvador Nayib Bukele cũng đều được ca ngợi vì đã hành động một cách trong suốt và cương quyết.
Tuy nhiên không thiếu những nhà lãnh đạo bị tố cáo đang lợi dụng cuộc khủng hoảng để thu tóm quyền lực.
Hôm thứ Hai (mùng Sáu tháng Tư vừa qua), thủ tướng Hung Gia Lợi Viktor Orban đã được trao quyền không giới hạn để cai trị bằng sắc lệnh: theo một luật mới, người dân nào phát tán “thông tin giả” sẽ bị phạt tù năm năm. Các nhà phê bình cho rằng luật này có thể được dùng để khóa miệng các ký giả. Những quan ngại tương tự cũng được nêu lên tại Phi Luật Tân là nơi tổng thống Rodrigo Duterte tự trao cho mình những quyền hạn trong tình trạng khẩn trương cho phép ông nại đến những tin giả về Covid-19 để đàn áp.
Tại Israel, Thủ tướng Benjamin Netanyahu sử dụng tình trạng khẩn trương về đại dịch để cho phép các cơ quan tình báo theo dõi công chúng và đóng cửa các tòa án trước khi các cáo buộc về hành động tham nhũng của ông được mang ra xét xử.
Meenakshi Ganguly, giám đốc chi bộ Nam Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) nói: “Chúng tôi nhìn nhận rằng cơn đại dịch này đang đặt ra một trắc nghiệm chưa từng có đối với các nhà lãnh đạo thế giới. Vấn đề của chúng ta là một số nhà lãnh đạo đã có những toan tính độc tài. Đây không phải là thời gian để làm chính trị...bất cứ một quyền hành nào trong tình trạng khẩn trương cũng cần phải tương xứng và các chính phủ phải luôn luôn bảo vệ quyền lợi của người dân”.
Ngoài việc thu tóm quyền lực, các nhà quan sát còn lo ngại về cuộc đấu đá giữa các cường quốc, nhất là giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng. Tức giận trước việc Hoa Thịnh Đốn cứ liên tục dán cho Covid-19 cái nhãn hiệu “Siêu vi Tàu”, các viên chức tại Bắc Kinh hiện đang phản công bằng cách tuyên truyền mà không đưa ra bất cứ bằng chứng nào rằng chính quân đội Mỹ đã mang siêu vi này vào Vũ Hán.
Mối quan hệ ngày càng tồi tệ giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, cũng như việc Hoa Kỳ dựa vào  chính sách “Hoa Kỳ trước tiên” của ông Trump để rút lui khỏi chính trường thế giới, đang cản trở một hành động phối hợp trước cơn đại dịch.
Charles Kupchan, thuộc Hội đồng Quan hệ Ngoại giao có trụ sở tại Hoa Kỳ, cho rằng  hiện “không có bất cứ một sự đáp ứng toàn cầu nào. Và đây là một vấn đề lớn bởi vì cuộc khủng hoảng sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp hơn nếu những nước lớn ngồi lại với nhau.  Khi xảy ra dịch Ebola hồi năm 2014 hay trong cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008, Hoa Kỳ là nước đã đứng ra và lên tiếng: “Chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết vấn đề như thế nào?”  Nhưng những ngày như thế không còn nữa. Chính phủ Trump đã tỏ ra cực kỳ chậm chạp trong việc đối phó với cuộc khủng hoàng trong nước và việc lãnh đạo của ông ở nước ngoài đã giới hạn tối đa”.
Kupchan nói: “Đây có thể là một tai họa cho những người dễ bị tổn thương nhất trên thế giới”. Theo ông “Những vấn đề cốt lõi cần phải  được giải quyết là cung cấp và phân phối các thiết bị y tế, chia sẻ những cách thức tốt nhất về xét nghiệm và cô lập cũng như đối phó với những cộng đồng có thu nhập thấp. Điều tồi tệ nhất mà tôi lo sợ là khi  Covid-19  tấn công vào các trại tỵ nạn và những nước có hệ thống y tế kém phát triển. Đây có thể sẽ là một cuộc tàn phá rộng lớn”.

Nguồn: Zaheena Rasheed, Covid-19 pandemic is testing world leaders. Who’s stepping up?


Thứ Tư, 25 tháng 3, 2020

Liên đới trách nhiệm thời Cô Vi


Chu Thập
26/3/20
Sáng nay (26 tháng Ba 2020), nghe tin Thái tử Charles bị nhiễm Covid-19. Người sẽ kế vị trên ngai vàng của Vương quốc Anh thống nhứt, suốt ngày được bao bọc trong cung điện, mà không được Covid-19 tha cho thì huống chi là một thứ dân như tôi. Thời buổi này, cứ ho một vài cái, thân nhiệt nhích lên một chút là thấy lo. Mà lo là phải bởi vì tình trạng lây lan và tử vong vì Covid-19 ngày càng tồi tệ. Số người chết tại Ý và Tây Ban Nha đã qua mặt Trung Cộng. Ấn Độ, với dân số trên một tỷ người, vừa mới tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc. Nhật Bản chính thức cho biết sẽ dời Thế Vận Hội sang năm sau. Tổ chức Y tế Thế giới WHO cảnh cáo rằng Hoa Kỳ sẽ là trung tâm điểm của đại dịch. Vậy mà mới đây, Tổng thống Donald Trump lại tỉnh bơ tuyên bố sẽ  cho đất nước “mở cửa” lại vào ngày Chúa Nhựt lễ Phục Sinh, tức ngày 12 tháng Tư sắp tới: mọi người dân Mỹ sẽ đi làm việc trở lại, đễ cho kinh tế Mỹ không sập tiệm, để cho thị trường chứng khoán lên trở lại, để cho Tổng thống Trump được tái cử trong cuộc bầu cử vào tháng Mười Một tới, để cho ông vẫn tiếp tục bám vào quyền lực...Với ông tổng thống Mỹ thứ 45 này, kinh tế quan trọng hơn sinh mạng của người dân và dĩ nhiên, quyền lực của ông quan trọng hơn bất cứ giá trị nào trên cõi đời này! 
Trong hơn 10 ngày, kể từ khi tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc, Tổng thống Trump đã không ngừng tiếp tục dối trá về cuộc chiến chống lại Covid-19. Hãy thử nghe lại những lời tuyên bố của ông kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát.
Trong hai ngày Mùng Bảy và 19 tháng Hai, Tổng thống Trump đã nói chắc nịch: “Khi chúng ta bước vào tháng Tư, khi khí trời ấm hơn, cái con “virút” đó (Covid-19) sẽ chỉ có một tác động tiêu cực mà thôi”. Thật ra, theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Covid-19 có thể lây lan trong mọi môi trường, kể cả những vùng nóng và ẩm ướt.
Ngày 27 tháng Hai, tổng thống Trump vẫn giữ thái độ lạc quan tếu: “Nó (tức cơn đại dịch) sẽ biến mất. Sẽ có ngày phép lạ sẽ diễn ra, nó sẽ biến mất”. Nhưng chỉ vài ngày sau đó, Tiến sĩ Anthony Fauci, Giám đốc của Viện quốc gia chuyên nghiên cứu về Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm, đã cảnh cáo rằng “nội trong tuần lễ sau hay hai hoặc ba tuần lễ sau, chúng ta sẽ thấy rất nhiều cộng đồng bị lây nhiễm”. Và lời cảnh báo của Tiến sĩ đã và đang xảy ra.
Chưa hết, ngày 23 tháng Ba, Tổng thống Trump lại tiên báo ngon ơ rằng nếu kinh tế suy sụp, con số người chết vì tự tử “dứt khoát sẽ cao hơn nhiều so với con số những người mà chúng ta cho là” sẽ chết vì Covid-19. Thật ra, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật ước tính, con số người chết vì Covid-19 tại Hoa Kỳ có thể lên đến từ 200.000 đến 1.7 triệu người. Cũng theo Trung tâm này, tự tử là một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Hoa Kỳ, nhưng con số người chết vì tự tử trong năm 2017 chẳng hạn chỉ có khoảng 47.000 người.
Nói sai sự thật, bóp méo sự thật, tung ra những thuyết âm mưu, dối trá, léo lận...vốn là nghề của chàng! Còn biết suy nghĩ bằng cái đầu và có chút lương tri, tôi nghĩ không ai có thể phủ nhận tật  dối trá bẩm sinh của ông Trump. Hãy thử so sánh hai câu tuyên bố của ông liên quan đến đại dịch Covid-19. Ngày 22 tháng Giêng, ông khẳng định: “Không, Coronavirus sẽ không trở thành một đại dịch. Dứt khoát không!”  Rồi mới đây, khi đại dịch đã lan tràn khắp thế giới và không buông tha cho Hoa Kỳ, ông lại nói tỉnh bơ: “Tôi đã luôn luôn biết đây là một đại dịch thực sự mà. Tôi đã cảm nhận nó là một đại dịch từ lâu rồi, trước cả khi nó được gọi là một đại dịch”. Tôi nghĩ: hẳn phải xem cả cái nước Mỹ là “đồ ngu”  hết cho nên ông mới dám nói ngược nói xuôi như thế!
Có lẽ nghĩ rằng dân Mỹ “ngu” hết cho nên ông mới liên tục cho họ ăn bánh vẽ. Tin về dịch Covid-19 từ Vũ Hán, Trung Cộng, đã được phổ biến ra cả thế giới ngay từ cuối năm 2019. Trong tháng Giêng năm 2020, tình báo Mỹ cũng đã báo cáo về các mối nguy hiểm của dịch bệnh này. Nhưng Tổng thống Trump, người tự cho là thông minh nhứt thế giới và thông biết mọi sự, đã gạt bỏ ra ngoài tai các bản báo cáo của tình báo Mỹ.
Ngày mùng Hai tháng Ba, khi dịch bệnh đã bắt đầu lây lan ở mức báo động, ông lại tuyên bố không bao lâu nữa Hoa Kỳ sẽ có thuốc chủng ngừa. Ngày hôm sau, ông cũng hứa hẹn nội trong một tuần lễ Hoa Kỳ sẽ có đủ thiết bị để xét nghiệm cả triệu người. Tuy nhiên, Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh tật lại cho biết khả năng của Hoa Kỳ chỉ có thể sản xuất tối đa được 75.000 bộ mà thôi.
Léo lận, dối trá...cho nên ông Trump không bao giờ nhìn nhận bất cứ mội sai lầm nào. Sai lầm của ông, người khác phải chịu trách nhiệm!  Truyền thông, Đảng Dân Chủ, người tiền nhiệm của ông là Tổng thống Barack Obama và bất cứ ai có ý kiến hay quan điểm khác ông, chớ đừng nói đến những người chống đối ông, đều phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của ông. Khi dịch bệnh Covid-19 vừa bùng phát, ông bảo đây là một “cú lừa” (hoax) của truyền thông và Đảng Dân Chủ.  Về khả năng hạn chế của Hoa Kỳ trong việc xét nghiệm, ông hoàn toàn đổ lỗi cho người tiền nhiệm Obama. Trong các câu tuyên bố của ông liên quan đến đại dịch Covid-19, tôi đặc biệt chú ý đến câu: “Tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm” ( I don’t take responsibility at all). Và đây cũng là câu nói khiến tôi phải mang ra nghiền ngẫm trong thời Cô vi này.
Trong cơn đại dịch, tình liên đới nhân loại buộc tất cả mọi người có mặt trên trái đất này đều phải nhận lấy trách nhiệm và cư xử có trách nhiệm. Dĩ nhiên, trách nhiệm trước tiên thuộc về các chính phủ, những người đang nắm quyền cai trị trong tay. Không riêng chế độ độc tài cộng sản Trung Quốc vì ngay từ đầu đã bưng bít mà gây ra nông nỗi này, nhưng tất cả mọi chính phủ cũng đều phải gánh lấy trách nhiệm bởi vì lơ là trong việc phòng chống bệnh tật. Nhưng tinh liên đới nhân loại cũng đòi hỏi tôi cũng phải lãnh lấy trách nhiệm trong việc phòng chống lại bệnh tật. Sống bừa bãi, không tuân thủ những biện pháp đề phòng do chính phủ đề ra, không những tôi sẽ mang lấy bệnh tật mà cũng làm cho người xung quanh tôi bị lây nhiễm. Xét cho cùng, mỗi một người hiện đang có mặt trên trái đất này, đều là một phần của nhân loại. Ít hay nhiều, mạng sống của mỗi người đều có thể bị tổn thương vì cách sống thiếu trách nhiệm của tôi.
Nhà toàn học kiêm triết gia Pháp nổi tiếng là Blaise Pascal đã từng nói: “Tất cả mọi khốn khổ xảy đến cho nhân loại đều do con người không thể ngồi yên một chỗ”. Vì cơn đại dịch Covid-19, tôi có cơ hội “ngồi yên” một chỗ nhiều hơn. Đây là dịp để tôi suy nghĩ nhiều hơn về thế nào là tình liên đới nhân loại và trách nhiệm của tôi đối với mọi người. Sống có trách nhiệm hơn để không phải tự giam hãm trong vỏ ốc ích kỷ và dối trá của mình.






Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

Nghịch lý thời Cô Vi


Chu Thập
16/3/20

Ngày nào cũng như ngày nào, nhà tôi bắt đầu bữa ăn sáng bằng câu hỏi:Ông Trump ra sao rồi?” Gần đây tôi “ghiền” theo dõi tin tức về tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ. Cũng đúng ý ổng thôi. Ổng phải là cái đinh của thế giới. Ổng thích được cả và thiên hạ chú ý đến ổng mà!
Thời buổi này báo mạng đầy dẫy. Sáng thức dậy, không gì thú vị bằng vừa nhâm nhi ly cà phê vừa lướt qua tin tức hàng đầu trên khắp thế giới. Nhưng đi đâu rồi cũng quay về chốn cũ: tin tức hàng đầu ở đâu cũng đều quy về Tổng thống Donald Trump cả! Thành ra, mặc dù ổng không phải là “tổng thống của tôi”, nhưng tôi vẫn cứ phải quan tâm đến nhứt cử nhứt động của ổng. Chẳng phải vì tôi thích hay không thích ổng; chỉ vì ổng đang nắm trong tay “số phận” của bao nhiêu con người kể cả những con người của tương lai, nhưng những gì ổng làm hay ổng tuyên bố thì thường khiến tôi nếu không thấy “đau đầu” thì cũng thấy “lên ruột”. Khi đại dịch bùng nổ, ngày nào tôi cũng theo dõi không biết ổng có bị nhiễm không. Bởi nếu ổng mà có gì thì có nghĩa là thằng tôi cũng không sao thoát khỏi bị mắc “dịch”. Cũng may, nghe nói kết quả xét nghiệm mới đây cho thấy, vì là người “được Chúa tuyển chọn” chăng, ổng chẳng hề hấn gì cả mặc dù đã tiếp xúc bắt tay với những người bị nhiễm “cô vi” (Covid-19).
Tống thống Trump không hề hấn gì, nhưng một cuộc thăm dò mới đây cho thấy có đến hai phần ba dân Mỹ lo sốt vó vì cơn đại dịch toàn cầu này. Và đây có lẽ cũng là nghịch lý lớn nhứt hiện nay: Dân số Mỹ hiện nay đã lên đến 327 triệu người. Vậy mà cho đến nay, trong cơn đại dịch này, chỉ mới có khoảng 11.000 người được xét nghiệm. Tính theo đầu người, đây là tỷ lệ xét nghiệm thấp nhứt thế giới. Hãy thử so sánh với Nam Hàn, một quốc gia với dân số chỉ có 51 triệu người, nhưng hầu như mỗi ngày đều có khoảng 20.000 người được xét nghiệm. Hoa Kỳ và Nam Hàn là hai quốc gia đã loan báo trường hợp bị nhiễm “cô vi” đầu tiên chỉ cách nhau vài tiếng đồng hồ.
So sánh tỷ lệ xét nghiệm trên đây không thể không dẫn đến thắc mắc: tại sao  quốc gia “vĩ đại” nhứt trong các nước văn minh giàu có, nhứt là có nền khoa học tiến bộ nhứt thế giới, lại lẹt đẹt chạy theo đuôi người ta trong việc xét nghiệm khi xảy ra một cơn đại dịch như hiện nay?
Ở cái quốc gia “vĩ đại” này, có nhiều điều thật khó hiểu. Ngày 21 tháng Giêng vừa qua, tức 3 tuần lễ sau khi tin tức đã bùng nổ về việc Covid -19 đã từ Vũ Hán, Trung Cộng, lây lan đi khắp thế giới, ở Mỹ đã thấy có trường hợp bị nhiễm đầu tiên. Ngày 5 tháng Hai, Chính phủ Mỹ đã cho phân phát dụng cụ để xét nghiệm khoảng 1.600 bệnh nhân. Nhưng phải chờ đợi rất lâu mới có kết quả và theo các bác sĩ, kết quả lại không chính xác. Trong khi đó thì việc xét nghiệm riêng tư lại gặp phải tệ nạn bàn giấy. Khi được báo chí hỏi liệu ông có phải chịu trách nhiệm về tình trạng trì trệ này không, tổng thống Trump trả lời dứt khoát: “Tôi không hề chịu trách nhiệm về điều này!”
Mới đây, Tổng thống Trump đã ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc và cho thành lập một hệ thống xét nghiệm tương tự như ở Nam Hàn. Tuy nhiên, ông đảo ngược hoàn toàn những lời tuyên bố trước: cách đây không lâu, ông bảo ai cũng có thể và nên được xét nghiệm. Nay thì ông lại nói: “Chúng tôi không muốn dân chúng ai cũng phải bị xét nghiệm nếu chúng tôi thấy họ không nên làm điều đó”. Các nhân viên y tế Mỹ bị đặt trước một tình thế khó xử khi phải quyết định ai mới cần được xét nghiệm.
Tuần qua, dân chúng Mỹ xôn xao về phí tổn phải trả cho việc xét nghiệm là 3.000 Mỹ kim. Với một hệ thống y tế tốn kém như Mỹ, một phí tổn cao như thế có thể là điều khó tránh khỏi. Thật ra,  trung bình một lần nhập viện khẩn cấp ở Mỹ tốn 2.245 Mỹ kim, đó là chưa kể khi phải ở phòng riêng và được chăm sóc đặc biệt để phòng ngừa Covid-19. Ngoài ra, vì không có khả năng tài chính, muốn được thử nghiệm phải chờ đợi lâu. Hiện nay, có đến một phần ba dân số Mỹ không được trả  lương khi bị bệnh (paid sick leave) và việc xét nghiệm đòi hỏi một thời gian mới có kết quả.
Hạ viện Mỹ, do Đảng Dân Chủ kiểm soát, vừa mới thông qua một dự luật bảo đảm cho mọi người dân được xét nghiệm miễn phí, tăng phụ cấp trong thời gian chữa trị và bảo đảm 14 ngày nghỉ được trả lương cho mọi công nhân. Nhưng số phận của dự luật lại nằm trong tay của Thượng Viện do Đảng Cộng Hòa kiểm soát và dĩ nhiên, nếu được thông qua, dự luật lại còn phải qua cái ải cuối cùng là quyết định của Tổng thống Trump.
Cho tới nay, trên toàn nước Mỹ hiện có khoảng trên bà ngàn trường hợp nhiễm Covid-19 và con số người chết vì dịch bệnh này chỉ mới có khoảng hơn 60 người. Với dân số đông thứ ba trên thế giới, thống kê trên đây có thể  là một con số không đáng kể. Thật ra, những con số trên đây có thể cao hơn rất nhiều, bởi vì ở Mỹ hiện chưa có đủ phương tiện để xét nghiệm và thiếu phương tiện xét nghiệm có nghĩa là không thể biết chính xác con số người bị nhiễm bệnh. Và đây chính là một nghịch lý “vĩ đại” của quốc gia luôn tự hào là “vĩ đại” này.
Các cuộc nghiên cứu được thực hiện khi xảy ra các trận dịch lớn như HIV/AIDS, Ebola, Sars...cho thấy không đầy một phần ba dân Mỹ đặt tin tưởng nơi hệ thống y tế của đất nước họ và người Mỹ đi khám bệnh cũng ít hơn so với người dân của các nước phát triển khác. Không biết có phải vì người Mỹ ít quan tâm đến bệnh tật không? Hay họ còn có những quan tâm khác quan trọng hơn sức khỏe? Nếu họ được khám bịnh miễn phí bất cứ lúc nào và nơi nào trên toàn quốc như những quốc gia phát triển khác thì con số có khác không?
Mới đây, một bản tin từ một thị trấn ở Tiểu bang Missouri cho biết: một thiếu nữ ở Tiểu bang Missouri vừa từ Ý trở về hôm 2 tháng Ba vừa qua. Cô cảm thấy có triệu chứng bị nhiễm bệnh. Các viên chức y tế khuyên cả gia đình cô nên tự cách ly. Cô làm theo lời khuyên. Nhưng cha cô và em gái của cô quyết định chấm dứt việc cách ly để đi tham dự một lớp học nhảy. Một cuộc xét nghiệm đã cho thấy cô thiếu nữ đã bị nhiễm Covid-19 và là người đầu tiên trong Tiểu bang Missouri được xem là bị nhiễm bệnh. Rất có thể qua cha và người em gái của cô, Covid-19 đã lây lan sang nhiều người khác và cứ thế lan rộng ra toàn tiểu bang.
Trên đây chỉ là một trường hợp cá biệt, nhưng nó có thể phản ảnh một khía cạnh sâu xa trong xã hội Mỹ hiện nay: phần lớn sống theo cá nhân chủ nghĩa! Chủ nghĩa này không chỉ chi phối các quan hệ giữa người với người mà còn được thể hiện một cách rõ nét qua khẩu hiệu “Nước Mỹ trước hết” của Tổng thống Trump và của Đảng Cộng Hòa. “Nước Mỹ trước hết” có nghĩa là thế giới xung quanh có sống chết như thế nào cũng mặc kệ, miễn là nước Mỹ vẫn thịnh vượng, hùng mạnh và “vĩ đại”. “Nước Mỹ trước hết” cũng có nghĩa là xung quanh tôi, người ta sống chết như thế nào cũng mặc kệ miễn là tôi vẫn giàu có và khỏe mạnh.
Nghịch lý lớn nhứt của nước Mỹ trong thời Covi không chỉ phô bày khoảng cách ngày càng lớn giữa một quốc gia giàu mạnh, tự phụ là “vĩ đại” và tình trạng dễ bị tổn thương của người dân khi gặp dịch bệnh hay khủng hoảng nói chung. Nghịch lý ấy cũng gợi lên cho tôi nghịch lý lớn nhứt trong cuộc sống: nếu tôi biết ra khỏi cái vỏ ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa của tôi để quan tâm đến người khác thì đó cũng chính là lúc tôi quan tâm đến chính bản thân tôi. Áp dụng vô thực tế, khi chấp nhận tuân theo các lời khuyên của các chuyên gia y tế để giữ gìn một sức khỏe tốt và vệ sinh cần thiết để đối phó với dịch, khi tuân thủ việc tự cách ly khi cần thiết để khỏi lây nhiễm cho người khác...Tôi không những bảo vệ người khác mà còn giúp cho chính tôi giảm bớt những nguy cơ bị tái phát. Suy nghĩ về nghịch lý này, tôi cũng nghe văng vẳng bên tai lời của một trong những nhân vật vĩ đại nhứt trong lịch sử của Kitô Giáo là thánh Phanxicô Assisi: “chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân!”
Cái Tôi trước hết cũng có nghĩa là Cái Tôi phải sau hết!













Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2020

Xã hội chủ nghĩa không còn là một từ “bẩn” tại Hoa Kỳ



Edward Castleton
                                                                                   Chu Văn chuyển ngữ


Trong cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ tối Thứ Tư (19/2/2020) vừa qua tại  Las Vegas, Bernie Sanders đã  được hỏi về một cuộc thăm dò dư luận theo đó hai phần ba cử tri “sẽ không cảm thấy thoải mái với một ứng cử viên tổng thống theo xã hội chủ nghĩa”. Thượng nghị sĩ này đã trả lời: “Trong nhiều phương diện, ngày nay chúng ta đang là một xã hội xã hội chủ nghĩa. Khi Donald Trump kiếm được 800 triệu Mỹ kim từ việc trốn thuế và phụ cấp để xây những chung cư sang trọng, đó là xã hội chủ nghĩa cho người giàu. Chúng ta cần phải phụ cấp cho các công nhân của Walmart hiện đang sống nhờ Trợ cấp Y tế (Medicaid) và tem phiếu thực phẩm (food stamps), bởi vì những gia đình giàu có nhất tại Mỹ đang trả cho công nhân của họ đồng lương chết đói. Đó là xã hội chủ nghĩa cho người giàu. Tôi tin ở xã hội chủ nghĩa Dân Chủ cho công nhân”.
Sự say mê đối với xã hội chủ nghĩa trong Đảng Dân Chủ Mỹ bắt nguồn từ đâu? Điều gì đã thay đổi và liệu các cử tri khác có thể được thuyết phục rằng họ cũng sẽ được hưởng lợi không?
Bill Gates nghĩ rằng sự say mê đối với Thượng nghị sĩ Bernie Sanders thuộc Đảng Dân Chủ hay dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez không nên làm cho giới doanh nghiệp giàu có phải lo lắng, bởi vì “xã hội chủ nghĩa” của họ chỉ cho thấy rằng một số người Mỹ muốn tăng thuế nhưng không hề muốn hủy bỏ chủ nghĩa tư bản. Trong một cuộc phỏng vấn trên Đài CNBC hôm mùng Sáu  tháng Năm 2019 vừa qua, ông Gates nói rằng ngay cả ông, dù là người giàu thứ nhì tại Hoa Kỳ, cũng ủng hộ một chính sách thuế thu nhập cấp tiến hơn cũng như gia tăng thuế đánh trên tài sản được thừa hưởng (Đây là loại thuế đã được tổng thống Trump giảm xuống gần như số không).
Warren Buffett, người giàu thứ ba tại Mỹ, đã không ngừng chỉ trích sự bất công trong hệ thống thuế khóa của Mỹ. Theo hệ thống này, ông tương đối đóng thuế ít hơn người giúp việc nhà hay người trực điện thoại cho ông. Chuyện người giàu bị lương tâm cắn rứt có thể không phải là điều mới mẻ. Nhưng tâm trạng vừa lo âu vừa muốn làm từ thiện của những người “siêu” giàu tại Mỹ khác với mối quan tâm về thần học của những người La Mã giàu có vào thời thánh Augustinô (354-430). Những người này được thu hút bởi cuộc sống mai hậu do  Kitô Giáo hứa hẹn và hy vọng nhờ sự hoán cải có thể bảo vệ được linh hồn của mình trong một tương lai bên kia thế giới này.
Tuy nhiên những lời tuyên bố mới đây của ông Gates và những người khác không những bộc bạch thiện chí của họ mà còn cho thấy một bối cảnh chính trị cấp tiến hơn. Sanders, Ocasio-Cortez và các đồng minh của họ, những người tự xưng là “xã hội chủ nghĩa dân chủ”, không hề đòi hỏi phải quốc hữu hóa những lãnh vực chính của nền kinh tế Mỹ. Sở dĩ chiến dịch của ông Sanders trong các cuộc bầu cử sơ bộ hồi năm 2016 được nhiều người ủng hộ là bởi vì ông đã chỉ trích tiền học phí quá cao trong các đại học Mỹ cũng như những tốn phí ngút ngàn của việc chăm sóc y tế. Nếu học phí là nguyên nhân tạo ra nỗi lo lắng cho giới trung lưu thì phí tổn y tế ảnh hưởng đến mọi người trừ người giàu có.
Những vấn đề trên đây không hề bắt nguồn từ xã hội chủ nghĩa của thời xa xưa, vốn gắn liền với giới công nhân lắp ráp trong các kỹ nghệ giây chuyền. Một cách nào đó, xã hội chủ nghĩa đã thay đổi trong kỷ nguyên được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng môi sinh do con người tạo ra. Những người tranh đấu đang tập họp xung quanh ông Sanders không hề say mê hình ảnh của ống khói của các nhà máy. Họ cũng chẳng giới hạn những nguyện vọng của họ vào việc làm toàn phần hay sự độc lập về năng lượng mà việc xẻ đá lấy dầu (fracking) hay mở lại các mỏ than có thể mang lại. Đây là điều mà ông Trump và những đồng minh bảo hộ mậu dịch của ông, những người rất muốn mang về Mỹ mọi hệ thống sản xuất giây chuyền, hứa hẹn.
Đó đây bên trong Đảng Dân Chủ, người ta có thể nghe vọng lại những đòi hỏi của xã hội chủ nghĩa trước kia. Chẳng hạn những lời tuyên bố của Thượng nghị sĩ Elizabeth Warren. Bà này đề nghị nên cho công nhân được đại diện trong ban lãnh đạo của các công ty lớn. Ngay cả những ứng cử viên ôn hòa hơn trong các cuộc bầu cử sơ bộ năm 2020 như ông Pete Buttigieg, cũng đã nhìn nhận rằng sự say mê hiện nay của nhiều người đối với “xã hội chủ nghĩa” bắt nguồn từ sự kiện “chủ nghĩa tư bản đã làm cho nhiều người thất vọng”. Đây là lý do giải thích tại sao các cử tri Dân Chủ có một cái nhìn tích cực về xã hội chủ nghĩa hơn là tư bản chủ nghĩa (có tới 57 phần trăm cử tri dân chủ ủng hộ xã hội chủ nghĩa). Mặc dù đa số cử tri Mỹ (57 phần trăm) chọn tư bản chủ nghĩa, nhưng sự hấp dẫn của chủ nghĩa này hiện đang suy giảm. Lâu nay các nhà khoa học xã hội và các sử gia vẫn cho rằng sở dĩ chính trường Mỹ có một sắc thái đặc biệt là bởi vì vắng bóng xã hội chủ nghĩa.
Qua các tác phẩm vốn đã từng được đưa vào chương trình học của môn chính trị học ở cấp đại học, Seymour Martin Lipset (1922-2006) đã tìm cách giải thích tại sao những ý tưởng xã hội chủ nghĩa đã đi vào chính trị trên khắp Âu Châu mà không hề có tại Hoa Kỳ. Theo ông, sở dĩ như thế là do bản chất của hệ thống chính trị Mỹ (sự thống trị của 2 Đảng chính, những cuộc bầu cử chỉ có một vòng (first past the post), cử tri đoàn có giá trị hơn lá phiếu phổ thông). Cũng theo tác giả Lipset, sở dĩ ở Mỹ không có xã hội chủ nghĩa là vì tính không đồng chủng của giai cấp công nhân, vốn không ngừng đổi mới theo từng đợt di dân. Tác giả cũng cho rằng sở dĩ xã hội chủ nghĩa không có mặt tại Hoa Kỳ là vì sự vắng bóng của một liên minh bền vững giữa các đảng chính trị và các nghiệp đoàn. Cuối cùng, theo tác giả, về mặt văn hóa, người  Mỹ gắn bó với những giá trị cá nhân, tức những giá trị không hợp với những ý tưởng và cương lĩnh xã hội chủ nghĩa.
Tác giả Lipset đã chịu ảnh hưởng của một cuộc nghiên cứu của triết gia Max Weber và một nhà xã hội học đương thời của ông là ông Werner Sombart. Tác phẩm có tựa đề “Tại sao không có xã hội chủ nghĩa tại Hoa Kỳ?” (Why is there no socialism in the United States) đã được xuất bản năm 1906. Sombart là người rất tinh thông về các tác phẩm viết về kinh tế của Karl Marx và đồng thời rất có thiện cảm với Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức. Ông nghiên cứu về những hình thức khác nhau của tính hiện đại trong các xã hội tư bản. Sombart kết luận rằng ngay cả khi tư bản chủ nghĩa đạt đến cao trào trong xã hội Mỹ đi nữa, xã hội này cũng khác biệt với những xã hội Âu Châu cùng thời kỳ, bởi vì nó thù nghịch với xã hội chủ nghĩa. Và sở dĩ xã hội Mỹ thù nghịch xã hội chủ nghĩa là vì giai cấp công nhân của nó thích được “trưởng giả hóa”.  Theo tác giả Sombart, giới công nhân Mỹ không chống lại tư bản chủ nghĩa hay chính phủ của họ và sẵn sàng thích nghi với một hệ thống chính trị vốn ưu đãi sự thống trị của lưỡng đảng, mặc dù rõ ràng hệ thống này đã không thể hiện quyền lợi của giai cấp họ. Công nhân Mỹ giàu có hơn công nhân Âu Châu và có thể thăng tiến hơn nhờ cật lực làm việc.
Trong đoạn nổi tiếng nhất của ông, tác giả Sombart viết: “Nhờ tình trạng kinh tế được cải thiện và mức sống gia tăng, người lao động trung bình có cơ hội trải qua những cơn cám dỗ của sự đồi bại từ chủ nghĩa duy vật. Chính vì vậy mà họ thấy cần phải học để yêu thích hệ thống kinh tế vốn đã nhào nặn nên số phận của họ. Họ phải học cách dần dần thích nghi não trạng của mình với cơ chế đặc thù của một nền kinh tế tư bản và cuối cùng cũng đành phải đầu hàng trước tác động không thể cưỡng chế được do  sự thay đổi nhanh chóng và sức mạnh ngày càng gia tăng của thời kỳ lạ lùng này. Được luồng khí ái quốc tác động, người lao động cảm thấy hãnh diện vì Hoa Kỳ đã lãnh đạo tất cả mọi quốc gia khác trên con đường tiến bộ; não trạng duy doanh nghiệp được hình thành và biến họ thành một doanh gia cần kiệm, biết tính toán và chẳng màng đến những lý tưởng như ta đang thấy hiện nay. Tất cả những ảo tưởng của Xã hội Chủ nghĩa chỉ là con số không so với thịt bò bít tếch và chiếc bánh táo”.
Tác giả Sombart cũng chỉ ra khả năng di động về mặt địa lý tại Hoa Kỳ vốn không hề có tại Âu Châu. Một biên giới mở cửa hứa hẹn đất đai trù phú và rẻ mạt, đã mang lại cho những ai bất mãn vì cuộc sống khó khăn trong các thành phố kỹ nghệ niềm hy vọng có thể đạt được “Giấc Mơ Mỹ” là có cuộc sống tự trị nhờ sở hữu được đất đai ở thôn quê.
Theo Sombart, người công nhân Mỹ, chính vì khao khát rời bỏ giai cấp của họ cho nên không thể hiểu rằng phúc lợi cá nhân được cải thiện và hành động tập thể là hai điều có thể hòa hợp với nhau. Những người kế vị tác giả Sombart như Lipset chẳng hạn, đã nhấn mạnh đến vai trò của di dân khiến cho việc thành lập một giai cấp công nhân trở thành khó khăn. Các công nhân đến Mỹ từ nước ngoài vào đầu Thế kỷ 20 vẫn xem tình trạng của họ như tạm bợ. Mục tiêu của họ là kiếm được thật nhiều tiền để có thể trở về quê quán của mình. Cũng trong thời kỳ đó, di dân cũng khiến cho bất cứ một liên minh nào giữa các công nhân có tay nghề (thường là những người sinh trưởng tại Mỹ) và những công nhân không có tay nghề (thường là những người đến từ nước ngoài) trở nên khó khăn. Các công nhân đến từ nước ngoài là những người có óc thực tiễn hơn đối với thị trường lao động và cũng ít đòi hỏi hơn về những điều kiện làm việc. Các công nhân đến từ nước ngoài có khuynh hướng muốn hòa nhập vào các cộng đồng sắc tộc của họ tại các thành phố hơn là quan tâm đến quy chế lao động của họ. Thành ra rất khó thuyết phục họ về vấn đề giai cấp.
Tác giả Sombart cũng ghi nhận sự hội nhập dân sự tương đối cao tại Mỹ. Có thể đây là lý do giải thích tại sao ở Mỹ không hề có ý thức về giai cấp công nhân, bởi vì không như ở Âu Châu, kể từ năm 1792, tại Mỹ nam cử tri da trắng đã dần dần hội nhập vào đời sống chính trị trước khi điều đó được ghi khắc trong hiến pháp năm 1856. Tác giả Louis Hartz, một chuyên gia về chính trị hậu chiến, cho rằng sở dĩ người Mỹ ít có ý thức về giai cấp công nhân là bởi vì tại Mỹ không hề có chế độ phong kiến, không có  giới tiểu thương và tiểu công nghệ cũng như không có bất kỳ một cuộc cách mạng nào do giới trưởng giả lãnh đạo để lật đổ cấp lãnh đạo bảo thủ của một xã hội truyền thống. Một người đương thời của tác giả Hartz là ông Richard Hofstadter, khẳng định rằng thay vì chạy theo các ý thức hệ, Hoa Kỳ đã có một ý thức hệ riêng cho mình.
Tuy nhiên, giữa thời kỳ tác giả Sombart cho xuất bản cuộc nghiên cứu của ông và năm Đệ nhất Thế chiến kết thúc,  Hoa Kỳ đã từng có một  đảng xã hội vững mạnh dưới sự lãnh đạo của ông Eugene Victor Debs. Năm 1910, Hoa Kỳ đã có nhiều viên chức theo xã hội chủ nghĩa không kém gì việc Vương quốc Anh thống nhất đã bầu chọn các đảng viên của Đảng Lao Động. Năm 1912, các đảng viên xã hội đã nắm giữ quyền hành tại nhiều thị trấn, nhất là tại một số tiểu bang như Wisconsin, Michigan, New York và California. Ông Debs đã chiếm được 6 phần trăm phiếu phổ thông trong cuộc bầu cử tổng thống và Đảng của ông đã đạt được nhiều kết quả ngoạn mục không những tại các tiểu bang như Wisconsin và New York, mà còn cả tại những tiểu bang thôn quê ở miền Nam như Oklahoma, Arkansas, Texas và Louisiana.
Tuy nhiên những chiến thắng trên đây đã không kéo dài. Sau khi Hoa Kỳ tham chiến, ông Debs và nhiều lãnh tụ xã hội khác là những người đã chống lại sự can thiệp của Mỹ, đã bị giam tù. Cuộc Cách Mạng Nga đã tạo ra nhiều căng thẳng về ý thức hệ trong nội bộ của một Đảng vốn đã yếu kém vì sự đàn áp của chính phủ, bởi vì thứ xã hội chủ nghĩa của  phần lớn đảng viên xã hội Mỹ được cảm ứng từ Tin Mừng của Kitô Giáo và Phong trào Bình dân chống lại độc quyền hơn là từ các tác phẩm của Marx và Lenin.
Nhiều quan sát viên tin rằng  ông Bernie Sanders đã thành công trong các cuộc bầu cử sơ bộ hồi năm 2016 và hiện đang tiếp tục thu hút nhiều người là bởi chiến dịch của ông đã được khuấy  động từ bên trong một đảng đã vững mạnh, với hy vọng có thể thay đổi định hướng chính trị của đảng. Ứng cử viên độc lập Ralph Nader và ứng cử viên xã hội Debs đã  không thành công trong việc xâm nhập vào cơ chế chính trị. Nhưng sở dĩ ông Sanders thành công là bởi vì thời kỳ thăng tiến xã hội kéo dài trong 40 năm qua đã chấm dứt. Đây là thời kỳ mà tác giả Sombart tin rằng đã khiến cho người Mỹ thù ghét xã hội chủ nghĩa. Thuốc chủng chống xã hội chủ nghĩa của việc “trưởng giả hóa” không còn tác động như cách đây  một thế hệ.
Tác giả Lipset tưởng tượng rằng tính “dị thường” của Hoa Kỳ sẽ biến mất với việc các đảng tả phái của Âu Châu chuyển sang hữu phái. Xuyên qua việc tư hữu hóa và các cuộc cải cách để tự do hóa thị trường, các đảng tả phái của Âu Châu cũng sẽ giống như Đảng Dân Chủ của cựu tổng thống Bill Clinton. Ông Lipset đã không bao giờ tưởng tượng được rằng một ngày nào đó các thế hệ trẻ hơn sẽ tự xem mình như những người theo xã hội chủ nghĩa hoặc những người tranh đấu cho Đảng Dân Chủ chạy theo ông Sanders bởi vì họ cảm thấy bị bỏ rơi bởi một Đảng dưới thời ông Barack Obama sau cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008, đã thực hiện một cuộc chuyển giao tài sản cho người giàu chưa từng có trong lịch sử Mỹ.
Những người theo xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Mỹ thường tìm cách xác định lại giai cấp công nhân không dựa trên mối tương quan với kỹ nghệ và sản xuất cho bằng với kỹ thuật và lãnh vực dịch vụ, bất kể màu da của người lãnh lương. Họ tự cho là đại diện cho các giáo viên, y tá, người quét dọn hay nhân viên trong các tiệm ăn: tất cả đều (là giai cấp công nhân) có cùng một quy chế riêng biệt như những người theo xã hội chủ nghĩa trước kia đã dành cho các nam công nhân da trắng trong các hầm mỏ, xưởng thợ và nhà máy sắt.
Hiện tại, hầu hết những người tranh đấu thuộc cánh tả trong Đảng Dân Chủ đều là giới trẻ thuộc giai cấp trung lưu. Họ đang lo lắng cho sự xuống cấp xã hội của họ. Liệu khuynh hướng chính trị cực đoan của họ có thu hút được những nhóm kinh tế-xã hội khác không? Đây là những nhóm đã từng chạy theo các chính trị gia như ông Debs, nhưng nay lại bị lung lay bởi chính sách mỵ dân của ông Trump. Liệu những người theo xã hội chủ nghĩa hiện nay có thể thu hút được những người Mỹ không sống trong cùng một khu phố, thị trấn, liên bang hay vùng miền như họ không?


(Theo Edward Castleton, “Socialism no longer a dirty word in America”,  Le Monder Diplomatique 21/02/2020.
Edward Castleton là một sử gia và đồng tác giả của cuốn sách “Quand les socialistes inventaint l’ avenir 1825-1860” (khi những người theo xã hội chủ nghĩa phát minh ra tương lai)