Hiển thị các bài đăng có nhãn Thứ Sáu tuần thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thứ Sáu tuần thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018

“Nghìn năm gương cũ soi kim cổ”



Chu Thập
Thứ Sáu Tuần Thánh 2013

Hôm nay là ngày mà thế giới Kitô giáo gọi là Ngày thứ Sáu Tuần Thánh hay Thứ Sáu Thánh. Trong ngày này, các tín hữu Kitô tưởng niệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Tại một số nước có truyền thống Kitô giáo lâu đời như Châu Mỹ La Tinh hay Phi Luật Tân ở Á Châu chẳng hạn, người ta thường “diễn lại” cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Có nơi, nhiều người tự nguyện chịu đóng đinh vào thập giá để gọi là thông phần vào sự đau khổ của Chúa hoặc để khấn xin một ơn đặc biệt nào đó. Tại một số giáo xứ ở Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng của các nhà thừa sai Tây Ban Nha, giáo dân đeo khăn tang trên đầu trắng cả nhà thờ.
Riêng tại Roma, mà một số người gọi là “giáo đô”, kể từ thập niên 1980, vào tối Thứ Sáu Tuần Thánh, các đức giáo hoàng thường chủ tọa cuộc “gẫm đàng Thánh Giá” (tưởng niệm con đường thập giá của Giêsu, từ lúc bị mang ra xét xử cho đến khi bị treo trên thập giá trên Núi Sọ), được tổ chức tại Hí trường Colosseo. Di tích lịch sử này gắn liền với những cuộc bách hại đẫm máu mà các tín hữu Kitô tiên khởi đã phải trải qua.
Năm 1985, lần đầu tiên đến Roma, tôi đã ngây ngất trước Đại Hí Trường cổ này. Nước Ý và riêng Roma, có lẽ là nơi có nhiều di tích lịch sử nhất thế giới. Ở đâu cũng có những bức tường đổ nát vẫn còn được giữ nguyên. Du khách có bỏ ra cả tháng trời cũng chưa chắc có thể viếng thăm hết các di tích lịch sử của thành phố được gọi là “muôn thuở” này. Riêng với khách hành hương, nội việc đi thăm viếng các hang toại đạo (catacombs), tức các nghĩa trang dưới đất của người Do Thái được các tín hữu Kitô tiên khởi dùng làm nơi trú ẩn trong thời bị cấm cách, cũng phải mất nhiều ngày.
Nhưng được du khách chiếu cố nhiều nhứt dĩ nhiên vẫn là Hí Trường Cổ Colosseo. Đây là Hí trường lớn nhứt thế giới. Đây cũng là một trong những công trình vĩ đại nhứt trong lịch sử kiến trúc và xây dựng của người La Mã.
Đọc lại lịch sử, tôi thấy Hí Trường Colosseo đã được khởi công xây dựng năm 72 sau công nguyên dưới thời hoàng đế Vespasian và hoàn thành dưới thời hoàng đế Titus vào năm 80. Có khả năng chứa 50 ngàn chỗ ngồi, Hí Trường Colosseo đã được xử dụng cho các cuộc tranh tài của các võ sĩ giác đấu (gladiators) mà cuốn phim “Gladiator” (võ sĩ giác đấu) do tài tử gạo cội Úc Russell Crowe thủ diễn hồi năm 2000 đã cho chúng ta một ý niệm khá đầy đủ. Vào thời đó, nhiều người nô lệ hay các tử tội trên toàn đế quốc bị bắt phải gia nhập vào đoàn võ sĩ giác đấu. Họ không có một chọn lựa nào khác hơn là phải giết cho bằng được đối thủ của mình. Nhưng cái số phận của những người mà sự chém giết và cái chết đẫm máu trở thành thú tiêu khiển cho khán giả, cuối cùng cũng vẫn là cái chết. Cho nên khi bước ra hí trường, võ sĩ nào cũng phải cung kính sắp mình trước hoàng đế để chào: “Muôn tâu hoàng đế, những kẻ sắp chết xin kính chào hoàng đế” (Ave Caesar, morituri te salutant).
Ngoài các cuộc thi giác đấu, người ta cũng tổ chức tại Hí trường những cuộc săn thú hay xử tử các tội nhân.
Sở dĩ Hí Trường cổ này trở thành nơi cử hành cuộc tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu vào mỗi tối Thứ Sáu Tuần Thánh là vì đây là một trong những nơi diễn ra các cuộc hành quyết các tín hữu Kitô tiên khởi. Lịch sử ghi lại: năm 64 dưới thời bạo chúa Nero (54-68 sau CN),  kinh thành Roma đã bị hỏa hoạn thiêu rụi. Nhiều tín hữu tiên khởi tin rằng chính Nero là người đã ra lệnh đốt thành Roma và xem họ là thủ phạm của vụ hỏa hoạn để có cớ bách hại họ. Từ đó cho đến thế kỷ thứ tư, trước khi hoàng đế Constantino gia nhập Kitô giáo và bãi bỏ lệnh cấm đạo, các tín hữu Kitô đã bị bách hại dã man. Hí Trường Colosseo đã trở thành một trong những nơi hành quyết chính thức. Thay cho các võ sĩ giác đấu, các tín hữu Kitô bị quăng vào đấu trường để làm mồi cho sư tử cắn xé và mua vui cho khán giả.
Số phận của Hí Trường Colosseo gắn liền với số phận của đế quốc La Mã. Thi sĩ Bede vào thế kỷ thứ 8 sau CN đã tiên đoán: “Bao lâu Colosseo còn, Roma còn. Colosseo sụp đổ, Roma cũng sụp đổ theo”. Thật ra trước khi đế quốc Roma hoàn toàn cáo chung, Hí trường Colosseo cũng đã nhiều phen nghiêng ngả và sụp đổ vì các cuộc động đất và hỏa hoạn. Nặng nhứt là trận động đất năm 1349. Nhiều khối đá đã từng được dùng để xây dựng Hí trường Colosseo đã được mang đi để dùng làm vật liệu xây cất một số dinh thự, nhà thờ và bệnh viện tại Roma.
Vào thế kỷ thứ 18, Colosseo đã được Giáo hội công giáo xem như một “linh địa”, nơi các tín hữu tiên khởi đã từng chịu tử đạo. Không riêng Giáo hội công giáo, trong những năm sau Đệ nhị Thế chiến, cộng đồng thế giới cũng xem Colosseo như một biểu tượng trong chiến dịch vận động chống án tử hình. Năm 1948, Ý đại lợi đã bãi bỏ án tử hình. Năm 2000, nhiều cuộc biểu tình chống án tử hình đã được tổ chức tại đây. Kể từ đó, chính quyền thành phố Roma đã cho thay đổi ánh đèn điện được thắp sáng trên Hí trường: mỗi khi trên thế giới có tử tội được cải án thành chung thân hay được tha hoặc có một quốc gia tuyên bố bãi bỏ án tử hình, thì tất cả những ánh đèn trắng trên Hí trường đều được biến thành vàng (x.Wikipedia, Colosseum).
Colosseo vẫn còn đó như một di tích lịch sử. Nó không chỉ nói lên nét huy hoàng, sự phồn hoa của một trong những đế quốc hùng mạnh nhứt trong lịch sử nhân loại, mà còn tố cáo sự độc ác dã man của con người đối với người đồng loại của mình. Đứng trước di tích này cũng như bao nhiêu cung điện, đền đài và di tích lịch sử khác, một du khách Việt Nam như tôi không thể không nhớ lại hai câu thơ nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan (1808-1848): “Nghìn năm gương cũ soi kim cổ, cảnh đấy người đây luống đoạn trường”. Tham vọng, danh vọng, quyền lực thống trị và ngay cả sự độc ác của con người cuối cùng rồi cũng bị chôn vùi trong đóng tro tàn của lịch sử!
Không riêng đối với Hí trường cổ Colosseo, mỗi lần bước vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô cũng ở Roma, tôi cũng không khỏi chạnh lòng tưởng nghĩ đến một trong những giai đoạn lịch sử đen tối của Giáo Hội của tôi. Ngôi giáo đường nguy nga đồ sộ ấy không chỉ nói lên óc sáng tạo, nghệ thuật và nhứt là sự đóng góp quảng đại và hy sinh của các tín hữu, mà cũng gợi lên vô số những lạm dụng và khai thác lòng tin của các tín hữu từ phía các nhà lãnh đạo Giáo hội thời đó. Cụ thể là chuyện buôn bán các “ân xá”. Thừa lệnh của các đức giáo hoàng, các nhà thuyết giảng đi khắp nơi để kêu gọi giáo dân đóng góp với lời bảo đảm rằng các linh hồn bị “giam” trong luyện ngục sẽ được “lên thẳng” Thiên Đàng nếu được người thân bỏ tiền ra đóng góp cho công cuộc xây dựng vương cung thánh đường. Số phận của những người quá cố được các nhà lãnh đạo Giáo hội mang ra mặc cả và mua bán chẳng khác nào của cải trần thế. Phải có những người tỉnh thức và can đảm như nhà Cải Cách Tin Lành Martin Luther mới dám lên tiếng tố cáo những lạm dụng có tính cách buôn thánh bán thần ấy. Dù cho tiếng nói của Martin Luther  có dẫn đến sự rạn nứt trong Giáo hội, làm phát sinh những cộng đồng Thiên Chúa giáo mới, tiếng nói ấy cũng đã ít hay nhiều  cảnh tỉnh các nhà lãnh đạo Giáo hội để tiến hành những cuộc cải tổ cần thiết.
Trong những ngày vừa qua, tôi đã cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của những cử chỉ đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa của Đức tân giáo hoàng Phanxicô. So sánh sự phục sức, một vài biểu tượng nhỏ mang trên người của Đức Phanxicô với các vị tiền nhiệm của ngài, tôi nghĩ đến một sứ điệp sâu xa hơn: dường như vị giáo hoàng đã từng có cuộc sống đơn sơ, nghèo khó, hòa đồng với những người bình dân này muốn nhắn gởi với toàn thể Giáo hội rằng đã đến lúc cần phải làm một cuộc trở về tận căn với cốt lỏi của Tin Mừng như Chúa Giêsu đã sống và đã rao giảng.
Có lẽ vị giáo hoàng này muốn cho toàn thể Giáo hội, cách riêng các nhà lãnh đạo Giáo hội, nhớ lại rằng Chúa Giêsu đã sống không nhà và đã chết trần truồng trên thập giá. Chúa Giêsu đã không xây dựng hay kêu gọi xây dựng bất cứ một cung điện, một triều đình hay ngay cả một ngôi thánh đường nào. Ngài cũng chẳng để lại một lệnh truyền nào bảo các vị “chủ chiên” trong Giáo hội phải đội mão, cầm gậy (nhứt là gậy vàng) và mặc những phẩm phục uy nghi sang trọng . Trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, khi truyền lệnh cho các ông “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thày”, có lẽ Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi lập lại bữa ăn ấy, Ngài còn có ý nói đến cử chỉ rửa chân mà Ngài vừa thực hiện. Quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, Ngài đã cư xử như một đầy tớ. Đó là cử chỉ mà Ngài muốn nhấn mạnh hơn cả: hãy làm lại điều đó cho nhau, nghĩa là hãy lấy tình thương mà phục vụ nhau. Không có cử chỉ ấy thì việc cử hành “bữa tiệc” sẽ không có đầy đủ ý nghĩa. Đó là tất cả cốt lõi của Đạo mà Chúa Giêsu muốn để lại. Cái chết trên thập giá của Ngài là đỉnh điểm của cả một cuộc đời phục vụ, hy sinh và yêu thương của Ngài.
Suy nghĩ về cốt lõi của Đạo như được Chúa Giêsu để lại, tôi lại nhận ra một chân lý khác trong cuộc sống con người: điều làm cho con người trở nên bất tử không phải là những kim tự tháp, những công trình xây dựng đồ sộ hay ngay cả cái xác được ướp và cất giữ trong lăng tẩm, mà chính là tình thương. Lăng tẩm, đền đài, dinh thự và ngay cả những ngôi giáo đường nguy nga tráng lệ rốt cục rồi cũng mai một với thời gian. Chỉ có tình thương mới thực sự là kho tàng có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Ngoài ra, mọi thứ trên đời này đều như qua đi như gió thoảng, như mây trôi.
Nghĩ như thế mà thấy mừng cho ông Hugo Chavez, tổng thống Venezuela vừa mới qua đời cách đây vài tuần. Suýt chút nữa thì lại lâm vào cảnh không được “rest in peace” (chữ thường được khắc trên bia mộ, RIP, tạm dịch, hãy nghỉ yên). Cái xác của ông dù sao cũng có “hậu vận” tốt hơn cái xác ướp Lenin bên Nga. Chủ nghĩa cộng sản đã tồn tại ở Đông Âu và Nga không tới một thế kỷ. Một thế kỷ có là gì trong lịch sử nhân loại? Bao nhiêu bức tượng của Lenin trên khắp thế giới cựu cộng sản đã bị kéo sập xuống. Còn cái xác ướp nay đã thành “của nợ” thì người ta không biết phải “giải quyết” như thế nào cho phải đạo đối với một con người. Cùng với cái thứ chủ nghĩa đã sát hại hằng trăm triệu con người, Lenin để lại gì nếu không phải là sự nguyền rủa của hậu thế.
Người Việt chúng ta có câu: “Trâu chết để da, người ta chết để tiếng”. Con trâu, sau khi bị xẻ thịt, còn để lại bộ da cho người ta dùng làm trống. Con người ra đi chỉ để lại tiếng. Tiếng của một đời sống tử tế, gieo rắc tình thương, phục vụ, hy sinh cho người đồng loại thì mãi mãi được nhắc nhớ. Còn tiếng của cả một đời chỉ biết chạy theo quyền lực, gây thù chuốt oán, dĩ nhiên cũng được nhớ đến, nhưng nhớ đến như một nỗi ám ảnh mà thôi.
Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, với hình ảnh của một vị giáo hoàng đang cố gắng gột bỏ những phù phiếm đã bám vào khuôn mặt của Giáo hội từ hai ngàn năm nay, tôi nhìn lên hình ảnh trần truồng của Chúa Giêsu trên thập giá. Đã hai ngàn năm qua, mọi đế quốc đều sụp đổ, bao nhiêu cung điện, đền đài, điện thờ và ngay cả nhiều nơi thờ phượng cũng đều qua đi. Duy sức mạnh của thập giá thì vẫn mãi mãi còn đó, bởi vì thập giá chính là Tình Thương.
Người ta thường mừng các ngày lễ như một cách thế để tưởng nhớ lại những gì đã xảy ra trong quá khứ và vẫn còn mang ý nghĩa trong hiện tại. Riêng tôi trong mùa Phục sinh này tôi mừng trong cái nhìn hướng về tương lai. Một tương lai mà mọi người có thể gạt bỏ rào cản của thành kiến, sự khác biệt, luật lệ, nghi lễ, truyền thống hay khuôn khổ để dễ dàng đến với nhau, nghĩ tốt cho nhau và làm mọi sự tốt đẹp cho nhau. Đơn giản hơn, đến với nhau như “người đến với người”.




Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Một thời để làm thinh.



Chu Thập
3.4.12

Hôm nay là ngày mà các tín hữu Kitô Việt nam cũng như tại hầu hết mọi nơi trên thế giới gọi là “Thứ Sáu Tuần Thánh”. Ở Úc, ngày này được gọi là “Good Friday”, một ngày nghỉ lễ (Public Holiday). Tôi không biết “good” có đồng nghĩa với “thánh” không. Nhưng cứ sự thường, “good” chỉ có nghĩa là tốt đẹp mà thôi. Ngày tưởng niệm Chúa Giêsu chết được gọi “Good” (tốt) là phải, bởi vì ra đường thấy đâu đâu cũng có người lên đường đi nghỉ lễ Phục Sinh và sinh hoạt có khi lại còn náo nhiệt hơn ngày thường. Trái với bầu khí vui chơi nhộn nhịp này, vào các nhà thờ ở Việt nam, nhứt là ở miền Bắc hay khu “Bắc kỳ di cư” ở miền Nam, người ta chỉ thấy toàn một mầu tang chế buồn thảm: nhà thờ trắng xóa khăn tang, giọng “ngắm nhân tài” hay “ngắm đứng” nghe thật não nuột!
Ở những nước nói tiếng Anh, người ta còn gọi Ngày thứ sáu tuần thánh là “Black Friday” (thứ sáu tối đen). Kiểu nói này xem ra gợi hình và gần với Kinh Thánh hơn cả, bởi vì Kinh Thánh viết rằng khi Chúa Giêsu tắt thở thì “bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu (3 giờ chiều), thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ 9. Mặt trời ngưng chiếu sáng” (Lc. 23,44-45). Tại Phi luật tân, quốc gia có đông người công giáo nhứt Á châu, thứ sáu tuần thánh đúng là một ngày “tối đen”. Ở quốc gia mà Đạo công giáo được người Tây ban nha mang đến ngang qua ngã Mễ Tây Cơ cùng với vô số tập tục lỉnh kỉnh của Châu Mỹ Latinh này, Thứ Sáu Tuần Thánh được tuân giữ một cách triệt để nhứt. Không kể đến những vụ đóng đinh “thật sự” được tổ chức tại một làng quê cách thủ đô Manila khoảng 60 cây số về hướng Bắc cũng như cảnh những người trùm đầu, mình trần, đi chân không giữa cái nắng trên 35 độ C, dùng roi sắt quất vào người cho đến khi máu chảy đầm đìa...cả nước Phi luật tân hầu như chìm ngập trong “tăm tối” của ngày thứ sáu tuần thánh. Ở một nước mà tiếng động cơ máy nổ đủ loại hoạt động suốt ngày đêm, tạo ra một thứ ô nhiễm âm thanh khủng khiếp, người ta có cảm tưởng như mọi thứ đều ngưng lại trong ngày thứ sáu tuần thánh, cứ như là bị “black out” (cúp điện) toàn diện. Công sở, hãng xưởng, trường học, chợ búa, hàng quán đóng cửa đã đành, mà các phương tiện di chuyển công cộng cũng chẳng có hay bị hạn chế tối đa. Bình thường, cứ 4, 5 giờ sáng, người dân Phi đã thức giấc và tuốn ra các ngã đường. Nhưng hôm nay, người ta kiêng cữ đến độ không dám ra khỏi nhà. Bốn bề yên lặng. Tôi có cảm tưởng như mỗi năm người dân hải đảo vốn thích ca hát ồn ào này dành ngày thứ sáu tuần thánh để tập sống thinh lặng. Sống và làm việc tại Phi luật tân một thời gian, tôi nhận thấy đây là “bài học” cần thiết hơn bất cứ môn học nào.
Bài học vỡ lòng mà người Việt nam nào cũng phải học là “học ăn, học nói...” Tôi thấy chẳng có cha mẹ nào dạy con phải học “im lặng” cả. Mãi cho đến khi lên Trung Học, bắt đầu tập làm văn “nghị luận”, học sinh mới được dạy để bình câu “lời nói là bạc,thinh lặng là vàng”. Đây là dịp để làm quen với bao lời dạy của các bậc thánh hiền Đông Tây về sự thinh lặng. Nhìn  chung, ở đâu và thời nào con người cũng đề cao và trân quý sự thinh lặng. Ở Á đông, những người có tham vọng ra “làm quan” thường tìm một nơi hẻo lánh để ở ẩn chờ thời. Bên trời Tây, các bậc thức giả hay nhà khoa học cũng giam mình trong thinh lặng để nghiền ngẫm và nghiên cứu. Gặp lúc buộc phải lên tiếng nói nhưng lại im lặng, thì im lặng có thể là một thái độ ích kỷ, hèn nhát hay thiếu trách nhiệm. Nhưng im lặng, nhứt là khi bị bịt miệng, có khi lại là tiếng nói mạnh mẽ, hùng hồn hơn cả.
Mới đây, cuốn phim “câm” và trắng đen có tựa đề “The Artist” (người nghệ sĩ) đã gây chấn động tại thủ đô điện ảnh Hollywood. Sự kiện cuốn phim “câm” này đạt được nhiều giải thưởng tại liên hoan phim Cannes, Pháp, 7 giải BAFTA tại Anh Quốc và giựt được đến 20 giải Oscar tại Hoa kỳ hôm 26 tháng 2 vừa qua, cho thấy giá trị và ý nghĩa của cuốn phim. Sau khi nhận giải Oscar, đạo diễn của phim “The Artist” là ông Michel Hazanavicius đã so sánh tiếng nói với sự thinh lặng như sau: “Tiếng nói hữu dụng, nhưng chỉ hữu dụng thôi. Tuy nhiên, nó cũng làm giảm giá trị của truyền thông. Khi một đứa trẻ không biết nói, cười với bạn, làm bạn xúc động, khác với cái cười của người lớn. Ngay cả với những người bạn yêu, không phải lúc nào bạn cũng dùng lời nói để biểu lộ những việc quan trọng. Tôi nghĩ khi bạn không cần phải nói, đó mới thực sự là sức mạnh” (x. Đinh Từ Thức, The Artist, Oscars và Cộng sản, Việt luận 23/3/2012).
Cuốn phim “câm” và trắng đen này không thể không gợi lại cho những người say mê điện ảnh những cuốn phim “câm” của Charlie Chaplin (1889-1977) vào thời kỳ phôi thai của nghệ thuật thứ bảy. Diễn viên kiêm đạo diễn người Anh mà lúc nhỏ chúng ta quen gọi là “Charlot” này đã mang lại cho chúng ta không chỉ những trận cười “nghiêng ngả”, mà còn khơi gợi những suy tư nhức nhối về thân phận con người, khiến chúng ta không chỉ cười mà còn muốn khóc là khác. Không cần một lời nói, thiên tài điện ảnh này đã khiến chúng ta cười ra nước mắt theo đúng nghĩa. Ông đã thể hiện đúng chức năng của “phim ảnh”: nói mà không cần phải dùng lời nói! Bởi lẽ, như đạo diễn Hazanavicius đã nói, lời nói “cũng làm giảm giá trị của truyền thông”.
Ở thời đại thông tin toàn cầu này, cứ tưởng “nghe-nhìn” (audio-video) là hoạt động chính, nhưng dường như con người lại nói nhiều hơn nghe nhìn. Theo tôi, một trong những hình ảnh tiêu biểu nhứt của thời đại thông tin toàn cầu này chính là chiếc điện thoại di động. Hãy thử gia nhập vào một đoàn người đang chen chúc nhau trên những đường phố nhộn nhịp nhứt của những thành phố lớn. Hình ảnh dễ thấy nhứt vẫn là cảnh người người vừa đi vừa áp điện thoại di động vào tai để nói. Vừa đi vừa khoa tay múa chân vừa cười cười nói nói, họ chen chúc trong đám đông mà y như chỗ không người. Không gì buồn cười bằng khi nghe có tiếng người đang nói sau lưng mình. Quay lại thấy họ đang nói chuyện với ai đó, nhưng thoạt nhìn cứ tưởng như họ đang nói “xàm” một mình. Truyền thông mà cứ như “độc thoại”. Ở thời đại mà những phương tiện truyền thông ngày càng tối tân tưởng có sức “nối mạng” làm cho con người ở xa gần gũi với nhau hơn, trong thực tế lại càng làm cho con người đang sát gần nhau trở nên xa lạ hơn. Nếu có “liên kết” với nhau thì cái mạng lưới ấy có khi cũng chỉ là một thế giới ảo. Trong thế giới ấy, càng muốn “nói”, càng muốn “giải bày” thì con người lại càng cô đơn hơn.
Bớt nói để biết lắng nghe hơn: đó là nguyên tắc thực tiễn mà ông Dale Carnegie đã đề ra trong cuốn sách “Đắc nhân tâm” (How to win friends and influence people). Trong chương tư (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê), Dale Carnegie kể lại rằng một hôm ông được mời dự tiệc. Trong câu chuyện trao đổi sau bữa tiệc, một người phụ nữ muốn ông kể về những danh lam thắng cảnh ở Âu Châu. Biết người đàn bà này vừa mới thực hiện một chuyến du lịch ở Phi Châu, ông Carnegie chỉ nói vài câu rồi gợi ý cho bà kể lại chuyến đi. Ông ghi lại rằng người đàn bà liền thao thao bất tuyệt trong 45 phút đồng hồ mà chẳng còn ngó ngàng gì đến những thắng cảnh ở Âu châu nữa. Ông thấy rằng người đàn bà này “chỉ muốn gặp được người chăm chú nghe để bà có cái vui được dịp nói về mình và những kỷ niệm của mình”. Theo ông, có vô số người như người phụ nữ này. “Tất cả chúng ta đều muốn diễn thuyết khi có người chăm chú nghe ta”.
Trong một bữa cơm tối khác, Carnegie cũng lân la đến gần một nhà thực vật học nổi tiếng. Ông gợi ý cho nhà khoa học này nói về những kiến thức khoa học của mình. Thế là bài lecture (giảng huấn) của nhà khoa học kéo dài cho đến nửa đêm. Carnegie đành xin phép ra về. Sau đó, có người cho hay rằng khi ông “vừa ra khỏi phòng, nhà thông thái đó quay lại nói với ông chủ nhà rằng Carnegie là một người “ăn nói có duyên”. Kỳ thực, trong suốt buổi nói chuyện, ông chỉ là người gợi chuyện cho nhà thông thái “bày tỏ” kiến thức của mình.
Tác giả kể lại rất nhiều giai thoại như thế và kết luận rằng “người nói chuyện với ta quan tâm tới những thị dục, những vấn đề của họ trăm phần thì chỉ quan tâm đến ta, đến nỗi thắc mắc của ta một phần thôi. Bệnh nhức răng dày vò người đó hơn là cảnh đói kém làm chết cả triệu dân Trung quốc. Một cái nhọt tai ở cổ người đó làm cho người đó lo lắng hơn bốn chục nạn động đất ở Châu Phi. Lần sau, có nói chuyện với ai, xin bạn nhớ tới điều đó”.
Thinh lặng là để lắng nghe và lắng nghe trước tiên là lắng nghe người khác. Có khi thinh lặng chỉ là mồ chôn của sự cô đơn. Người ta thinh lặng là chỉ để “bế quan tỏa cảng” với người khác hay để gậm nhấm những buồn phiền, nỗi đau hay cơn giận của mình. Một cánh cửa đóng sầm lại: đó là hình ảnh chúng ta thường thấy về sự thinh lặng này. Dù có được thực thi với một kỷ luật sắt hay trong một bầu khí trang nghiêm đến đâu, một sự thinh lặng như thế chỉ gia tăng sự cô đơn của con người mà thôi. Trong một số tu viện Kitô giáo, thinh lặng luôn được xem là quy luật nghiêm nhặt nhứt. Có những tu viện, mỗi năm các tu sĩ chỉ được nói chuyện một ngày. Có người lại bi thảm hóa đời sống tu trì đến độ tưởng tượng ra rằng mỗi năm các tu sĩ chỉ được phép nói một câu. Thành ra mới có chuyện kể rằng trong một tu viện nọ, phải ăn cái món “súp” mặn chát, mà các tu sĩ phải “cắn răng”  chịu đựng. Năm đầu, khi được nói một câu, một vị tu sĩ hình như chỉ chờ có bấy nhiêu để “dành” cái câu nói “quý báu” cho người phụ trách nhà bếp:  “Súp mặn quá”.  Vậy mà đâu vẫn vào đó. Người phụ trách nhà bếp, có lẽ vì muốn cho các anh em của mình tiến tới trong “đàng nhân đức” chăng, vẫn cứ mạnh tay cho muối vào súp. Chờ đúng một năm sau, nhân đức có gia tăng cho anh em tu sĩ không thì không rõ nhưng nhà bếp lại cũng nhận cái “đặc ân” năm ngoái: “Súp vẫn mặn”.
Chuyện nghe như đùa. Nhưng trong cái thế giới nhỏ bé của một tu viện, có khi người ta thinh lặng không phải để ra khỏi chính mình và lắng nghe tiếng nói của người khác hay tu tập thêm một thứ nhân đức siêu phàm nào, mà chỉ để gậm nhấm nỗi đau khổ và cô đơn của mình.
Thinh lặng là để lắng nghe người khác. Nhưng để có thể lắng nghe người khác, con người cũng cần phải biết lắng nghe chính mình. Người ta có thể bịt tai để không nghe người khác hay những ồn ào náo nhiệt của thế giới bên ngoài, nhưng không ai có thể chạy trốn khỏi tiếng nói lương tâm của mình. Ở đó, trong thẩm cung của cõi lòng, ta nghe được phán quyết về những hành vi của mình cũng như mệnh lệnh “hãy làm điều thiện và tránh điều ác”. Đây là tiếng nói mà tôi vẫn nghe được khi dạo bước trong vườn vào buổi sáng sớm hay lúc chiều tà. Đó là những giây phút tôi trân quý nhứt, bởi vì trong khung cảnh thanh vắng và khi mọi sự đã lắng đọng, tôi thấy mình mới có thể trở về với chính mình và lắng nghe được tiếng nói sâu thẳm từ nội tâm.
Lắng nghe người khác, lắng nghe tiếng nói sâu thẳm của lương tâm, là người tín hữu Kitô, tôi cũng luôn được mời gọi để lắng nghe tiếng nói của Chúa. Mẹ Teresa Calcutta (1910- 1997) người nữ tu gốc Albani suốt một đời tận tụy phục vụ những người thấp bé và khốn khổ nhứt trong xã hội, đã nói: “Chính trong thinh lặng của cõi lòng mà Thiên Chúa nói. Nếu bạn tìm kiếm Ngài trong cầu nguyện và thinh lặng, Ngài sẽ nói với bạn. Lúc đó, bạn sẽ biết rằng bạn là hư không. Và chỉ khi nào bạn ý thức được sự hư không, trống rỗng của bạn, Thiên Chúa mới có thể lấp đầy bạn bằng chính Ngài. Những tâm hồn cầu nguyện là những tâm hồn biết thinh lặng” (trích trong Mother Teresa, In the Heart of the World: thoughts, Stories and Prayers). Mẹ cũng khuyên: “Chúng ta cần phải tìm kiếm Chúa và Ngài không thể tìm gặp trong nơi ồn ào, náo nhiệt. Chúa là bạn của thinh lặng. Hãy nhìn thiên nhiên: cỏ cây, bông hoa đều lớn lên trong thinh lặng. Hãy nhìn trăng sao và mặt trời: chúng di chuyển trong thinh lặng...”
Thật vậy, ngay cả sự kiện Chúa Phục sinh cũng xảy ra trong thinh lặng. Thinh lặng giúp con người trở nên chín chắn và trưởng thành trong suy nghĩ để từ đó sẵn sàng và nhứt là dám lên tiếng.