Thứ Ba, 2 tháng 2, 2021

Chiến đấu cho Sự Thật bằng cách phơi bày “tin giả”

 


Chu Văn

Từ cứ địa Mar-a-Lago, cựu Tổng thống Donald Trump vẫn tiếp tục tạo được một ảnh hưởng xem ra không chút suy suyển trên những người ủng hộ ông. Ông vẫn tuyên bố dứt khoát rằng cuộc bầu cử tổng thống vừa qua là một cuộc bầu cử gian lận và “ngai” tổng thống lẽ ra đã thuộc về ông, nhưng bị đảng dân chủ đánh cắp. Những người ủng hộ ông tin lời của ông hơn cả Kinh Tin Kính của nhà đạo của tôi. Không những thế, nhiều người, cách riêng những người đồng đạo của tôi, tin như đinh đóng cột rằng chính ma quỷ là kẻ dấu mặt đàng sau vụ gian lận và đánh cắp này.

Mỗi ngày, từ hai tháng qua, một vị linh mục công giáo thuộc Giáo phận Madison, Tiểu bang Wisconsin, đã liên tục thực hiện điều mà nhà đạo của tôi gọi là “nghi thức trừ quỷ” để gọi là khử trừ ma quỷ ra khỏi cuộc gian lận bầu cử. Vị linh mục này tên là John Zuhisdorf, thường được biết với tên gọi là “cha Z” trên trang Blog của ông. Ông nói rằng mục đích của ông là để bảo vệ “chống lại ảnh hưởng của ma quỷ trong tiến trình chứng nhận kết quả bầu cử” và “bảo vệ những người đếm phiếu khỏi bị ma quỷ cám dỗ để gian lận”. Trên Blog của ông, vị linh mục này cũng kêu gọi những người đồng nghiệp của ông hãy theo gương ông để “bảo vệ Sự Thật về Ngày Bầu cử”. Ông cho biết luôn “cầu nguyện bởi vì Joe Biden, một người Công giáo, chắc chắn biết rằng điều gì đã xảy ra khi bỏ phiếu”. Ông cầu xin “Thiên thần bản mệnh gìn giữ ông (Biden) khỏi bị ảnh hưởng của ma quỷ và vì phần rỗi linh hồn của ông, hãy vì Sự Thật và công ích mà chấp nhận thua cuộc bầu cử”. Vị linh mục này cho rằng ở tuổi 78, ông Biden là một người gần đất xa trời, cho nên hãy chuẩn bị ra trước Tòa Chúa để chịu phán xét, bởi vì “tham gia vào một sự dối trá khủng khiếp như thế là một tội trọng”.

Blog của “cha Z” là một trong những trang mạng công giáo được đọc nhiều nhứt. Theo báo The Tablet xuất bản tại Anh quốc, từ nhiều năm qua, đã có hàng chục triệu người say mê đọc Blog của vị linh mục này. Kêu gọi tranh đấu cho Sự Thật, nhưng mới đây hoạt động “trừ quỷ” của cha Z đã được phơi bày ra ánh sáng. Ông luôn luôn khẳng định rằng ông được phép và nhân danh Giám mục giáo phận Madison để thực hiện nghi thức trừ quỷ. Nhưng giám mục của giáo phận này thông báo rằng ông không hề cho phép linh mục Zuhisdorf làm điều này. Bị bại lộ, linh mục Zuhisdorf đã tự ý xin ra khỏi giáo phận để tìm một nơi dụng võ mới (1).

Là một tín hữu Kitô, tôi được dạy dỗ và lớn lên với 2 nỗi sợ: kính sợ Thiên Chúa và sợ ma quỷ. Ít hay nhiều, với tuổi đời, niềm kính sợ Thiên Chúa trong tôi lùi bước để nhường chỗ cho lòng yêu mến. Nhưng sự sợ hãi đối với ma quỷ thì xem ra vẫn còn đó. Tôi sợ ma quỷ bởi vì tôi sợ sa hỏa ngục.

Thật ra, hỏa ngục bên kia cõi chết như thế nào thì tôi chưa mường tượng được, nhưng qua kinh nghiệm bản thân cũng như từ những gì nghe thấy hay đọc được trong lịch sử loài người và cuộc sống hàng ngày, tôi cho rằng hỏa ngục trần gian là điều có thật. Tôi chưa từng thấy bóng dáng của ma quỷ. Tôi cũng chưa từng thấy người bị quỷ ám như thế nào và tôi cũng chưa từng chứng kiến một cuộc trừ quỷ nào. Tuy nhiên, cuộc chiến dai dẳng giữa thiện và ác trong chính bản thân tôi và vô số tội ác mà tôi nghe được hay tận mắt chứng kiến nói với tôi rằng có những sức mạnh tăm tối đang hoạt động và lôi kéo con người vào hận thù, chia rẽ và  chết chóc. Dung mạo của những tên quỷ sứ đen thui lui có sừng, có đuôi mà trí tưởng tượng của tuổi thơ của tôi cũng như của mẹ tôi đã từng vẽ ra đã hoàn toàn mờ nhạt trong tâm tưởng của tôi. Tôi không thể định hình được ma quỷ. Tôi cũng chẳng tưởng tượng được nó như thế nào. Nhưng tôi vẫn cảm nhận được những sức mạnh tăm tối và bí hiểm đang hoạt động trong thế giới này. Câu hỏi mà tôi thường tự đặt ra cho mình là: ma quỷ hay Satan hoạt động như thế nào?

Mới đây, trên báo đài mạng “Thông tấn xã công giáo Việt Nam” hay gọi tắt là VietCatholic News, một trong những cơ quan truyền thông của người công giáo hải ngoại ủng hộ cựu Tổng thống Donald Trump một cách cuồng nhiệt, tôi có đọc được một truyện ngắn có tựa đề “Quỷ sứ đã đến dự thánh lễ cuối tuần này” (The Devil comes to Mass this weekend) của một giáo sư thần học giảng dạy tại một học viện công giáo bên Mỹ tên là Edward J. Barr (2).

Theo câu chuyện, tên quỷ sứ hóa thân thành một khách lạ và vào một nhà thờ nhân một buổi chiều cuối tuần. Tại đây, quỷ sứ đã gặp gỡ và trò chuyện với vị linh mục quản xứ. Vị linh mục cho biết từ nhiều tháng qua, vì đại dịch Covid-19, các đức giám mục đã ra lệnh phải đóng cửa các nhà thờ: không có thánh lễ đã đành, mà các nghi thức thường được gọi là “bí tích” cũng không được cử hành. Vị linh mục cũng cho biết chính Đức giáo hoàng là người cũng xem trọng sức khỏe thể lý và sự an toàn của con người cho nên cũng ra lệnh tạm ngưng các thánh lễ có giáo dân tham dự.

Nghe đến đây, quỷ sứ mở cờ trong bụng. Nó nói với vị linh mục: “Tôi tưởng tôi có một số việc phải làm, nhưng giờ đây tôi thấy rằng công việc của tôi đã hoàn tất”.

Dụng ý của tác giả trong truyện ngắn trên đây và dĩ nhiên cũng của VietCatholic, thật rõ ràng: đóng cửa nhà thờ trong thời đại dịch là rơi vào cạm bẫy của quỷ Satan. Quỷ Satan chỉ mong có thế. Như vậy, chắc hẳn quỷ Satan rất “căm” cựu Tổng thống Donald Trump, bởi vì mặc cho siêu vi Covid-19 có giết hại hàng trăm ngàn người, ông vẫn chống lại các biện pháp phòng chống dịch bệnh được các chuyên gia y tế đề ra như đeo khẩu trang, giãn cách xã hội và hạn chế tập trung đông người, và ủng hộ việc mở cửa các nơi thờ phượng. Chủ trương như thế, Tổng thống Trump, người được Thiên Chúa “tuyển chọn” quả là người tín hữu “mẫu mực” dám chống lại quỷ Satan, bởi vì nó chỉ muốn mỗi một điều là đóng của các nhà thờ!

Truyện ngắn của tác giả Edward J. Barr, được Vietcatholic News, một trong những cái loa tuyên truyền của cựu Tổng thống Trump quảng bá, buộc tôi phải tự đặt ra cho mình câu hỏi: đâu là ưu tiên hàng đầu của quỷ Satan trong hoạt động “cám dỗ” của nó?

Ngay từ trang đầu tiên, quyển Kinh Thánh của Do thái và Kitô giáo đã nhận diện được quỷ Satan: Satan là kẻ Dối Trá. Với câu chuyện sa ngã của ông bà nguyên tổ loài người, dường như Kinh Thánh muốn nói rằng tất cả mọi thảm họa của loài người đều bắt nguồn từ Dối Trá. Nhớ lại thảm họa Đức Quốc Xã trong thời Đệ nhị thế chiến, tài tử Arnold Schwarzenegger đã khẳng định: “Tất cả đều khởi đầu bằng dối trá và dối trá và dối trá” (3). Rập theo khuôn của đồ tể Hitler, tất cả các chế độ độc tài cộng sản cũng như quân phiệt đều “cướp” chính quyền bằng dối trá và cai trị bằng dối trá. Hoa Kỳ, một quốc gia đã có nền dân chủ mẫu mực và lâu đời nhứt thế giới suýt rơi vào độc tài cũng bằng những lời dối trá. Chỉ trong 4 năm cầm quyền, cựu tổng thống Trump đã nói dối trên 30 ngàn lần. Và lời “dối trá về gian lận và đánh cắp” bầu cử của ông đã tạo ra bạo loạn chết người ngay trong chính cơ quan được xem là biểu tượng cao nhứt về sức mạnh của nền dân chủ Hoa Kỳ. Và mặc dù ông đã bị các công ty mạng xã hội như Twitter, Facebook, YouTube...vĩnh viễn bịt miệng, lời dối trá cuối cùng của ông vẫn còn tác động trên vô số những tín đồ của ông, những người vẫn tiếp tục tin ở những lời dối trá và thuyết âm mưu hơn là sự thật. Sức mạnh của những lời dối trá của ông Trump mãnh liệt đến độ kích động được quân đội Miến Điện để họ cũng tung ra cùng một luận điệu về “gian lận” bầu cử để thực hiện cuộc đảo chính và bắt giam các nhà lãnh đạo dân cử.

“Tất cả đều bắt đầu bằng dối trá và dối trá và dối trá”. Tôi đọc được điều đó ngay từ trang đầu tiên của Kinh Thánh. Kinh Thánh đã nhận diện được quỷ Satan là kẻ Dối Trá. Kinh Thánh cũng khẳng định rằng quỷ Satan là “Cha đẻ của mọi  Dối Trá” (John 8: 44 , King James Version). Là một con người như mọi người, nghĩa là cũng đã từng bị ma quỷ cám dỗ, chính Chúa Giêsu đã cảnh cáo tôi: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra” (Mt 5, 37).

Là một người công giáo, tôi thường lắng nghe những lời khuyên dạy của Đức giáo hoàng. Theo truyền thống đã có từ năm 1967, mỗi năm Giáo hội Công giáo dành một ngày để cử hành Ngày Truyền Thông Thế Giới. Năm nay, ngày này sẽ rơi vào ngày 13 tháng Năm tới đây. Trong thông điệp gởi cho các tín hữu nhân dịp này, Đức Phanxicô kêu gọi họ hãy “làm chứng cho Sự Thật bằng cách phơi bày những “tin giả”. Trong thời gian gần đây, nhà lãnh đạo tôn giáo này đã nhiều lần là nạn nhân của tin giả. Mới nhứt có tin: nhân một vụ cúp điện trong điện Vatican, cảnh sát Ý đã đột nhập vào bên trong và bắt giữ Đức Phanxicô. Dù chỉ là một “tin giả” nhưng tin này đã được phát tán rộng rãi trên hệ thống thông tin toàn cầu và được rất nhiều người tin (4).

“Làm chứng cho Sự Thật bằng cách phơi bày những “tin giả”. Tôi không biết mình có thể thi hành được sứ mệnh này không. Ai đó đã nói một cách thật chí lý: lừa người khác thì dễ, nhưng rất khó để thuyết phục họ rằng họ đã bị lừa. Chưa bao giờ “tin giả” tràn ngập và bao trùm thế giới như ngày nay và cũng chưa bao giờ loài người tin ở “tin giả” hơn là Sự Thật cho bằng ngày nay.

Tôi biết tôi không thể thuyết phục được những người chạy theo “tin giả”. Ngay trong tôi lúc nào cũng đang diễn ra cuộc chiến giữa Sự Thật và Dối Trá. Tôi tin rằng bao lâu tôi luôn đi tìm Sự Thật, chia sẻ Sự Thật, lên tiếng cho Sự Thật, sống cho Sự Thật...đó chính là lúc tôi chiến đấu chống lại “tin giả”.

 

Nguồn

 

1.                                        https://slate.com/news-and-politics/2021/01/father-z-election-fraud-exorcism.html

2.                                        https://romalocutaest.com/2021/01/12/the-devil-came-to-mass-this-weekend/

3.                                        https://www.thelondoneconomic.com/politics/arnold-schwarzenegger-posts-deeply-personal-statement-on-trump-and-capitol-riots/10/01/

4.                                        https://www.catholicnewsagency.com/news/pope-francis-world-communications-day-message-witness-to-the-truth-by-exposing-fake-news-99921

 

 

 

Thứ Bảy, 16 tháng 1, 2021

Một nửa sự thật...là dối trá




https://m.youtube.com/watch?v=hxoMpOpuXgI

Chu Văn

Trên báo mạng news.com.au, một ký giả Úc đã gọi những kẻ gây bạo loạn chết người trong tòa nhà Quốc Hội liên bang của Hoa Kỳ hôm thứ Tư mùng Sáu tháng Giêng vừa qua là những người mắc bệnh tâm thần tập thể. Mở đầu bài bình luận, tác giả viết: “Gậy gộc và đá có thể đập vỡ xương của bạn...nhưng những lời nói có thể kích động bạn sử dụng chúng”(1).

Đã quá rõ ràng là cuộc bạo loạn không phải là một hiện tượng “quần chúng tự phát” như mấy ông bà cộng sản Việt Nam thường nói đến mỗi khi kích động những hành vi bạo động chống lại những ai dám lên tiếng chống lại chế độ. Diễn tiến của sự kiện cho thấy chính những lời dối trá và xách động của Tổng thống Donald Trump đã lôi kéo những người ủng hộ ông lao vào cuộc bạo loạn.

Kể từ khi nổ ra những cuộc khủng bố do những nhóm Hồi giáo cực đoan chủ xướng, người ta thường nói đến hiện tượng “cực đoan hóa”. Nay, với những gì đã và đang xảy ra tại Hoa Kỳ kể từ khi ông Trump bước vào Tòa Bạch Ốc, chưa bao giờ người ta thấy có nhiều người Mỹ và ngay cả rất đông người Việt Nam bị “cực đoan hóa” đến thế.

Thật ra, lịch sử đẫm máu của thế giới lúc nào cũng được viết bằng những lời dối trá dẫn đến cực đoan hóa.

Hôm chúa nhựt mùng Chín tháng Giêng vừa qua, trong một băng hình ghi lại tuyên ngôn của ông, tài tử Arnold Schwarzenegger, người cũng đã từng là thống đốc thuộc Đảng Cộng Hòa tại tiểu bang California, đã so sánh cuộc bạo loạn do Tổng thống Trump kích động với Đêm đập vỡ kính (Kristallnacht) tại Đức. Trong đêm mùng 7 tháng Mười Một năm 1938, do sự kích động của đồ tể Hitler, dân chúng Đức đã đổ xô đi đập phá các cửa tiệm và nhà ở của người Do Thái. Hành động bạo loạn này là màn giáo đầu cho cuộc diệt chủng sát hại 6 triệu người Do Thái và gây ra vô vàn đau thương tang tóc cho toàn thế giới trong suốt Đệ nhị Thế chiến.

Nhắc đến sự kiện này trong tuyên ngôn của ông, ông Schwarzenegger gợi lại bi kịch mà chính thân phụ của ông và nhiều người láng giềng của thân phụ ông đã trải qua sau khi Đức bại trận. Nghe theo những lời dối trá của Hitler, thân phụ của người tài tử nổi tiếng này và những người láng giềng đã tham gia vào cuộc chiến khốc liệt và nhứt là trực tiếp hay gián tiếp can dự vào việc sát hại người Do Thái. Sau cuộc chiến, bị dằn vặt vì tội ác của mình, cha ông và những người láng giềng chỉ biết hành hạ vợ con và mượn rượu để quên đi cơn ác mộng.

Người đã từng đảm nhiệm 2 nhiệm kỳ thống đốc Tiểu bang California giải thích rằng cha ông cũng như những người láng giềng của ông không phải là những người có chủ trương bài Do Thái hoặc theo Đức Quốc Xã. Nhưng chỉ vì bị mê hoặc bởi những lời dối trá của Hitler mà họ đã nhắm mắt lao vào con đường tội ác.

Tài tử Schwarzenegger khẳng định: “Tất cả đã bắt đầu bằng những dối trá và dối trá và dối trá và bất khoan nhượng” (2).

Có một chi tiết nhỏ đáng chú ý trong tuyên ngôn của ông Schwarzenegger. Ông cho biết: ông là một người công giáo. Lúc nhỏ, ông đã đến nhà thờ, học giáo lý, đọc Kinh Thánh. Và từ những gì đã học hỏi được, ông vẫn nhớ mãi một câu. Đó là phải có trái tim của người đầy tớ (a servant’s heart), nghĩa là phục vụ. Phục vụ với trái tim của người đầy tớ chính là vị tha và quên mình. Người ích kỷ và tận cùng của ích kỷ là ái kỷ là người chỉ nghĩ đến mình và tự vẽ lên đầu mình một thứ hào quang được dệt toàn bằng những lời dối trá. Tổng thống Trump là một người như thế. Ở cuối một nhiệm kỳ chỉ biết nói dối, lời nói dối cuối cùng đã lôi kéo bao nhiêu người vào bạo loạn chính là khư khư  bảo rằng cuộc bầu cử đã bị đánh cướp vì gian lận. Trong hơn 2 tháng vừa qua, không biết bao nhiêu người đã sẵn sàng tham gia vào bạo loạn và  chết cho ông vì lời nói dối ấy. Và ngay cả sau khi ông Trump rời Tòa Bạch Ốc, nếu lời nói dối này không được rút lại thì xã hội Mỹ sẽ mãi mãi bất ổn vì bạo loạn.

Danh nghĩa “công giáo” mà ông Schwarzenegger nhắc đến trong bài nói chuyện của ông, đặt vào trong bối cảnh của cuộc bạo loạn do những lời dối trá của Tổng thống Trump gây ra, khiến tôi phải tự vấn lương tâm: thế nào là “công giáo”? Tôi tự nêu lên câu hỏi này bởi vì “công giáo” là một danh xưng dễ bị lạm xưng.

Tôi nhớ: liền sau khi những người cộng sản xâm chiếm Miền Nam, tất cả mọi tờ báo độc lập và tư nhân đều bị đóng cửa, ngoại trừ một vài tờ vì muốn “kiếm ăn” theo đúng nghĩa “quốc doanh” đã bán mình để trở thành công cụ tuyên truyền của chế độ. Một trong những tờ báo đó là “Công giáo và Dân tộc” do một số linh mục và giáo dân thành lập trước năm 1975. Là cổng duy nhứt để người công giáo còn có thể theo dõi các sinh hoạt của Giáo hội đó đây, “Công giáo và Dân tộc” nghiễm nhiên độc quyền thông tin về Giáo Hội. Nhưng bên cạnh và đằng sau “một nửa sự thật” ấy là luận điệu tuyên truyền một cách lố bịch cho chế độ. Sau năm 1975, đã là“công giáo” mà nằm dưới ô dù của chế độ như “công giáo và dân tộc”, “công giáo yêu nước” hay “đoàn kết công giáo” đều được đọc trại ra thành “cong giáo”. Trong thứ “cong giáo” ấy, sự thật bị bẻ “cong”, sự thật chỉ còn là “một nửa sự thật”.

Gần đây, một số chương trình phát thanh trên mạng của người Việt hải ngoại mà tôi đã có dịp nghe được có nhắc đến trường hợp của báo đài mạng có tên là “Thông tấn xã công giáo Việt Nam” hay “Vietcatholic”. Đây cũng gần như là cổng duy nhứt để nhiều người công giáo Việt Nam ở hải ngoại, vì khả năng sinh ngữ giới hạn, thường vào để theo dõi sinh hoạt của Giáo hội ở quê nhà cũng như trên thế giới, nhứt là Tòa thánh Vatican.

Do một số linh mục Việt Nam và giáo dân ở hải ngoại thành lập, Vietcatholic không phải là một cơ quan ngôn luận của Tòa thánh Vatican. Nhưng đặc biệt trong chương trình truyền hình tự nhận là “Thế giới nhìn từ Vatican”, Vietcatholic đã mở đầu bằng câu Latinh “Laudetur Jesus Christus” (Ngợi khen Chúa Giêsu Kitô), được đọc dưới nền nhạc của bản “hành khúc giáo hoàng” (Marche Pontificale). Thoạt nghe qua, tôi cứ tưởng đây là một cơ quan ngôn luận của Tòa thánh hay ít ra một tiếp vận từ các cơ quan ngôn luận chính thức hay bán chính thức của Tòa thánh Vatican.

Có nhiều hãng tin trực thuộc Tòa thánh Vatican. Zenit là một trong những hãng tin đó. Khẩu hiệu của hãng tin này là “Thế giới nhìn từ Roma” (the world seen from Rome), ngụ ý muốn nói rằng  đây là một cơ quan ngôn luận phản ảnh  quan điểm và lập trường của Tòa thánh. Phải chăng khi sử dụng câu “Thế giới nhìn từ Vatican”, Vietcatholic cũng muốn tự nhận mình phản ảnh quan điểm và lập trường của Tòa thánh Vatican ?

Câu Latinh “Laudetur Jesus Christus” được Vietcatholic dùng để mở đầu chương trình truyền hình “Thế giới nhìn từ Vatican” cũng chính là câu mà tất cả các ban phát thanh của đài Bá âm Vatican dùng để mở đầu các buổi phát thanh của mình. Phải chăng khi dùng câu này, Vietcatholic cũng tự nhận mình là một ban phát thanh của Đài Bá âm Vatican và như vậy là tiếng nói chính thức của Tòa thánh Vatican và của Đức giáo hoàng?

Bản nhạc “Hành khúc Giáo hoàng” mà Vietcatholic dùng làm nền cho phần mở đầu của chương trình truyền hình “Thế giới nhìn từ Vatican” lại cũng chính là “quốc ca” của Tòa Thánh. Một lần nữa, phải chăng khi sử dụng bản nhạc này, Vietcatholic muốn tự nhận mình là tiếng nói của Tòa thánh Vatican hay ngay cả Đức giáo hoàng?

Tòa Thánh và Đức giáo hoàng nghĩ gì về cách loan tin và bình luận của Vietcatholic trong chương trình “Thế giới nhìn từ Vatican”, đặc biệt trong những tin và bình luận có liên quan đến Tổng thống Trump? Thông điệp hay phát biểu nào của tổng thống 45 của Hoa Kỳ cũng đều là “tuyệt vời” cả. Đầu năm Dương lịch 2021, cả Tổng thống Trump lẫn Tổng thống đắc cử Joe Biden đều gởi đi một thông điệp. Nhưng trong khi các hãng thông tấn tại Hoa Kỳ cũng như trên thế giới đều nhắc đến và đối chiếu thông điệp của hai nhà lãnh đạo, thì Vietcatholic không dành cho ông Biden được nửa lời. Nếu có nhắc đến ông thì toàn là những tin như ông bị một số giám mục Mỹ không cho rước lễ hoặc ông là đồ tể sát hại nhiều thai nhi nhứt trong lịch sử nước Mỹ.

Riêng về cuộc bạo loạn vừa qua mà cả thế giới đều lên án và quy trách cho Tổng thống Trump, Vietcatholic chỉ nói đến 2 lần ông Trump lên án bạo lực. Còn việc trước ngày mùng Sáu tháng Giêng ông kích động bạo loạn, rồi chính ngày đó đi với đám đông đến trước tòa nhà Quốc hội Liên bang (rồi âm thầm bỏ về để mặc đám đông tiếp tục bạo loạn), sau cuộc bạo loạn còn lên tiếng ca ngợi những kẻ bạo loạn là những người ái quốc cũng như bày tỏ sự yêu thương dành cho họ...tuyệt nhiên, những diễn tiến này không thấy Vietcatholic đá động tới. Diễn tiến và những lời nói của Tổng thống Trump trước và sau cuộc bạo loạn được Vietcatholic cắt xén để tung hô một Tổng thống Trump như một người lên án bạo lực và yêu chuộng hòa bình.

Một nửa sự thật không phải là sự thật mà chỉ là dối trá. Tổng thống Trump đã cai trị bằng dối trá và Vietcatholic, trong khi lấy danh nghĩa của Tòa thánh Vatican, cũng trở thành một cái loa tuyên truyền cho những lời dối trá.

Khi Tổng thống Trump ra lệnh dùng hơi cay dẹp một đám đông biểu tình ôn hòa để đến trước cửa một nhà thờ, cầm ngược quyển Kinh Thánh giơ lên để chụp hình, nhà đạo của tôi gọi đó là một hành động làm “ố danh sự đạo”. Tôi không biết nhà đạo của tôi phải nói gì khi Vietcatholic mạo danh Tòa thánh Vatican để biện minh và quảng bá cho những lời dối trá dẫn đến bạo loạn của Tổng thống Trump. Tự xưng Vietcatholic mà cố tình bẻ cong sự thật và mê muội dư luận như ban biên tập đã và đang làm có phải là một điều đáng xấu hổ không?

Như nhà báo Đỗ Dzũng thường mô tả một cách rất chính xác, “công giáo” là dân “đấm ngực”. Đã lâu lắm rồi, tôi đã đánh mất thói quen “đấm ngực” khi đọc kinh “Tôi cáo mình” ở đầu mỗi thánh lễ. Nhưng tôi xét thấy mình phải run rẩy, lo sợ và hổ thẹn mỗi khi cho xen vào căn tính tôn giáo của tôi danh xưng “công giáo”. Tôi sẽ chỉ là một thứ  “cong giáo” nếu tôi cố tình đi ngược lại lời dạy của Chúa Giêsu: “Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra”(Mt 5, 37).

 

 

Nguồn

1.https://www.news.com.au/world/north-america/us-politics/trump-followers-who-stormed-capitol-could-have-had-a-mass-psychosis/news-story/94c8dc3a7bd16e93478558f05f0dc37e

2.https://www.standard.co.uk/news/world/arnold-schwarzenegger-twitter-president-donald-trump-b809079.html

 

 

 

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

Nhật nhật tân!

 



Chu Văn

 

Mỗi dịp đầu năm dương lịch tôi thường nghe lại ca khúc nổi tiếng “Imagine” (Hãy tưởng tượng) do ca nhạc sĩ John Lennon của ban The Beatles sáng tác và trình bày năm 1971. Năm nào cũng nghe lại cho nên tôi thuộc lòng những câu như “Hãy tưởng tượng không có thiên đàng và bên dưới chúng ta cũng chẳng có hỏa ngục”; “Hãy tưởng tượng không có quốc gia...thì sẽ chẳng còn gì để giết hay chết cho. Và khi không có tôn giáo, hãy tưởng tượng mọi dân tộc đang sống trong hòa bình”.

John Lennon sinh năm 1940. Như vậy, ca khúc “Imagine” được anh sáng tác khi vừa tròn 30 tuổi. Có lẽ vì đã chứng kiến bao nhiêu cảnh chiến tranh loạn lạc do dân tộc chủ nghĩa và kỳ thị tôn giáo tạo ra cho nên người thanh niên này chỉ muốn nói lên niềm mơ ước hòa bình của anh.

Trong phần điệp khúc của bài “Imagine”, John Lennon thú nhận rằng có người bảo rằng anh là một kẻ mơ mộng (a dreamer). Quả thật, John Lennon mơ mộng đến độ năm 1969, vào giữa lúc cuộc chiến Việt Nam ngày càng leo thang, anh và Yoko Ono, vợ anh, đã tổ chức hai tuần lễ gọi là “Hãy cho hòa bình một cơ hội” (give peace a chance). Trong hai tuần liên tiếp, cặp vợ chồng trẻ này đã vào sống trong hai khách sạn nổi tiếng là Hilton Hotel tại Amsterdam, Hòa Lan và khách sạn Queen Elizabeth Hotel tại Montreal, Gia Nã Đại. Trong suốt  hai tuần lễ này, John Lennon và Yoko Ono đã mở toang cửa phòng để cho các ký giả và phóng viên được vào phỏng vấn và theo dõi nhứt cử nhứt động của họ. Hai vợ chồng nghệ sĩ này giải thích rằng hai tuần “tọa kháng” trong khách sạn của họ là nhũng cuộc biểu tình phản đối các cuộc chiến tranh và là những cuộc thử nghiệm về những cách cổ võ hòa bình.

Tuổi trẻ “ngông”. Người ta thường bảo thế khi nhìn vào những hành động nông nổi, bốc đồng của giới trẻ.

Tuy không được thấm nhuần Khổng Giáo, nhưng lúc nhỏ lúc nào tôi cũng được dạy “kính lão đắc thọ”. Tôi luôn nhìn vào người có tuổi như bậc trưởng thượng, đáng kính vì đức độ và nhứt là vì sự  khôn ngoan mà họ đã tích lũy được từ kinh nghiệm sống. Ở bậc trung học, câu châm ngôn “phải chi tuổi trẻ có hiểu biết, phải chi tuổi già có sức lực” (si jeunesse savait, si vieillesse pouvait!) lại càng làm cho tôi thêm xác tín rằng tuổi đời là một bảo đảm cho sự hiểu biết và khôn ngoan. Nhưng ngày nay khi chính mình đã bước vào tuổi già, kinh nghiệm bản thân lại buộc tôi phải nghi ngờ về điều được gọi là sự hiểu biết, lẽ khôn ngoan và nhứt là đức độ mà tôi đã đắc thủ được. Và dĩ nhiên, cái nhìn của tôi về tuổi trẻ cũng thay đổi, nhứt là trong thời đại này. Tôi ngưỡng mộ giới trẻ ngày nay, bởi vì họ qua mặt những cụ già như tôi về rất nhiều phương diện.

Một khuôn mặt tuổi trẻ của thời đại mà thế giới sẽ không bao giờ quên là thiếu nữ người Pakistan tên là Malala Yousafzai. Khi chỉ mới 11-12 tuổi, Malala đã bắt đầu viết Blog và gởi cho ban Urdu của Đài BBC. Trong các trang Blog, Malala đã mô tả cuộc sống của mình tại quận Swat hiện đang bị các phiến quân Hồi giáo cực đoan Taliban kiểm soát. Malala cũng đứng lên tranh đấu cho quyền của các em thiếu nhi nữ được cắp sách đến trường, bởi vì trong chế độ Taliban, nữ giới không được phép đi học.  Một ngày tháng Mười năm 2012, tức năm lên 15 tuổi, trên một chuyến xe buýt  trở về nhà sau khi trải qua một cuộc thi ở trường, Malala đã bị một tay súng Taliban bắn một viên đạn vào đầu. Em đã được đưa sang Anh quốc điều trị. Từ đó, tên tuổi của em được cả thế giới biết đến. Malala đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý, trong đó có giải Nobel Hòa Bình năm 2014.

Gần đây hơn, một tên tuổi thiếu niên nổi bật khác là Greta Thunberg cũng được thế giới nhắc đến rất nhiều. Năm nay cô gái Thụy Điển này đã được 17 tuổi. Ngay từ nhỏ, em đã thuyết phục cha mẹ của em phải thay đổi cách sống để giảm bớt lượng khí thải khi sử dụng năng lượng. Tháng Tám năm 2018, ở tuổi 15, cô thiếu niên này đã đến trước tòa nhà Quốc hội Thụy Điển để kêu gọi chính phủ hãy có những biện pháp mạnh hơn trong việc chống lại hiện tượng khí hậu thay đổi. Greta đã lôi kéo được nhiều học sinh khác cùng tham gia vào chiến dịch “học sinh bãi học vì khí hậu thay đổi”. Nổi tiếng khắp thế giới vì hoạt động chống khí thải nhà kính cho nên Greta đã được mời đến đọc diễn văn tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về khí hậu thay đổi. Năm 2019, để tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh về Hành Động chống lại Khí Hậu Thay Đổi, thay vì đi máy bay, em đã đi bằng thuyền buồm để giảm bớt ô nhiểm. Tại Hội nghị, Greta đã được hoan nghênh nhiệt liệt khi em thách thức các nhà lãnh đạo quốc gia bằng câu “Tại sao quý vị dám làm như thế...” (How dare you). Dĩ nhiên, người thiếu niên này đã gặp phải một đối thủ sừng sỏ nhứt. Trong khi hầu hết các nhà lãnh đạo quốc gia khác đều tán thành và ủng hộ lời kêu gọi của em thì Tổng thống Mỹ Donald Trump lại tìm cách ăn thua đủ với em. Thành ra, cứ nhắc đến tên Greta Thunberg thì dường như người ta lại phải liên tưởng đến Donald Trump.

Vào lúc đó, khi chỉ mới 15 tuổi, cô thiếu niên người Thụy Điển đã tỏ ra già dặn, chững chạc, với kiến thức khoa học, sự khôn ngoan và tư cách của một người trưởng thành. Trong khi đó lời qua tiếng lại giữa cô thiếu niên 15 tuổi và cụ già 74 tuổi Donald Trump chỉ làm nổi bật tư cách tồi tệ về mọi mặt của ông. Chiếc bong bóng bay với hình tượng của “baby” Trump 3 tuổi bay lơ lửng trên bầu trời Thủ đô London, Anh Quốc nhân chuyến viếng thăm chính thức của ông tại nước này dạo tháng Bảy năm 2018 có lẽ đã nói lên tất cả về con người của tổng thống thứ 45 của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Cuộc bạo loạn mới đây ngay trong tòa nhà Quốc Hội Liên Bang tại  Thủ đô Washington do chính ông kích động cũng chỉ là biểu hiện của cách suy nghĩ, phán đoán và hành động của một đứa trẻ 3 tuổi chỉ biết nghĩ đến bản thân và xem mình như cái rốn của vũ trụ. Dù chỉ còn mấy ngày ngắn ngủi nữa nhiệm kỳ tổng thống của ông sẽ chấm dứt, nhưng cả nước Mỹ và cả thế giới đều lo sợ về những hành động không thể lường được mà một đứa trẻ 3 tuổi có thể làm. Thế giới lo sợ là phải bởi vì trong tay đứa trẻ 3 tuổi này hiện đang có một thứ đồ chơi nguy hiểm nhứt mà một cái nhấn nút thiếu suy nghĩ của nó có thể hủy hoại cả thế giới.

Có những thiếu niên 15 tuổi có hiểu biết và cư xử như một người trưởng thành. Nhưng cũng có không biết bao nhiêu cụ già không chịu lớn. Sở dĩ có một “cụ già 3 tuổi” được bầu làm nguyên thủ của một quốc gia được xem là hùng cường, thịnh vượng và có nền dân chủ lâu đời nhứt thế giới là bởi vì cũng có rất nhiều “cụ già 3 tuổi” đã dồn phiếu cho cụ và ngay cả khi cụ đã thất cử, vẫn một mực tuyên bố sống chết cho cụ  và đòi giành lại chiếc ghế mà như cụ đã hô hào tranh đấu, là người ta đã đánh cướp của cụ. Tôi nghĩ đến các “cụ già 3 tuổi” trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng như tại rất nhiều nước khác trong đó có Úc Đại Lợi của tôi.

Tại sao phần lớn các cụ già như tôi đã triệt để ủng hộ “cụ già 3 tuổi” Donald Trump? Tôi tìm ra câu trả lời khi tự mình so sánh với giới trẻ ngày nay. Trong khi giới trẻ học rộng, hiểu sâu nhờ nắm trong tay các phương tiện để truy cập, phân tách, đào sâu các nguồn thông tin thì những người già như tôi, vì khả năng sinh ngữ hạn hẹp lại bị trói chặt trong các thành kiến và chỉ biết “ăn mày dĩ vãng” cho nên dễ làm mồi cho những lời dối trá và các thuyết âm mưu vốn được phát tán đầy dẫy trên các trang mạng xã hội. Già đầu, già tuổi nhưng có thể kiến thức, cách suy nghĩ, lý luận và ngay cả cách cư xử  của tôi dường như vẫn dậm chân tại chỗ, chớ không chịu già dặn.

Trong mùa Giáng Sinh vừa qua, cậu con trai nhà tôi xin được về nhà tạm trú vài bữa. Lý do là vì giữa cậu và cô bạn gái, vốn đã sống chung hơn 5 năm nay, đang có vấn đề. Phần lớn nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng và chiến tranh lạnh đều là những chuyện nhỏ vốn là “chuyện thường ngày ở huyện” trong bất cứ một mối quan hệ nào. Sau vài ngày, chiến tranh lạnh chấm dứt, cậu xin trở về với cô bạn gái. Trước khi về lại mái ấm, cậu tâm sự rằng cậu đã học được một bài học trong cuốn sách mà chính tôi cũng đã từng nghiền ngẫm trong thời gian gần đây. Cuốn sách đó là “12 quy luật cho cuộc sống” (12 rules for life: An antidote to Chaos) của một giáo sư tâm lý học Gia Nã Đại là ông Jordan Peterson được xuất bản năm 2018. Một trong những quy luật mà cậu con trai nhà tôi lấy làm tâm đắc nhứt là: “Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy bắt đầu bằng việc dọn dẹp căn phòng của bạn”. Jordan Peterson, một chuyên gia tâm lý mà nhiều người cho là có khuynh hướng bảo thủ, chỉ nhắm đến giới trẻ khi đưa ra quy luật này. Thật ra, quy luật này xem ra có giá trị hơn cho những cụ già như tôi. Kinh nghiệm bản thân cho tôi thấy rằng vì rất nhiều lý do, một người già như tôi thường không muốn thay đổi, trái lại chỉ muốn ù lì và chôn chặt trong những thói quen dẫn đến mọi thứ trì trệ trong cuộc sống.

Không rõ Giáo sư Peterson có chịu ảnh hưởng của Khổng giáo không, chớ người Á đông nào mà chẳng thuộc lòng câu “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Người Trung Hoa cũng truyền tụng rằng vua Thang (1847 -1760 trước Công nguyên), vị vua sáng lập Nhà Thương, đã cho khắc lên cái chậu tắm của ông dòng chữ “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (Nếu muốn ngày hôm nay đổi mới thì ngày ngày đều phải luôn đổi mới).

Tôi biết cậu con trai nhà tôi muốn nói lên quyết tâm xem trọng những chuyện nhỏ trong quan hệ giữa cậu và cô bạn gái khi nhắc lại quy luật về việc “dọn dẹp căn phòng”. Nhưng tôi cũng xem đó như một lời nhắc khéo cho một cụ già lú lẫn như tôi. Kể từ hôm đó, sáng nào khi thức dậy tôi cũng cố gắng bỏ ra vài phút để dọn dẹp lại giường ngủ và phòng ngủ. Nhưng quan trọng hơn, để có thể mỗi ngày vẫn tiếp tục đổi mới và lớn lên, tôi thấy căn phòng nội tâm mới là nơi cần được dọn dẹp hơn cả. Nếu không dọn dẹp và quét sạch những thứ mạng nhện và rác rưởi  trong căn phòng nội tâm như ích kỷ, hận thù, thành kiến, vô cảm...thì mãi mãi tôi cũng sẽ chỉ là một “cụ già 3 tuổi” mà thôi.

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2020

Đồng đạo hay đồng cảm?

 

Chu Văn

Có lẽ ai cũng có những lễ Giáng Sinh đáng ghi nhớ. Với tôi, khó quên nhứt là Đêm Giáng Sinh năm 1975. Làm sao quên được cái đêm Giáng Sinh đầu tiên bên trong điều được gọi một cách rất chính xác là bức màn sắt. Không hiểu sao đêm đó, mọi ánh sáng trong thành phố Nha Trang của tôi đều tắt lịm. Kể từ đó, ánh sáng của Giáng Sinh đã lùi bước trước bóng đêm của hận thù, dối trá và nghi kỵ. Nói gì, làm gì cũng phải nhìn trước ngó sau. Nhìn đâu cũng thấy bóng dáng của công an chìm nổi và những người đang theo dõi mình.

Mãi cho đến năm 1981, tôi mới tìm lại được một Lễ Giáng Sinh có ý nghĩa. Đó là lễ Giáng Sinh trong trại tỵ nạn Kuku, ở Nam Dương. Rách rưới và thiếu thốn trong một hoang đảo, nhưng được tự do cho nên tôi đã thực sự hưởng được một mùa Giáng Sinh an bình và vui tươi. Ngày nay, dù sống ở đâu và trong hoàn cảnh nào, cứ mỗi dịp Giáng Sinh về tôi không thể nào quên được mùa Giáng Sinh ở Kuku ấy.

Mùa Giáng Sinh năm 2020 này có lẽ cũng sẽ là một Mùa Giáng Sinh đáng ghi nhớ trong những năm tháng cuối đời của tôi. Giáng Sinh là mùa của gặp gỡ. Nhưng năm nay, dường như ai cũng phải  chui vào vỏ ốc riêng tư của mình. Dĩ nhiên, mọi thứ tội lỗi đều có thể trút lên đầu con Covid-19 hết! Cũng tại cái con siêu vi này mà rào cản giữa người với người được dựng lên. Nhưng với riêng tôi, cùng với con siêu vi Covid-19, còn có một thứ rào cản khác khủng khiếp hơn. Kinh nghiệm cá nhân buộc tôi phải gọi đích danh rào cản ấy là Tổng thống Mỹ Donald Trump. Trong suốt 4 năm qua và nhứt là trong mùa Giáng Sinh này, chính ông đã xen vào các mối quan hệ giữa tôi và người thân, bạn bè và nhứt là những người đồng đạo. Thế giới đã bị chia rẽ, nước Mỹ đã bị phân hóa đến cùng cực. Nhưng sự chia cách giữa tôi và người thân, bạn bè và đồng đạo lại càng sâu sắc hơn.

Tôi vẫn nhớ mãi một buổi gặp gỡ giữa những người đồng đạo cách đây không lâu. Dù có cố gắng đến đâu, câu chuyện trên bàn ăn vẫn luôn dẫn đến vấn đề chính trị. Như một “chính trị viên” thấm nhuần chính sách và đường lối của Tổng thống Trump, bà vợ của người chủ nhà, một người công giáo thuần thành, đã đọc bản án dành cho cựu Tổng thống Barack Obama như sau: “tên phản quốc này chắc chắn sẽ vào tù sau ngày bầu cử Mỹ 3 tháng Mười Một!” Cũng may, người đàn bà này chưa đến nỗi gọi ông Obama là tên “Lọ Nồi” hay “Thằng Mọi Đen” như một số đồng môn và đồng đạo khác của tôi!

“Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”, noi gương cụ Đồ Chiểu tôi bèn hỏi vặn lại: “tin này chị đọc được ở đâu vậy?”  Lời chất vấn của tôi, mặc dù chỉ nhắm đến “tin giả” tràn lan trên các trang mạng xã hội, được người đàn bà hiểu như là một thái độ thách thức không “phò Trump”. Bầu khí cuộc gặp gỡ giữa những người đồng đạo bỗng trở nên căng thẳng và nặng nề.

Vài ngày sau, tình cờ gặp lại hai vợ chồng người đồng dạo này tại nhà môt người đồng đạo khác vốn là bạn chí cốt của tôi, tôi được đón tiếp bằng một thái độ lạnh lùng gần như thù hận. Ông bạn chí cốt của tôi lên tiếng cảnh cáo: gặp nhau nhớ giữ mồm giữ miệng không thì ăn miểng! Ông cho biết: trong một cuộc gặp gỡ cũng giữa những người đồng đạo, người chồng đã từng “nhét” vào miệng của nữ Phó tổng thống Kamala Harris những đồ “dơ bẩn” nhứt trong thân thể con người! Những thứ “dơ bẩn” như thế, tôi thấy nhan nhản trên các “meo đàn” của những người đồng đạo của tôi!    

Tội nghiệp ông bạn già của tôi. Dù sao, ở xa cộng đồng người Việt, ít ra tôi cũng né tránh được nhiều cuộc gặp gỡ với người đồng đạo. Ông bạn tôi, cứ mỗi lần gặp gỡ người đồng đạo, đều chọn thái độ “chịu đấm ăn xôi”, cắn răng ngồi nghe người ta tung hô Tổng thống Trump và chửi rủa thậm tệ đối thủ của ông và những ai không phục tùng ông. Bạn tôi kể lại rằng có lần giữa một bữa nhậu, đang vui vẻ chén chú chén anh, ông vô tình bày tỏ thái độ không “phò Trump”, một người đồng đạo vốn là bạn nhậu lâu năm của ông, đã tức khắc đứng dậy rời khỏi bàn ăn.

Rõ ràng là hơn cả con siêu vi Covid-19, Tổng thống Trump đã dựng lên vô số rào cản và “lô cốt” giữa người thân, bạn bè và người đồng đạo. Vì không “phò Trump”, tôi bị người thân và bạn bè chụp lên đầu cái mũ thân cộng. Nhưng nếu trong mắt nhiều người Việt, Tổng thống Trump là một nhà lãnh đạo quốc gia dám đánh Trung Cộng để giải phóng Việt Nam khỏi chế độ cộng sản, thì đối với rất đông người đồng đạo của tôi, vì chống phá thai và chống hôn nhân đồng tính, ông là người được Chúa chọn và sai đến để bảo vệ những giá trị truyền thống và chấn hưng đạo đức. Vì ông là người được Chúa chọn cho nên không phò ông là chống Chúa. Chẳng khác nào một số giáo hoàng thời Trung Cổ, Tổng thống Trump đã tung ra một cuộc thánh chiến theo đúng nghĩa và những đồng đạo của tôi sẵn sàng “tử đạo” cho ông.

Mùa Giáng Sinh năm nay, không còn được mời đến thăm dự các cuộc gặp gỡ giữa những người đồng đạo nữa, tôi dành những giây phút tĩnh lặng để suy nghĩ về căn tính tôn giáo của tôi.

Câu chuyện Giáng Sinh có một chi tiết đáng suy nghĩ: người chồng dắt người vợ bụng mang dạ chửa đi gõ cửa các quán trọ, nhưng không còn một cánh cửa nào mở ra cho họ. Họ đành phải dìu nhau đến một chuồng súc vật giữa đồng không mông quạnh và đứa con đầu lòng của họ đã cất tiếng chào đời ở đó.

Tác giả của câu chuyện Giáng Sinh cũng ghi lại một bài dụ ngôn mà tôi nghĩ hẳn phải là một nối dài của câu chuyện này. Bài dụ ngôn là câu trả lời của Chúa Giêsu cho một câu hỏi của một người thông luật : “Ai là người thân cận của tôi?”  Chúa Giêsu kể rằng có một người bộ hành nọ rơi vào tay một bọn cướp. Chúng tước đoạt  hết của cải của ông, đánh ông đến trọng thương và bỏ ông dở sống dở chết dọc đường. Có 2 người đi qua đoạn đường ấy. Cả hai đều là bậc vị vọng trong Đạo Do Thái. Nhưng họ đều nhắm mắt làm ngơ trước cảnh nạn nhân đang nằm vất vưởng bên đường. Thế rồi, tình cờ có một người Samaria cũng đi qua đoạn đường ấy. Với người Do Thái, Samaria có nghĩa là “ngoại đạo”. Người này động lòng trắc ẩn, đã dừng lại băng bó cho nạn nhân, đặt ông lên lưng lừa để đưa đến một quán trọ gần đó nhờ chăm sóc. Hôm sau, trước khi đi, ông dặn dò chủ quán: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ hoàn lại cho bác”.

Kể xong câu chuyện, Chúa Giêsu hỏi: “Vậy, theo ông nghĩ, trong 3 người đó, ai đã tỏ ra là thân cận với người đã bị rơi vào tay bọn cướp”. Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với  người ấy”. Chúa Giêsu kết luận: “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy” (x. Tin Mừng theo thánh Luca 10, 29-37).

Bài dụ ngôn đã đảo lộn cách suy nghĩ và sống đạo thông thường của tôi. Chúa Giêsu dường như đã không xem trọng tính đồng đạo. Ngài đề cao sự đồng cảm. Suy ngẫm về bài dụ ngôn trong bối cảnh của sự rạn nứt giữa những người đồng đạo, tôi  đặt lại câu hỏi: “Ai là người đồng đạo của tôi?” Và dĩ nhiên, tôi sẽ nghe Chúa Giêsu trả lời: “Hãy trở thành người đồng đạo của người khác”. Bởi lẽ cốt lõi của Đạo là từ tâm, nhân ái, đồng cảm, cho nên trở nên người đồng đạo của người khác sẽ chỉ có nghĩa là thực thi lòng nhân ái và bày tỏ sự đồng cảm với người khác.

Thái độ của người Samaria “ngoại đạo” trong bài dụ ngôn của Chúa Giêsu khiến tôi liên tưởng đến một câu chuyện xảy ra trong mùa hè vừa qua mà tôi thường lấy  làm đề tài suy gẫm trong Mùa Giáng Sinh năm nay.

Nhân vật chính được nhắc đến trong câu chuyện là một cô gái tên là Kate Kilroy. Năm 2018, với ước mơ được đi đây đi đó, cô đã gia nhập vào lực lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ. Mùa hè vừa qua, lực lượng này tham gia một cuộc tập trận chung giữa hải quân và lực lượng tuần duyên của nhiều quốc gia ở Greenland. Hôm Tuần Duyên hạm trên đó cô Kilroy đang phục vụ thả neo ở Thủ phủ Nuuk của Greeland, cô được phép lên bờ. Đây là dịp để cô gái trẻ tìm hiểu về cuộc sống của người dân trên quốc gia hải đảo này. Tình cờ khi đi bộ quanh cảng để chụp hình, cô tạt vào một nhà hàng. Tại đây, cô thấy một người đàn ông ngồi đơn độc ngoài hiên...Cảm thấy tội nghiệp, cô đề nghị đãi người đàn ông một bữa ăn. Cả hai cùng ăn, cùng trò chuyện rồi chia tay.

Vài ngày sau, Thủ tướng Greenland, ông Kim Kielsen, ngỏ lời muốn đến thăm Tuần Duyên Hạm và thủy thủ đoàn của Mỹ. Khi Thủ tướng Greenland lên boong, cô Kilroy mới biết người đàn ông mà cô cảm thấy tội nghiệp nên đề nghị đãi một bữa ăn và cùng trò chuyện để ông ta không “tủi thân” vì cô độc chính là ông thủ tướng Greeland. Sự đồng cảm và tử tế của cô Kilroy cũng là là lý do khiến Thủ tướng Kielsen mời hạm trưởng Tuần Duyên của Mỹ và tự tay lái xe đưa đi một vòng tham quan Greeland!

Tổng lãnh sự Mỹ tại Greeland đã gởi lời cám ơn lực lượng Tuần Duyên Mỹ vì hành động của cô Kilroy. Về phần mình, cô giải thích rằng trong gia đình cô, ai cũng đều cư xử như thế khi thấy ai đó cần được giúp đỡ (x. https://www.voatiengviet.com/a/kilroy-kielsen-greenland-long-tu-tam/5682965.html).

Giáng Sinh năm nay, tôi không thể đến nhà thờ. Tôi cũng không thể tham gia các buổi gặp gỡ giữa những người đồng đạo. Nhưng tôi tin rằng nếu bất cứ lúc nào tôi cũng luôn trong  tư thế sẵn sàng để sống lòng từ tâm, thực thi nhân ái và bày tỏ sự đồng cảm với mọi người, nhứt là với người xa lạ, thì đó là lúc tôi tuyên xưng niềm tin tôn giáo và thực thi sứ điệp của Lễ Giáng Sinh vậy.

Chu Văn, Giáng Sinh 2020

 

 

 

 

 

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

Tôi luyện linh hồn


 

          

Chu Văn

Khi cựu Ptổng thống Joe Biden tuyên bố ra tranh cử tổng thống, tôi thấy “lo” cho ông. Tuổi cao sức yếu, đã cà lăm lại hay vấp váp trong lời ăn tiếng nói, làm sao ông có thể “chạy kịp” các đối thủ trẻ và bén nhạy trong Đảng Dân Chủ và nhứt là đối đầu với một cao thủ sừng sỏ như đương kim Tổng thống Donald Trump. Vậy mà cuối cùng, “cụ già” Joe Biden đã chiến thắng. Theo các nhà phân tách, một trong những khí giới đã mang lại chiến thắng cho ông chính là sự đồng cảm mà ông đã tôi luyện được trong suốt cuộc đời của ông.

Trong thông điệp nhân ngày Lễ Tạ Ơn năm nay, bất chấp những cảnh cáo của các chuyên gia y tế về sự lây lan và mối nguy hiểm chết người của đại dịch Covid-19, Tổng thống Trump vẫn cứ thúc đẩy mọi người hãy tha hồ đi lại, tập trung để gặp gỡ, vui chơi và “cầu nguyện”. Tổng thống tân cử Biden thì trái lại đã kêu gọi hãy thực thi sự đồng cảm bằng cách giới hạn sự tập trung, mang khẩu trang và tuân thủ việc giãn cách xã hội. 

Dạo cuối tháng Mười vừa qua, tại sinh quán của ông là thành phố Wilmington, Tiểu bang Delaware, khi đề cập đến cuộc khủng hoảng do đại dịch Covid-19 gây ra, ứng cử viên Biden đã nói: “Trái tim tôi hướng về từng người đang phải trải qua cơn hấp hối khi phải dùng một băng hình để nói lời từ biệt với những thân yêu của họ, khi không được qui tụ  bạn bè và ngay cả người thân trong gia đình để thương khóc trong một thánh lễ hay nghi thức an táng”. Tôi chưa từng nghe được một lời như thế từ miệng của Tổng thống Trump!

Trong cuộc vận động, cựu Phó tổng thống Biden luôn muốn nhắn gởi một thông điệp hoàn toàn ngược lại với lời kêu gọi của Tổng thống Trump. Trong khi ông Trump bảo dân chúng Mỹ đừng để cho siêu vi Covid-19 “thống trị” mình và “đừng sợ” nó thì ứng cử viên Biden lúc nào cũng khuyến khích dân chúng mang khẩu trang, tuân giữ việc giãn cách xã hội và nhứt là ông không ngại chia sẻ niềm đau nỗi buồn với mọi người.

Cựu Phó tổng thống Biden luôn sẵn sàng bày tỏ sự đồng cảm với mọi người bởi vì hơn ai hết, ông hiểu thế nào là nỗi đau mất vợ, mất con. Những thảm kịch xảy ra trong gia đình đã ít nhứt hai lần khiến ông muốn từ bỏ sự nghiệp chính trị.

Bi kịch đầu tiên xảy ra cho ông vào mùa đông năm 1972. Năm đó, dù chỉ mới 29 tuổi, ông đã quyết định ra tranh cử  vào chức vụ thượng nghị sĩ liên bang đại diện cho Tiểu bang Delaware. Ban   vận động tranh cử gồm hầu hết là người thân trong gia đình, tài chánh lại eo hẹp, vậy mà cuối cùng người thanh niên chưa tròn 30 tuổi này đã đánh bại một đối thủ đã từng là một thượng nghị sĩ kỳ cựu của tiểu bang. Tuy nhiên, chỉ vài tuần lễ sau đó, thượng nghị sĩ tân cử của Tiểu bang Delaware phải trải qua một thảm kịch làm thay đổi hoàn toàn con người của ông. Người vợ trẻ của ông, bà Neilia và đứa con gái một tuổi tên là Naomi của ông đã qua đời trong một tai nạn giao thông. Hai cậu con trai Beau và Hunter bị thương nặng.

Thượng nghị sĩ tân cử Biden định từ chức. Nhưng nhiều người đã khuyên ông nên đảm nhận chức vụ đã được người dân Tiểu bang Delaware trao cho ông. Thượng nghị sĩ Biden đã tuyên thệ nhậm chức ngay trong bệnh viện nơi hai cậu con trai nhỏ của ông đang được điểu trị. Kể từ đó, tân thượng nghị sĩ đã đi đi về về trên các phương tiện di chuyển công cộng giữa Wilmington và thủ đô Washington. Bà Valerie, chị gái của ông, đã dời về gia đình ông để chăm sóc cho 2 đứa con trai nhỏ của ông. Bà Valerie ở lại trong gia đình Biden cho đến năm 1977 khi ông tái hôn với bà Jill Jacobs. Hai người đã có với nhau một người con gái là cô Ashley.

Lần thứ hai ông Biden muốn rời bỏ chính trường là năm 2015. Năm đó, với tư cách là phó tổng thống, ông Biden đã cùng với Tổng thống Barack Obama vận động để thông qua dự luật bảo hiểm y tế thường được gọi là Obamacare. Luật này giúp cho hàng triệu gia đình người Mỹ có thu nhập thấp có được bảo hiểm y tế. Trong khi ông nỗ lực đễ bảo đảm cho người nghèo hưởng được sự chăm sóc y tế thì người con trai trưởng của ông là ông Beau Biden qua đời vì ung thư não. Định ra tranh cử tổng thống năm 2016, nhưng ông Biden đã quyết định dành nhiều thời giờ hơn cho gia đình của ông.

Lần này, khi ra tranh cử ông Biden đã được các đảng viên Dân chủ chọn để đối đầu với Tổng thống Trump. Theo ông Mitchell S. McKinney, giáo sư chuyên về những cuộc tranh luận trong các cuộc bầu cử tổng thống thuộc Đại học  Missouri, sự kiện các đảng viên Dân chủ chọn ông Biden thay vì một ứng cử viên trẻ hơn, không đáng gây ngạc nhiên, bởi vì theo giáo sư này, đây là người mà Hoa Kỳ đang cần đến trong thời điểm này. Giáo sư McKinney nhận định rằng ông Biden là một chính trị gia biết “đồng cảm”. Đây là một thái độ hoàn toàn trái ngược với đương kim Tổng thống Trump (1).

Thực thi và đề cao sự đồng cảm, Tổng thống tân cử Biden đã làm nổi bật một cung cách lãnh đạo cần thiết hơn bao giờ hết trong thời đại này. Hiểu một cách đơn giản, người đồng cảm là người luôn biết tỏ ra ân cần, quan tâm đến người khác. Xét cho cùng, người đồng cảm là người biết sống tử tế.

Cựu tổng thống Obama vừa cho trình làng quyển hồi ký có tựa đề “Đất Hứa” (Promised Land). Chỉ trong ngày đầu tiên, quyển sách đã bán được gần một triệu ấn bản. Trong mục điểm sách của báo The New York Times, nhà văn Chimamanda Ngozi đã gọi tổng thống Obama là “một người tử tế vượt bực”. Trong thời gian gần đây, Tổng thống tân cử Biden cũng rất thường được mô tả như một người tử tế. Báo The Washington Post ghi nhận rằng ông Biden đã và đang thể hiện sự tử tế. Báo USA Today cho rằng “dân chủ và sự tử tế đã thắng cuộc bầu cử”. Riêng  Evan Osnos, người viết tiểu sự của ông Biden  khẳng định rằng ông Biden cống hiến “sự tử tế cho thời đại nhiễu nhương”. Về phần mình, chính ông Biden cũng lấy sự tử tế làm linh hồn của chiến dịch vận động bầu cử của ông. Ông thường nói: “Đây là cuộc bầu cử về nhân cách và sự tử tế”. Cố tổng thống Theodore Roovevelt (1858-1919) cũng đã từng nhấn mạnh đến điều đó. Ông nói: “Chính trị thực tiễn nhứt là chính trị của sự tử tế” (2).

Chính vì muốn đề cao sự tử tế mà để đối lại khẩu hiệu “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” (Make America Great Again) của Tổng thống Trump, ông Biden đã chọn khẩu hiệu “Chiến đấu cho Linh hồn của Dân tộc” (Battle for the Soul of the Nation). Thật ra đây không phải là khẩu hiệu riêng của Tổng thống tân cử Biden. Trước khi ông và Thượng nghị sĩ Kamala Harris liên kết lại trong cùng một liên danh, cả hai người đều đã sử dụng khẩu hiệu này để nói lên tầm quan trọng phải bằng mọi giá đánh bại ông Trump trong cuộc bầu cử 2020 (3).

“Linh hồn của dân tộc” như ông Biden và bà Harris hiểu chính là những giá trị nhân bản làm nên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, trong đó nổi bật nhứt là đức độ, sự đồng cảm và tử tế.

Trong thông điệp nhân ngày Lễ Tạ Ơn năm nay, Tổng thống tân cử đã kêu gọi mọi người hãy hướng đến Gulph Mills, tiểu bang Pennsylvania. Đây là nơi mà trước khi trở thành tổng thống đầu tiên của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, tướng George Washington đã từng đóng quân trong cảnh thiếu thốn lương thực, quần áo, nơi trú ẩn. Tại đây vẫn còn một tấm bảng ghi lại hàng chữ: “Lễ Tạ Ơn này, bất chấp những khổ đau, đã cho thấy sự tôn trọng và nhân cách đã tôi luyện linh hồn một dân tộc “(4).

Theo Tổng thống tân cử Biden, những khổ đau mà đất nước Hoa Kỳ đang trải qua hiện nay chính là “cuộc chiến với siêu vi (Covid-19) chứ không phải với nhau”. Cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc. Ông chia sẻ: “Với những người đã mất đi người thân, tôi biết đây là thời điểm vô cùng khó khăn trong năm. Hãy tin tôi, tôi hiểu điều này. Tôi còn nhớ cái Lễ Tạ Ơn mất mát đầu tiên của mình. Chiếc ghế trống, sự vắng lặng. Nó như lấy đi hơi thở của mình. Khó mà chú tâm. Khó mà cảm tạ. Khó để nhìn về phía trước. Và thật khó để mà hy vọng. Tôi hiểu. Tôi sẽ nghĩ về quý vị và cầu nguyện cho mỗi người cùng tất cả quý vị ngay trên chiếc bàn Lễ Tạ Ơn của chúng tôi bởi vì chúng tôi đã trải nghiệm như thế”.

Cái linh hồn dân tộc mà Tổng thống tân cử Biden kêu gọi tôi luyện, đặc biệt giữa cơn đại dịch hiện nay, chỉ có thể hiểu là sự đồng cảm, tử tế và cảm thông.

Là một tín hữu Kitô, khi nghe nói đến “linh hồn”, tôi không thể không liên tưởng đến “phần rỗi linh hồn” mà nhà đạo của tôi thường nói đến. Tôi thường được dạy bảo rằng cùng đích của việc “giữ đạo” là “phần rỗi linh hồn”, tức được hưởng phúc Thiên Đàng.

Tôi không biết có phải vì “phần rỗi linh hồn” ấy không mà mới đây tại Tiểu bang New York, sau khi thống đốc của tiểu bang là ông Andrew Cuomo ban hành lệnh hạn chế số người tham dự các buổi thờ phượng trong các giáo đường, nhiều tổ chức tôn giáo đã kiện lên tới Tối Cao Pháp Viện và Viện này đã đưa ra phán quyết đảo ngược lệnh của thống đốc tiểu bang. Người ta nghĩ gì để tranh đấu cho một quyền tự do thờ phượng như thế khi sự tập trung đông đảo trong những nơi thờ phượng có thể tạo điều kiện cho sự lây lan của dịch bệnh Covid-19 và như thế gây ra cái chết cho không biết bao nhiêu người. Phải chăng tự do tôn giáo có nghĩa là quyền không cần đồng cảm và quan tâm đến người khác?

Là một người công giáo, tôi thường lắng nghe lời khuyên dạy của vị thủ lãnh tối cao của Giáo hội Công giáo là Đức giáo hoàng. Mới đây, trong một bài phát biểu được đăng trên báo The New York Times, Đức Phanxicô đã kêu gọi: “Ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ, các chính phủ đã rất nỗ lực đặt hạnh phúc của người dân lên hàng đầu, hành động dứt khoát để bảo vệ sức khỏe và cứu sống...Tuy nhiên, một số nhóm đã phản đối, từ chối giữ khoảng cách, tuần hành chống lại các hạn chế đi lại, như thể các biện pháp mà các chính phủ phải áp dụng vì lợi ích của người dân tạo thành một loại tấn công chính trị đối với quyền tự chủ hoặc tự do cá nhân! Hướng đến lợi ích chung không chỉ là tổng hợp những gì là tốt đẹp cho cá nhân. Nó có nghĩa là quan tâm đến mọi công dân và tìm cách đáp ứng hiệu quả nhu cầu của những người kém may mắn nhứt” (5).

Thật ra, lời dạy trên đây của người được gọi là “Chủ chăn Giáo hội Hoàn vũ” cũng chỉ là cốt lõi của mọi tôn giáo. Tôn giáo nào cũng dạy con người biết đồng cảm, biết tử tế, biết ân cần, biết quan tâm đến người khác.

Trong cuốn phim nổi tiếng “the Sound of Music”, khi Maria, người nữ tu trẻ đang bị dằng co giữa con đường tu đức và cuộc sống gia đình thì Mẹ Bề trên đã khuyên: “Khi Thiên chúa đóng cửa chính, thì ở nơi nào đó, Ngài sẽ mở cánh cửa sổ”. Vì vậy, nếu nhìn một cách tích cực và rộng thoáng hơn, khi không thể đến nhà thờ để gặp nhau vì đại dịch, thì chúng ta sẽ nhớ đến nhau và hy sinh cho nhau nhiều hơn bao giờ hết.

Với tôi, “tôi luyện linh hồn” hay lo cho “phần rỗi” linh hồn thiết yếu chính là sống vị tha. Thiên đàng và “phần thưởng đời sau” như thế nào thì chẳng có ai biết hay tưởng tượng được. Nhưng ít ra trong cuộc sống tại thế này, những trải nghiệm thường ngày luôn mang lại cho tôi niềm vui và an bình mỗi khi tôi cố gắng sống vị tha. Tôi khao khát gặp gỡ người đồng đạo ở nơi thờ phượng. Nhưng có lẽ đền thờ cuộc sống hàng ngày của tôi quan trọng hơn. Như thi sĩ Mỹ gốc Liban Kahlil Gibran đã nói: “Cuộc sống hàng ngày của bạn là đền thờ và tôn giáo của bạn. Khi bạn đi vào đó, hãy đi vào đó với tất cả con người của bạn”. Chính cuộc sống hàng ngày đó là nơi tôi gặp gỡ và sống với tha nhân, là nơi để tôi “tôi luyện linh hồn” của tôi! 

Chú thích


1.        https://www.dw.com/en/us-election-for-joe-biden-empathy-wins-the-presidency/a-55408733

2.        https://www.psychologytoday.com/au/blog/the-romance-work/202011/the-power-decency

3.        https://www.msn.com/en-us/news/elections-2020/battle-for-the-soul-of-the-nation-before-they-were-runn

4.        https://thongluan-rdp.org/di-n-dan/item/19721-toi-luy-n-linh-h-n-m-t-dan-t-c

5.        https://vietbao.com/a305913/duc-giao-hoang-giao-dan-hay-tuan-lenh-chinh-quyen-de-chong-dich-ky-su-long-pham-de-trinh-thu-xin-duc-giao-hoang-chi-thi-cho-cac-