Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

Chết bởi Dối Trá

 






Chu Văn

Trong những ngày này, cứ mỗi lần nhìn vào những gì đã và đang diễn ra tại Afghanistan, tôi lại thấy cay mắt. Là một người Việt Nam đã từng sống qua những năm tháng hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa kể từ khi cố Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến Trung Quốc để bắt tay với thủ tướng nước này là ông Chu Ân Lai hồi năm 1972, tôi cũng nhìn về  Kabul ngày 15 tháng Tám năm 2021 như  một phiên bản chắc nịch của Sài Gòn ngày 30 tháng Tư năm 1975. Có lẽ chỉ có người Việt Nam mới dành độc quyền trong việc thấu hiểu và cảm thông với nỗi đau tột cùng hiện nay của người dân Afghanistan. Và có lẽ cũng chỉ có người Việt Nam và người dân Afghanistan mới thấm thía được nỗi chua xót khi bị Hoa Kỳ phản bội. Vì điều được gọi là “quyền lợi” của mình, Hoa Kỳ đã phản bội đồng minh, Hoa Kỳ đã bán đứng đồng minh, Hoa Kỳ đã bỏ rơi đồng minh. Một người mà tôi đã đặt nhiều tin tưởng và kỳ vọng vào như đương kim Tổng thống Joe Biden, rốt cục cũng đi theo lối mòn cũ là sẵn sàng phản bội đồng minh của mình. Thế giới chưa kịp thấy “Hoa Kỳ trở lại” (America is back) như thế nào thì nay với việc tháo chạy khỏi Afghanistan, người ta chỉ thấy một “Hoa Kỳ trước tiên” (America First) của người tiền nhiệm của ông. Với tôi là một người Việt Nam mà đất nước đã từng bị Hoa Kỳ bỏ rơi cho chết tức tưởi kể từ năm 1972, Hoa Kỳ không phải là một nước đáng tin cậy. Tôi tin chắc rằng người dân Afghanistan hiện nay cũng đều có cùng một cảm nghĩ như tôi.

Một ngày sau khi Thủ đô Kabul thất thủ,  một ký giả Afghan đã từng làm việc cho một số cơ quan truyền thông của Mỹ và hiện đang lẩn trốn, đã gởi đến báo Politico một lá thư ngắn để nói lên nỗi thất vọng của mình về việc Hoa Kỳ bỏ rơi Afghanistan: “Chúng tôi cứ tưởng người Mỹ sẽ không bỏ rơi chúng tôi, nhưng đây là điều xem ra đang xảy ra ngay bây giờ đây. Chúng tôi đã không bao giờ tưởng tượng và tin rằng điều này sẽ xảy ra. Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng rằng chúng tôi có thể bị Hoa Kỳ phản bội một cách tồi tệ như thế. Cái cảm giác bị phản bội...Tôi đã dâng hiến cả cuộc đời của tôi cho những giá trị (của Hoa Kỳ). Người ta đã hứa hẹn đủ điều, người ta đã cam kết đủ điều. Người ta đã nói nhiều về các giá trị, về sự tiến bộ, về các quyền, về quyền của người phụ nữ, về tự do, về dân chủ. Tất cả những điều đó đều rỗng tuếch...

Người dân ở đây đã sửng sốt (vì việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Afghanistan). Họ đã không bao giờ có thể tưởng tượng được điều đó. Nếu họ (người Mỹ) bỏ rơi chúng tôi, thì có lẽ sẽ có hàng chục ngàn người bị giết chết. Và bạn biết: Hoa Kỳ sẽ không còn có đủ uy tín để đi khắp nơi để nói: “Chúng tôi tin ở nhân quyền. Chúng tôi chiến đấu cho nhân quyền và dân chủ”.

Tôi không màng ông Trump hay Biden, ai là tổng thống Mỹ. Tôi đã đặt tin tưởng vào nước Mỹ. Nhưng theo tôi đây là một sai lầm lớn...

Tôi phó thác số phận của tôi cho Thượng Đế. Bởi lẽ tôi không còn tin tưởng ai nữa”(1).

Một người Afghan khác được may mắn rời khỏi đất nước cách đây không lâu và hiện đang định cư tại Hoa Kỳ. Trong một cuộc nói chuyện với một phóng viên của báo The Atlantic, ông cho biết: gia đình ông có 4 anh em trai, tất cả đều phục vụ trong quân ngũ và đã sát cánh với quân đội Mỹ đồn trú tại Afghanistan. Ông và 2 người em kế được đến Hoa Kỳ theo chương trình “Di dân Đặc biệt (Special Immigrant Visa), nhưng người em út còn bị kẹt lại trong nước và hiện đang lẩn trốn trước các cuộc truy lùng của Taliban. Ông đã liên lạc với Tòa Bạch Ốc, với Bộ ngoại giao, với các thượng nghị sĩ và dân biểu. Ngày nào thức dậy ông cũng theo dõi tin tức và nghe Tổng thống Biden và Bộ ngoại giao nói: “Chúng tôi không hề bỏ rơi đồng minh của chúng tôi”. Người cựu chiến binh Afghan đành thốt lên: “Đây là một lời dối trá hoàn toàn”.

Ở cuối cuộc nói chuyện, ông so sánh Kabul với Sài Gòn cách đây 46 năm: “Tôi đã mất niềm tin. Tôi đã đặt tin tưởng vào một quốc gia mà tôi đã hiến dâng cả cuộc đời cho. Chúng tôi đã chứng kiến những điều đã xảy ra chẳng khác gì ở Sài Gòn vào năm 1975”(2).

Phản bội đồng nghĩa với dối trá. Đây là điều mà cũng như người dân Afghan, tôi đã học được kể từ khi Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1972.

Trong một cuộc vận động bầu cử hồi năm 2020, ứng cử viên Joe Biden đã khẳng định: “Tôi sẽ luôn luôn nói sự thật với quý vị. Đây là trách nhiệm của một tổng thống. Đây là món nợ phải trả cho nhân dân Mỹ”. Và trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20 tháng Giêng năm 2021, Tổng thống Biden nhấn mạnh: “Có sự thật và có những lời dối trá”. Và ông cam kết: “Tôi sẽ luôn luôn tỏ ra thành thật với quý vị”. Cam kết “nói sự thật và chỉ nói sự thật”, ngày 8 tháng Bảy 2021, Tổng thống Biden mở cuộc họp báo để nói về quyết định rút quân Mỹ ra khỏi Afghanistan. Ông khẳng định: Taliban không thể nào chiếm được nước này và Sài Gòn 30 tháng Tư năm 1975 sẽ không bao giờ tái diễn cho người dân nước này. Ông nói: “Sẽ không có bất cứ trường hợp nào bạn sẽ thấy dân chúng bị di tản từ mái nhà của một tòa đại sứ” và xét về khả năng, Taliban không thể địch lại với quân đội Afghanistan(3).

Và sự thật đã diễn ra hoàn toàn trái ngược với những khẳng định chắc nịch của Tổng thống Biden. Một chính trị gia lão luyện như Tổng thống Biden lẽ nào không “biết trước” những gì sẽ xảy ra cho Afghanistan khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi nước này. “Các tiết lộ mới đây từ Nhà Trắng cho biết trong quyết định về Afghanistan, Biden đã bất chấp ý kiến của các tướng lãnh, kể cả tổng tham mưu trưởng Mark Milley”(4).

Mới đây, trong một cuộc phỏng vấn với Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Anthony Blinken, ký giả Chris Wallace của Đài Fox News  cũng đã “kiểm chứng sự thật” về một số tuyên bố của Tổng thống Biden. Chẳng hạn, Tổng thống Mỹ bảo “tổ chức khủng bố al-Qaeda đã bị tiêu diệt” và ông “không hề nghe bất cứ một lời chỉ trích nào từ phía các nước đồng minh” về việc Mỹ rút quân ra khỏi Afghanistan. Theo ký giả Wallace, Tổng thống Biden đã đưa ra những tuyên bố không đúng sự thật hay đánh lừa dư luận. Ký giả này nói: “Lời nói quan trọng và những lời từ miệng của tổng thống quan trọng hơn cả”(5).

“Lời nói quan trọng và những lời từ miệng của tổng thống quan trọng hơn cả”. Kể từ khi người dân Mỹ đã bầu một tên lưu manh, lừa đảo và dối trá không biết ngượng miệng lên làm tổng thống, Hoa Kỳ chìm ngập trong dối trá. Sự dối trá ăn sâu vào mọi khía cạnh của cuộc sống khiến cho Hoa Kỳ, theo nhận định của nhà bình luận nổi tiếng Francis Fukuyama trong một bài báo được đăng trên báo The Economist, “xã hội Mỹ chia rẽ sâu sắc, rất khó tìm được đồng thuận về bất cứ thứ gì”(6). Tất cả chỉ vì dối trá. Khi người dân của một quốc gia bầu một tên lưu manh, lừa đảo và dối trá không biết ngượng miệng lên làm tổng thống thì có điều gì tệ hại nhứt cho dân tộc đó mà không thể xảy ra.

Dối trá dẫn đến cái chết. Đây là điều mà thế giới đã chứng kiến tại Hoa Kỳ khi đại dịch Covid-19 bùng nổ. Với dân số chỉ chiếm có 4 phần trăm dân số thế giới, nhưng Hoa Kỳ “chiếm” đến 20 phần trăm số người chết vì Covid-19. Tất cả chỉ vì những lời dối trá của một kẻ dối trá được dân bầu lên lãnh đạo đất nước. Điều tệ hại nhứt là sau khi đã bị hạ bệ, con người dối trá ấy vẫn tiếp tục nhận chìm gần như cả nước trong dối trá. Người dân bị lừa đảo đã đành, mà cả một đảng chính trị đã từng góp phần  đưa đất nước lên địa vị đệ nhứt siêu cường thế giới nay trở thành khiếp nhược và ngay cả sùng bái một tên ma đầu giáo chủ của dối trá.

Năm 2011, giáo sư kinh tế Mỹ Peter Navarro đã cho trình làng một cuộc nghiên cứu của ông với tựa đề “Chết bởi Trung Quốc” ( Death by China). Theo các nhà phân tích, tác phẩm có nhiều lỗ hổng, bởi vì tác giả không phải là một chuyên gia về “Trung quốc học”. Tuy nhiên tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm đã phơi bày một sự thật rất rõ ràng: Trung Quốc đã và đang đầu độc cả thế giới với những sản phẩm độc hại của mình. Nhìn vào xã hội Mỹ hiện nay, tôi cũng muốn nhại lại tựa đề của cuốn sách của ông Navarro để nói rằng quốc gia này đang “chết bởi dối trá”. Đại dịch Covid-19 là một bằng chứng hiển nhiên nhứt. Giàu có nhứt, y khoa cũng tiến bộ nhứt thế giới, lại thừa mứa thuốc chủng ngừa,  nhưng lại bị nhiễm và chết vì Covid-19 nhiều nhứt thế giới. Tất cả cũng vì những lời dối trá của một nhà lãnh đạo dốt nát, ngu xuẩn và vô đạo. Kẻ dối trá ấy lại vẫn tiếp tục lôi kéo người dân vào chỗ chết, như thế giới đang chứng kiến tại rất nhiều tiểu bang Mỹ hiện nay.

Dối trá lúc nào cũng dẫn đến cái chết. Trong đại dịch cũng như trong các toan tính chính trị. Tôi đã trải qua những năm tháng hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa khi bị Hoa Kỳ bỏ rơi. Tôi đang chứng kiến những gì đang xảy ra cho người dân Afghan khi bị Hoa Kỳ phản bội. Không chỉ có những dân tộc nhược tiểu chết vì sự phản bội của Hoa Kỳ. Chính Hoa Kỳ  cũng đang “giẫy chết” vì dối trá.

Hầu như người Việt Nam nào ở tuổi tôi cũng đều có ở “đầu giường” quyển “Cổ học tinh hoa” do 2 tác giả Nguyễn văn Ngọc và Trần lê Nhân biên soạn hồi năm 1926. Chuyện Việt Nam Cộng Hòa và Afghanistan bị Mỹ  bỏ rơi khiến tôi nhớ tới bài học về cái đỉnh của chữ Tín được ghi lại trong cuốn sách. Thời Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu, nước Tề hiếp đáp nước Lỗ. Biết nước Lỗ có một cái đỉnh rất quý, vua Tề bắt phải đem sang triều cống. Vua Lỗ tiếc lắm cho nên mới sai làm một cái đỉnh giả và sai một vị quan là Nhạc Chính Tử mang qua cho vua Tề. Nhạc Chính Tử hỏi: “Tại sao không đưa cái đỉnh thật?” Vua Lỗ báo: “Ta quý cái đỉnh ấy lắm”. Nhạc Chính Tử tâu: “Bệ hạ quý cái đỉnh ấy thế nào thì hạ thần quý cái đức “Tín” của hạ thần như thế”. Vua Lỗ nghe có lý phải đưa cái đỉnh thật ra và Nhạc Chính Tử mới chịu thi hành sứ mệnh của mình.

Một chữ “chi” trong Hán văn, tôi cũng không viết nổi, nhưng lại nhớ một câu của vua Tấn Văn Công thời Đông Chu Liệt Quốc là: “Tín vi quốc chi bảo” được dịch là “Tín là cái báu của cả nước”.

“ Tín là cái báu của cả nước” cho nên cũng là cái báu của mỗi người dân. Đánh mất chữ tín là đánh mất chính mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

Chú thích

 

1.”I believed in the U.S. But that turned out to be such a big mistake” https://www.politico.com/news/2021/08/15/afghan-journalist-kabul-504862

 

2.America’sLie https://www.theatlantic.com/international/archive/2021/08/america-afghanistan-taliban-interpreter-contractor/619846/

 

3.Biden campaigned as a truth teller. Afghanistan undermined his credibility https://www.politico.com/news/magazine/2021/08/18/biden-truth-afghanistan-credibility-506192

 

4.Nguyễn Gia Kiểng, Sau Việt Nam 1975, thông điệp Afghanistan 2021 https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/22451-sau-vi-t-nam-1975-thong-di-p-afghanistan-2021

 

5.”Flat wrong”: Fox’s Chris Wallace presses secretary of state on Biden, Afghanistan https://www.yahoo.com/news/chris-wallace-anthony-blinken-afghanistan-biden-174853926.html

 

6. Tương lai quyền lực của Hoa Kỳ: bàn luận của Francis Fukuyama về sự chấm dứt bá quyền của Hoa Kỳ https://baotiengdan.com/2021/08/20/tuong-lai-quyen-luc-cua-nuoc-hoa-ky-ban-luan-cua-francis-fukuyama-ve-su-cham-dut-ba-quyen-cua-hoa-ky/

 

 

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2021

Tự do và Tình người

 


Chu Văn

Thời đại dịch, ở đâu cũng thấy có những hiện tượng giống nhau. Ở đâu cũng có chết chóc, ở đâu cũng có phong tỏa. Nhưng dường như chỉ có ở Việt Nam mới có hiện tượng người dân bỏ chạy. “Chạy đến vô cùng”, như một tác giả ở Sài Gòn đã chua xót ghi nhận. Chạy tứ phía. Già cũng chạy. Trẻ con mới 10 ngày tuổi cũng chạy. Chạy bằng mọi phương tiện, từ xe gắn máy đến xe đạp và ngay cả đi bộ. Chạy đến gần cả ngàn cây số. Ngày chạy, đêm ngủ vất vưởng dọc đường. “Lý do họ rời bỏ Sài Gòn, bởi không còn tin tưởng vào các chính sách chống dịch của nhà cầm quyền, và cũng không đủ sức để cầm cự thêm nữa khi mất việc, không còn gì để sống tiếp nay mai. Hẳn nhiên, chính quyền (thành phố) Hồ Chí Minh đang nợ những con người này một lời xin lỗi, vì đã không cưu mang họ được, qua những tháng ngày này, bất chấp việc tuyên truyền nói dối rằng luôn lo đủ cho mọi người gặp khó khăn”(1).

Dạo đầu tháng Tư năm 2020, khi dịch bệnh mới bùng phát, các nhà lãnh đạo đang ở “đỉnh cao trí tuệ loài người” đã tung ra tư tưởng và phương châm hành động vô cùng có tính “sáng tạo”: “Chống dịch như chống giặc”. Trên báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, tôi đọc được những lời dẫn giải về phương châm này như sau: “Trước hết, do dịch COVID-19 là đại dịch toàn cầu, có tốc độ lây lan nhanh, không chỉ gây thiệt hại trên mọi lãnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, mà còn khiến số người tử vong ngày càng cao; được coi là vấn đề cấp bách nhất hiện nay”. “Thứ hai, đối với Việt Nam, “trong dịch có giặc”: Đó là các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng việc phòng chống dịch COVID-19 để chống phá cách mạng Việt Nam”(2). Hai tháng sau, trong một bài nói chuyện tại Quốc Hội, thủ tướng lúc đó là ông Nguyễn Xuân Phúc đã “nổ”: “Cột điện ở Mỹ mà biết đi sẽ về Việt Nam”(3).

Nay cột điện ở Mỹ chưa kịp về Việt Nam mà người dân trong nước thì đã tháo chạy. Có người đã gọi đây là chuyến “di tản thứ ba” của lịch sử Việt Nam(3). Nhưng theo tôi, đúng với phương châm “chống dịch là chống giặc” của Việt Nam, việc người dân trong nước “tháo chạy” quả là một cuộc “chạy giặc”.

Bất cứ nơi nào trên thế giới, hễ có chiến tranh là có “chạy giặc”. Nhưng có lẽ chưa có dân tộc nào “chạy giặc” nhiều cho bằng người Việt Nam. Trong ký ức của tôi, kể từ năm 1954 đến nay, người dân Việt Nam “chạy giặc” không biết bao nhiêu lần. 7 tuổi, tôi đã chứng kiến cảnh người Bắc “chạy giặc” vô Nam. Từ đó cho đến năm 1975, tôi cũng đã chứng kiến không biết bao nhiêu lần, hễ cứ mỗi lần có du kích hay cộng quân xuất hiện là người dân bỏ chạy. Tôi không được tận mắt chứng kiến cuộc di tản của người Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhưng tại thành phố Nha Trang của tôi vào ngày mùng một tháng Tư năm đó, tôi đã cảm nghiệm được thế nào là “chạy giặc”. Từ cao nguyên, từ những vùng tuyến đầu của miền Trung, bằng mọi phương tiện, người ta đổ xô về Nha Trang và từ đó bồng bế nhau, dẫm đạp lên nhau  để “chạy” bán sống bán chết vào Miền Nam.

Người dân Việt Nam đã “chạy giặc”. Và dĩ nhiên, “giặc” ở đây chỉ có thể là “ giặc cộng”. Nơi nào lá cờ “ giải phóng” được giương lên, nơi nào hai chữ “tự do” được hô hào, người dân Việt Nam liền “chạy giặc”!

Thành phố Sydney, thủ phủ của Tiểu bang New South Wales, Úc Đại Lợi và những thị trấn ở vòng đai của thành phố này cũng như thủ phủ của một số tiểu bang khác, hiện đang bị phong tỏa vì đại dịch. Bị cấm cố trong nhà có lúc tôi cũng cảm thấy bị quẫn trí. Tôi thèm được tự do, nhứt là tự do lái xe đi câu cá ở những nơi mình muốn. Thèm được tự do cho nên đầu óc tôi cứ lẩn quẩn với hai chữ tự do.

Trong ngôn ngữ loài người có lẽ không có gì hàm hồ, bị đánh tráo và  “hãm hiếp” cho bằng hai chữ tự do. Đối với những ai đã từng sống dưới một chế độ cộng sản, tự do hay giải phóng chỉ đơn thuần có nghĩa là nô lệ, tù đày, kiềm kẹp và chạy giặc, mà cụ thể là vượt biên, cũng đơn thuần có nghĩa là đi tìm tự do và sẵn sàng đánh đổi mạng sống của mình để được tự do.

Tôi đã cảm nghiệm, đã nếm trải thế nào mới thực sự là tự do kể từ khi được đặt chân vào trại tỵ nạn ở Galang, Nam Dương hồi cuối năm 1981. Khi vừa nhập trại, người tỵ nạn nào cũng nghe vọng lại từ một loa phóng thanh: “Đây Galang, ngưỡng cửa của Tự Do và Tình người xin chào đón các bạn”. Kể từ đó, ngoài quyền tự do thật sự, tôi còn nhận ra một hàm ý khác của tự do là Tình người. Phải chăng , con người chỉ thực sự hiểu  được thế nào là tự do khi họ cảm nghiệm và thực thi tình người.

Là một người tỵ nạn, tôi đã hiểu được thế nào là tự do. Nay trong cơn đại dịch, tôi lại bị buộc phải suy nghĩ về hai chữ tự do dưới một ý nghĩa khác. Hầu như ở đâu cũng thế, hễ cứ có phong tỏa để phòng chống dịch là có người đòi hỏi tự do. Điển hình là ở Mỹ. Buồn cười nhứt là dưới thời của Tổng thống Donald Trump, khi có một số tiểu bang ban hành lệnh phong tỏa, một số người đã xuống đường biểu tình chống lại các biện pháp phòng ngừa như đeo khẩu trang, giữ giãn cách xã hội và tránh tụ tập đông người và ngay cả chích ngừa. Có người còn lên kế hoạch bắt cóc những thống đốc nào ban hành lệnh phong tỏa. Riêng ông tổng thống thì lại hô hào người dân đứng lên “giải phóng” những tiểu bang nào ra lệnh phong tỏa(5). Nghĩ lại những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, cứ nghe hai chữ “giải phóng” là tôi thấy run.

Cũng may, ở Úc Đại Lợi của tôi, chưa thấy ông Thủ tướng Scott Morrison kêu gọi dân chúng xuống đường chống lại lệnh phong tỏa của các tiểu bang. Nhưng theo dõi cảnh hàng ngàn người dân Sydney xuống đường chống phong tỏa dạo cuối tháng Bảy vừa qua, tôi cũng cảm thấy “run” khi nhìn thấy không một người nào trong đám đông đeo khẩu trang. Bên cạnh một số biểu ngữ có nội dung tôn giáo như “Máu Chúa Giêsu là thuốc chủng ngừa của tôi” (The blood of Jesus is my vaccine), tôi còn đọc được “mấy không” trên những chiếc áo thun của đoàn người biểu tình như “không đeo khẩu trang” (unmasked), “không xét nghiệm” (untested), “không chích ngừa” (unvaxxed), “không sợ” (unafraid)...Các cuộc điều tra của cơ quan y tế ở Úc đã cho thấy: những cuộc biểu tình chống lại lệnh phong tỏa như thế là đầu mối của những cuộc lây lan vô tội vạ. Hầu hết  báo chí và các cơ quan truyền thông Úc đều gọi những người tham gia biểu tình như thế là ngu xuẩn và ích kỷ (idiotic and selfish).

“Ngu xuẩn” là phải bởi vì người ta lao mình vào cửa tử vì nghĩ rằng tự do là muốn làm gì thì làm. “Ích kỷ” là bởi người ta không nghĩ đến những hệ lụy mà hành động đòi hỏi tự do của mình có thể có đối với người khác. Không gì “ngu xuẩn” và “ích kỷ” khi đòi hỏi cho bằng được thứ tự do muốn làm gì thì làm!

Suy nghĩ về hai chữ tự do, tôi cũng thường nghĩ đến một trong những triết gia nổi bật nhứt của chủ nghĩa hiện sinh là Jean Paul Sartre (1905-1980). Trong một trong những tác phẩm tiêu biểu nhứt của ông là “Hữu thể và Hư vô” (L’Etre et le Néant) xuất bản hồi năm 1943, ông có viết một câu: “con người bị kết án phải được tự do” (l’homme est condamné à être libre). Thú thật, cho tới nay tôi vẫn chưa hiểu được hoàn toàn một tư tưởng cao siêu như thế. Cũng như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã từng thú nhận khi viết về tác giả Phạm Công Thiện (1941-2011) “ông là người có thể làm cho độc giả đọc ông một cách thích thú, say mê và thán phục mặc dù, khi gấp sách lại, người ta hoàn toàn không hiểu là ông nói cái gì cả”, cũng thế, tôi cũng đã từng say mê triết gia Jean Paul Sartre, nhưng hiểu được tư tưởng của ông về thế nào là tự do, “chết liền”!  Về triết gia nổi tiếng này, tôi chỉ biết có một số biến chuyển chính trị đáng chú ý: ông đã từng say mê chủ nghĩa cộng sản. Tuy không bao giờ gia nhập đảng cộng sản Pháp, ông thường lên tiếng ủng hộ Liên Xô và những chính sách của chế độ cộng sản Nga. Năm 1954, ông sang  Nga để thấy tận mắt thế nào là xã hội chủ nghĩa. Nhưng 2 năm sau, tức năm 1956, khi Liên Xô đem quân sang xâm chiếm Hung Gia Lợi, Jean Paul Sartre đã mạnh mẽ lên án đế quốc đỏ và năm 1968, khi Liên Xô đưa quân sang đè bẹp cuộc nổi dậy “Mùa Xuân Praha” ở Tiệp Khắc, ông mới thực sự giã từ giấc mơ xã hội chủ nghĩa. Và năm 1979,  cảm động không ít  khi ông cùng với các nhà trí thức Pháp tham gia phát động phong trào cứu vớt người Việt tỵ nạn cộng sản. Hai chữ tự do mà ông đã từng nêu cao có lẽ giờ đây đã gắn liền với tình người.

Trong cơn đại dịch, tôi ý thức về tự do của tôi hơn bao giờ hết. Cái lẽ thường và lý trí lúc nào cũng mách bảo tôi, như ai đó đã nói, rằng tự do của tôi chấm dứt khi nó chạm đến mũi của người khác. Ký giả Mỹ gốc Do Thái Hannah Arendt (1906-1975), người đã từng sống dưới chế độ Đức Quốc Xã Đức, đã nhắc nhở tôi điều đó. Trong cuốn sách có tựa đề “Con người trong thời kỳ đen tối” (Men in Dark Times), bà cảnh cáo chúng ta không nên rút lui vào vỏ ốc của mình . Bà nhắc lại rằng theo người La Mã thời xa xưa, sống là “sống giữa người khác” và chết là “thôi hiện hữu giữa người khác”. Theo bà, co cụm trong vỏ ốc riêng tư của mình, nghĩa là chỉ nghĩ đến mình, là đánh mất nhân tính của mình. Đây chính là chân lý mà tôi đã cảm nhận được khi đặt chân đến trại  Galang, Nam Dương, “ngưỡng cửa của Tự do và Tình người” để khởi đầu cuộc hành trình làm người tỵ nạn và cố gắng sống như một người tự do thật sự.

 

 

 

 

Chú thích:

1.Nguyễn Tuấn Khanh: chạy đến vô cùng. http://www.danchimviet.info/chay-den-vo-cung/08/2021/23538/

2.Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, “Chống dịch như chống giặc” https://dangcongsan.vn/tieu-diem/chong-dich-nhu-chong-giac-551842.html

3. Kalynh Ngô,chuyến “ di tản thứ ba” của lịch sử Việt Nam, Kalynh Ngô/Người Việt https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/chuyen-di-tan-thu-ba-cua-lich-su-viet-nam-bo-chay-khoi-sai-gon/

4.Đài Á Châu Tự Do https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnamese-people-in-the-us-have-no-intention-of-settling-down-in-vn-dt-06092020140437.html

5. https://www.abc.net.au/news/2020-04-18/usa-protests-for-coronavirus-reopening-after-donald-trump-tweet/12160930

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2021

Tỉnh thức trước con bò vàng

 


Chu Văn

Nước Mỹ có quá nhiều chuyện mà tôi không thể nào hiểu được. Nói theo ngôn ngữ của nhà báo Đinh Quang Anh Thái ở Mỹ: hiểu được chết liền! Như chuyện phòng chống đại dịch Covid-19: Mỹ hiện đang thừa mứa thuốc chủng ngừa, vậy mà hiện nay trung bình mỗi ngày vẫn có 23.000 người bị lây nhim, 13.200 người phải vào bệnh viện để chữa trị và theo cơ quan phòng bệnh quốc gia CDC, 99 phần trăm những người qua đời đều là những người không chịu chích ngừa, vì tin theo các thuyết âm mưu...(1). Hiểu được chết liền!

Nhưng chuyện mà tôi tuyệt đối không thể hiểu được đó là sự ủng hộ mà rất đông người Mỹ vẫn tiếp tục dành cho cựu Tổng thống Donald Trump. Trong 4 năm cầm quyền, ông đã nói dối hơn 30 ngàn lần và nay vẫn ra rả tung ra lời Nói Dối Lớn (Big Lie) rằng chiếc ghế tổng thống của ông đã bị đánh cắp trong một cuộc bầu cử gian lận. Rất đông người Mỹ vẫn tiếp tục tin những lời dối trá của ông. Một lần nữa: “hiểu được chết liền”!

Là một tín hữu Kitô, tôi tin và chấp nhận nhiều tín điều mà trí khôn của tôi không thể nào hiểu được. Tôi mà hiểu được các “mầu nhiệm” trong đạo “chết liền”! Có lẽ niềm tin mà rất nhiều người đã và đang đặt nơi ông Trump cũng chẳng khác nào niềm tin tôn giáo của tôi. Bất kể ông có nói dối như “Vẹm”, bất kể ông có dốt nát và ngu xuẩn đến đâu, bất kể tư cách của ông có đốn mạt cỡ nào...người ta vẫn cứ đặt niềm tin nơi ông và ngay cả sẵn sàng “tử đạo” vì ông. Mới đây một loạt cuốn sách viết về những ngày tháng cuối cùng của ông Trump trong Tòa bạch ốc đã cho thấy rõ điều đó. Một trong những cuốn sách được chú ý nhiều nhứt có lẽ là cuốn “Frankly, we did win this election: The inside story of how Trump lost” (Thành thật mà nói, chúng tôi đã thắng cuộc bầu cử này: chuyện nội bộ cho thấy tại sao Trump đã thất cử) do ký giả Michael Bender của báo Wall Street Journal biên soạn. Cuốn sách đã ghi lại những cuộc phỏng vấn của ký giả Bender với những “tín đồ” cuồng nhiệt nhứt của ông Trump. Một trong những người đó là ông Randal Thom, thành viên của một nhóm có tên là “Front Row Joes”. Cũng như các thành phần khác của nhóm, Thom không bỏ sót bất cứ một cuộc tập trung và vận động nào của “giáo chủ” Trump. Biết mình bị nhiễm Covid-19, nhưng Thom không chịu thử nghiệm hay vào bệnh viện để chữa trị. Thom giải thích với ký giả Bender rằng làm như thế là gia tăng con số người bị nhiễm hay chết vì Covid và như vậy gây phương hại cho uy tín và sự nghiệp chính trị của ông Trump. Thom sẵn sàng hy sinh mạng sống vì “giáo chủ” Trump (4).

Thom là một điển hình của rất nhiều “tín đồ” của ông Trump. Nhưng có lẽ thái độ của đa số tín hữu Tin Lành và ngay cả Công giáo ở Mỹ, kể cả các nhà lãnh đạo Công giáo Mỹ, giúp tôi hiểu được phần nào sự sùng bái của rất nhiều tín hữu Kitô đối với ông Trump: với họ, ông là người được Thiên Chúa tuyển chọn (The Chosen One), ông là người được Thiên Chúa sai đến để “sửa sai” và chỉ một mình ông mới có thể sửa sai như ông đã từng tuyên bố khi được Đảng Cộng Hòa chính thức đề cử làm ứng viên tổng thống hồi năm 2016 “Chỉ một mình tôi mới có thể sửa sai” (I alone can fix it) (2). Vì được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến để sửa sai cho nên ông “được phép” làm bất cứ điều gì ông muốn, kể cả dối trá và ngay cả làm điều ác như “đứng giữa đại lộ số 5 ở New York” để bắn người khác mà chẳng hề hấn gì.

Là người có niềm tin tôn giáo, tôi thường nhìn vào lịch sử thế giới dưới nhãn quan tôn giáo. Có một dạo tôi rất tâm đắc với câu nói được gán cho văn hào Nga Fyodor Dostoevsky (1821-1881) trong tác phẩm “Anh em nhà Karamazov”: “Nếu không có Thiên Chúa, mọi sự đều được phép làm”. Thật ra, trong một cuộc đối thoại, một nhân vật trong quyển tiểu thuyết này đã chỉ nêu lên câu hỏi: “Nhưng điều gì sẽ xảy ra cho con người...Nếu không có Thiên Chúa và cuộc sống bất tử, thì phải chăng mọi sự đều được phép làm, con người có thể làm bất cứ điều gì họ muốn?”(5)

Chủ nghĩa cộng sản là một minh chứng hùng hồn cho câu nói này. Câu nói kinh điển của Karl Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng” đã được Lenine, Staline và các môn đệ của họ, đặc biệt tại Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn...biến thành một tín điều được hung hãn tuyên xưng bằng chủ trương bách hại và sát hại các tín đồ của các tôn giáo cũng như thực hiện bất cứ hành động tội ác nào. Cuốn “Hắc thư của chủ nghĩa cộng sản” (Le livre noir du communisme) do tác giả Stephane Courtois và nhiều tác giả đồng biên soạn và được xuất bản hồi năm 1997 đã lột trần những tội ác khủng khiếp của một chủ nghĩa công khai tuyên xưng là một chủ nghĩa vô thần. Hồ Chí Minh đã công khai tuyên xưng niềm “vô thần” của ông trong di chúc của ông. Trong di chúc được công bố năm 1969, ông viết: “Tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lenin...” Chết với ông là “đi gặp” “các thánh” của chủ nghĩa cộng sản, chớ không phải đi chầu Diêm Vương hay ra trước tòa Chúa để tính sổ như dân gian vẫn tin tưởng.

Không có Thiên Chúa hay đúng hơn không tin có Thiên Chúa, nhiều người có thể tự cho phép mình làm bất cứ điều gì mình muốn. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Và đã có một thời tôi tin như thế. Nhưng ngày nay, khi nhìn lại lịch sử, nhứt là lịch sử của Kitô giáo, tôi lại cảm thấy bối rối khi nhận ra rằng “Ngay cả có Thiên Chúa, mọi sự cũng đều được phép làm”. Kể từ khi Hoàng đế Constantino (306-337) biến Kitô giáo thành quốc giáo trong Đế quốc La Mã, lịch sử của tôn giáo này đã được viết bằng vô số tội ác. Không khác gì các tổ chức khủng bố Hồi giáo hiện nay, Kitô giáo cũng đã từng nhân danh Thiên Chúa để bách hại, tiêu diệt các tôn giáo khác và các nền văn hóa khác. Từ các cuộc thập tự viễn chinh đến Tòa Điều Tra, rồi các cuộc huynh đệ tương tàn giữa các Giáo hội đến các cuộc chinh phục chiếm đất, sát hại người vô tội và tiêu diệt văn hóa của các dân tộc bản địa...tất cả những tội ác này đều được thực hiện “nhân danh Thiên Chúa”. Có người đã nói đến cuộc song hành của Thập giá và Lưỡi gươm! Đây là tội ác của Giáo hội mà để đánh dấu 2000 năm lịch sử, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lên tiếng xin lỗi và xin tha thứ (3).

Đã có những chế độ nhân danh chủ nghĩa vô thần để phạm tội ác và cũng có những tôn giáo có tổ chức nhân danh Thiên Chúa để làm điều gian ác và phi nghĩa. Thật ra, Thiên Chúa mà con người chối bỏ hay nhân danh để làm điều ác thường chỉ là một sáng tạo của con người. Trong những trang đầu tiên, Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo viết rằng: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người”, nhưng lịch sử nhân loại dường như lại viết ngược lại thành: “Và con người đã tạo dựng Thiên Chúa”. Kinh Thánh cũng viết rằng: “Thiên Chúa tạo con người theo hình ảnh của Ngài” nhưng thực tế, nhân loại lại tạo Thiên Chúa theo hình ảnh của họ. Con người phát minh ra một Thiên Chúa như một hung thần hay một ảo ảnh để chối bỏ. Con người tạo Thiên Chúa theo “hình ảnh” của mình, nghĩa là phù hợp với những đam mê và ngay cả những bản năng thấp hèn của chính mình.

Có lẽ đây là cơn cám dỗ triền miên của người có niềm tin tôn giáo. Kinh Thánh thuật lại rằng khi ông Môi Sen, người đã lãnh đạo dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ bên Ai Cập, đang ở trên núi để chuẩn bị ký giao ước với Thiên Chúa, thì bên dưới dân chúng đã gom góp tất cả vàng vòng lại để đúc thành một con bò và thờ lạy nó như vị thần đã giải phóng họ ra khỏi Ai Cập (Sách Xuất Hành 32,1-6). Những con bò vàng như thế rất thường xuyên xuất hiện trong các tôn giáo có tổ chức. Một tên lưu manh, dối trá không biết ngượng miệng, dửng dưng trước nỗi khổ đau của người đồng loại...lại được sùng bái như một người được Thiên Chúa “tuyển chọn” và sai đến để chấn chỉnh và sửa sai mọi sự. Nói như ký giả Ký Gà trên tờ Thời Báo cách đây không lâu, một Thiên Chúa như thế hẳn phải “xỉn” mất rồi! Còn không thì có lẽ một Thiên Chúa như thế chỉ là một thứ bò vàng được chính còn người đúc ra mà thôi!

Chúa Giêsu đã không ngừng kêu gọi các môn đệ của Ngài “hãy tỉnh thức”. Trong thế giới ngày nay, có lẽ không gì khẩn thiết hơn là “hãy tỉnh thức” trước những con bò vàng của thời đại.

Cuộc biểu tình quy mô mới đây của người dân Cuba đã được thế giới quan tâm theo dõi. Đây là lần đầu tiên từ 60 năm nay, người dân trong một chế độ cộng sản xuống đường biểu tình. Họ biểu tình vì chính sách chống đại dịch Covid 19 tồi tệ của chính quyền. Họ biểu tình vì tình trạng đói khổ triền miên trong nước. Nhưng tựu trung, tức nước vỡ bờ, họ không còn chịu đựng nổi sự dối trá của chế độ cộng sản.

Theo dõi những cuộc biểu tình của người dân Cuba, tôi không thể không nhớ lại câu nói của ông Hồ Chí Minh được cựu chủ tịch Nguyễn Minh Triết lập lại trong chuyến viếng thăm Cuba dạo tháng Chín năm 2009: “Cuba thức thì Việt Nam ngủ”. Cuba đã thức, không biết chừng nào người dân Việt Nam mới thức sau giấc ngủ dài trong bóng tối của dối trá mà chế độ cộng sản đã phủ trùm lên đất nước.

Dù sao, tôi vẫn có thể hiểu và thông cảm được tại sao người dân Việt Nam, vốn đang sống trong khủng bố triền miên, không dám thức dậy khỏi giấc ngủ trong dối trá. Nhưng nhìn vào một đất nước văn minh, tân tiến nhứt thế giới là Hoa Kỳ, thấy rất đông dân chúng, trong đó có vô số người Việt Nam, đang tự ru ngủ bằng những lời dối trá của một tên lưu manh bậc thày thiên hạ, tôi mà “hiểu được chết liền”!

 

 

 

 Chú thích:

1.Ngô Nhân Dụng, Các “thuyết âm mưu” nguy hiểm  https://thongluan-rdp.org/di-n-dan/item/22081-cac-thuy-t-am-muu-nguy-hi-m

2. https://www.theatlantic.com/politics/archive/2016/07/trump-rnc-speech-alone-fix-it/492557/

3. Pope asks for forgiveness for Errors of the Church over 2000 years https://www.nytimes.com/2000/03/13/world/pope-asks-forgiveness-for-errors-of-the-church-over-2000-years.html  

4.https://www.news.com.au/world/north-america/us-politics/saddest-thing-ive-ever-seen-what-the-latest-tellall-book-reveals-about-donald-trump/news-story/d92299ff720e54e3060619115557725e

5. If there is a God, then anything is permitted https://www.abc.net.au/religion/if-there-is-a-god-then-anything-is-permitted/10100616

 

 

 

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

Hành trình về tự do

 


Chu Văn

Còn nhiều người thân và bạn bè ở Việt Nam cho nên tôi thường xuyên theo dõi tình hình đại dịch Covid-19 trong nước. Cách đối phó với đại dịch của nhà nước cộng sản Việt Nam ngày càng làm lộ ra bộ mặt độc ác giả nhân giả nghĩa của người cộng sản cho nên tôi chả tin tưởng bất cứ chính sách nào của họ. Là “con nhà có đạo”, tôi thường đặt niềm tin nơi các nhà lãnh đạo của Giáo hội công giáo hơn. Nhưng mới đây, tôi cảm thấy thất vọng về những lời kêu gọi của các vị này.

Theo một bản tin tôi đọc được trên “Thông tấn xã công giáo VietCatholic”, Hội đồng giám mục Việt Nam đã cho công bố một “lá thư kêu gọi tinh thần liên đới và tương thân để phòng chống đại dịch”(1). Kèm với lời kêu gọi liên đới và tương thân, lá thư  của Hội đồng giám mục Việt Nam trích dẫn “quyết định thành lập Quỹ Vaccine và kêu gọi mọi thành phần xã hội tham gia đóng góp” được thủ tướng chính phủ cho công bố ngày 26 tháng Năm vừa qua. Thư của Hội đồng giám mục Việt Nam đánh giá lời kêu gọi của thủ tướng “là một chủ trương hợp tình hợp lý và đúng lúc, rất xứng đáng để mọi người hưởng ứng, vận động và ủng hộ với hết khả năng”.

Để “nêu gương tốt” cho giáo dân, Hội đồng giám mục Việt Nam đã ủng hộ “quỹ Vaccine” của chính phủ 3 tỷ đồng và dĩ nhiên sau đó đã được thủ tướng chính phủ biểu dương “công đức” bằng một bằng khen và một bức hình chụp chung với thủ tướng!  Không biết Hội đồng giám mục Việt Nam có biết rằng cái “quỹ Vaccine” đó chẳng bao giờ được sử dụng để mua một mũi vaccine nào không? Bởi lẽ các “quan chức cao cấp của chính quyền thừa nhận trên báo rằng tiền góp vào “quỹ vaccine” là “tiền nhàn rỗi”, được gởi vào ngân hàng thương mại để lấy lời”(3). Và “tiền lời” ấy đi vào túi ai thì chẳng lẽ các nhà lãnh đạo công giáo ở Việt Nam không biết!

Dối trá, giả nhân giả nghĩa, độc ác, tham ô, bóc lột người dân đến tận xương tủy...nay lại được các nhà lãnh đạo công giáo “xức dầu”, biện minh...hẳn chế độ cộng sản phải nở mày nở mặt và có đủ lý do để tiếp tục đàn áp và hút máu người dân, nhứt là trong thời đại dịch này.

Chuyện các nhà lãnh đạo công giáo ở Việt Nam công khai bày tỏ sự ủng hộ dành cho chế độ cộng sản không phải là hiếm. Tôi vẫn còn nhớ cách đây 6 năm, một vị giám mục của một giáo phận được xem là có số dân công giáo đông nhứt tại Việt Nam, đã viết thư kêu gọi giáo dân “tích cực”  tham gia bầu cử. Được biết trước khi về nước để được bổ nhiệm làm giám mục, dĩ nhiên với sự chuẩn thuận và “chúc lành”  của nhà nước, vị giám mục này đã sống và làm việc hơn nửa đời người ở hải ngoại. Không biết có phải để “trả ơn” cho nhà nước không, chỉ 3 ngày sau khi “đăng quang” giám mục, ông đã viết thư “mời gọi anh chị em tích cực tham gia cuộc bầu cử, xem xét chọn lựa những đại biểu có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực phục vụ lợi ích nhân dân. Tôi hy vọng với ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, anh chị em sẽ hoàn thành tốt việc bầu cử này”(2). Trong một đất nước có tự do dân chủ, quả tình chẳng có lời kêu gọi nào phù hợp với giáo huấn của Giáo hội Công giáo hơn. Nhưng trong một chế độ cộng sản như Việt Nam, nơi mà bầu cử diễn ra chẳng khác nào một trò hề, vị giám mục này hẳn phải mù lòa, điếc lác thì may ra mới không thấy rằng chẳng hề có bầu cử tự do. Mà đã không có bầu cử tự do thì tốt hơn nên thinh lặng hơn là kêu gọi “tích cực” tham gia bầu cử và như vậy góp phần biện minh cũng như dung dưỡng chế độ độc tài.

Tôi đã sống trong chế độ cộng sản hơn 5 năm. Tôi hiểu và thông cảm với các nhà lãnh đạo công giáo của tôi, vì họ phải chịu rất nhiều áp lực của chế độ. Có vị phải lâm cảnh tù đày. Nhưng cũng có rất nhiều vị vì muốn được yên thân hay vì “lợi ích” cá nhân và sự sống còn của Giáo hội, đành phải chấp nhận thỏa hiệp. Và thật đáng buồn khi sự thỏa hiệp có thể dẫn đến vong thân và khiến đánh mất ý nghĩa của vai trò “tiên tri” của các nhà lãnh đạo công giáo.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, “tiên tri” là người đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn căn tính tôn giáo của Do Thái Giáo. “Tiên tri” (prophète, prophet) theo đúng nghĩa không phải là người biết và loan báo “quá khứ vị lai” mà là người nói thay cho Thiên Chúa; họ thay mặt Thiên Chúa để lên tiếng cảnh cáo về tội ác và kêu gọi con người quay về đường ngay nẻo chính. Một trong những đối tượng chính của các tiên tri là giới lãnh đạo, cụ thể các vua chúa và triều đình. Thường bị các tiên tri chân chính quở trách cho nên nhiều ông vua cho lập riêng cho mình một đội ngũ những tiên tri chỉ biết nịnh hót và biện minh cho những sai trái của họ. Bù lại các “tiên tri” này được hưởng nhiều cặn bã của danh lợi. Người ta gọi họ là những “tiên tri cung đình”. Đây là hiện tượng mà một vị tiên tri chân chính tên là Isaia đã gọi là thời “chó câm”  (Isaia 56, 10).

Tôi quan tâm đến đại dịch ở Việt Nam hiện nay bởi vì tôi còn nhiều người thân và bạn bè trong nước cũng như tôi đã từng lo cho số phận của rất nhiều người thân và bạn bè ở Mỹ. Nay bên cạnh đại dịch tôi lại canh cánh lo sợ cho cuộc sống của người thân và bạn bè của tôi ở Mỹ vì một thứ đại dịch khác mà tôi cho là còn nguy hiểm gấp trăm ngàn lần đại dịch Covid-19. Đó là đại dịch “bạo động bằng súng đạn”. Đại dịch Covid-19 có thể phòng chống bằng nhiều cách. Nhưng đại dịch “bạo động bằng súng đạn” thì vô phương cứu chữa. Đâu đâu và bất cứ lúc nào, mình cũng có thể bị bắn chết bởi một người không quen biết và mà không cần lý do. Phải có giây thần kinh bằng sắt thép thì may ra mới không biết lo lắng và sợ hãi trong một tình trạng như thế.

Mới đây, trên đài CNN, tôi đọc được tin có ít nhứt 233 người bị bắn chết và 618 người bị thương trong 500 vụ bạo động bằng súng đạn trong những ngày mừng lễ độc lập 4 tháng Bảy vừa qua. Bản tin cho biết con số bạo động và nạn nhân đã giảm 26 phần trăm so với cùng thời kỳ hồi năm trước. Thật vậy trong dịp lễ độc lập hồi năm ngoái đã có 314 người bị thiệt mạng và 751 người bị thương vì súng đạn(4). Có nơi nào trên thế giới, người dân được “tự do” bắn giết như thế không? Có nơi nào trên thế giới, “bạo động bằng súng đạn” lại được mặc nhiên chấp nhận và ngay cả  cổ võ như ở Mỹ không? Với tôi, bạo động bằng súng đạn là một tộc ác và cổ võ hay thinh lặng đồng lõa cũng phải được xem là một tội ác.

Tôi đã thất vọng về việc các nhà lãnh đạo công giáo ở Việt Nam đã góp phần biện minh và dung dưỡng cho chế độ độc tài. Tôi lại càng thất vọng hơn về sự thinh lặng của Hội đồng giám mục Hoa Kỳ trước nạn bạo động bằng súng đạn tại nước này.

Gần đây, dư luận xôn xao về việc Hội đồng giám mục Hoa Kỳ soạn thảo một văn kiện về việc “Rước Lễ”. Dù cho các nhà lãnh đạo công giáo Mỹ có lên tiếng thanh minh cách mấy, ai cũng thấy rõ như ban ngày là với văn kiện này các vị nhắm tới Tổng thống Joe Biden và các chính trị gia công giáo trong Đảng Dân Chủ là những người ủng hộ quyền chọn lựa của người phụ nữ, tức quyền được chọn lựa giữ hay hủy bỏ bào thai trong những hoàn cảnh mà chỉ có lương tâm của một người mẹ mới hiểu được.

Tòa thánh Vatican đã thấy rõ “ý đồ” của các giám mục Mỹ trong việc soạn thảo văn kiện về việc “Rước Lễ” cho nên đã khuyến cáo các vị không nên biến việc “Rước Lễ” thành một vũ khí để tấn công các chính trị gia của một đảng phái và ủng hộ một đảng phái khác.

Phá thai có thể là một tệ nạn lớn nhưng không phải là tệ nạn duy nhứt trong xã hội Mỹ. Bên cạnh đó còn có những vấn đề nhức nhối hơn như bạo động bằng súng đạn, kỳ thị chủng tộc, án tử hình...và nhứt là dối trá dẫn đến chia rẽ, hận thù, bạo động trong xã hội. Sao lại chỉ lên tiếng trước tệ nạn phá thai và thinh lặng trước vô số những tội ác khác?

Là một tín hữu công giáo, tôi nhìn nhận và tôn trọng sự thánh thiêng của sự sống con người từ lúc còn trong lòng mẹ cho đến lúc chết tự nhiên. Nhưng là một tín hữu công giáo, tôi xem sự cảm thông như được Chúa Giêsu dạy và thực thi trong suốt cuộc sống của Ngài là cốt lõi của Kitô giáo. Ngoại trừ thành phần lãnh đạo của Do Thái giáo là nhóm “Biệt Phái” giả nhân giả nghĩa, Chúa Giêsu không loại trừ bất cứ một người nào. Ngài kết thân với những người bị xem là “ tội lỗi”, những người bị xã hội đẩy ra bên lề.

“Rước Lễ” là cao điểm của Thánh Lễ trong Giáo hội Công giáo. Nếu Thánh Lễ là một bữa tiệc, thì đương nhiên “Rước Lễ” là tham dự vào bữa tiệc trong đó bất luận là tội nhân hay thánh nhân, mọi người đều ngồi trên cùng một bàn ăn với nhau. Và như chính Chúa Giêsu đã từng ngồi đồng bàn với những người bị khai trừ ra khỏi xã hội, mối giây liên kết mọi người với nhau chính là sự cảm thông.

Biến việc “Rước Lễ” thành một võ khí để loại trừ và tẩy chay một ai đó phải chăng không là đi ngược lại chính cốt lõi của đạo là sự cảm thông?

Sống đạo là một cuộc hành trình về tự do và người tín hữu chỉ thực sự tự do và cảm nhận được thế nào là tự do khi họ biết sống cảm thông.

 

Chú thích

1. Thư kêu gọi của Chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam https://vietcatholic.net/News/Html/269141.htm

2. https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/viet-nam-chong-dich-covid-19-tham-lam-va-doc-ac/

3. Giám mục Đinh Đức Đạo và thư kêu gọi tham gia bầu cử http://www.molang0205.com/2016/05/giam-muc-inh-uc-ao-va-thu-keu-goi-tham.html

4. https://edition.cnn.com/2021/07/05/us/us-shootings-july-fourth-weekend/index.html

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính

Chu Văn

Ngoài những chuyện liên quan đến gia đình, người thân và bạn bè trong nước, tôi ít quan tâm đến tin tức do các cơ quan truyền thông công cụ ở Việt Nam phổ biến. Tin tức (news, nouvelles, noticie, noticias...) trong ngôn ngữ của hầu hết các nước Tây Phương, luôn có hàm ý về một điều mới mẻ. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay cũng như trong các chế độ độc tài, tin tức lúc nào cũng chỉ là bổn cũ lập lại. Như chuyện bầu cử chẳng hạn: lúc nào kết quả bầu cử cũng có trước khi người dân đi bỏ phiếu; lúc nào các ửng cử viên được đảng đề cử và chỉ được đảng đề cử cũng đạt kết quả trên 90 phần trăm số phiếu bầu; có vị được cả đến 99 phẩy 9 phần trăm...Với kết quả bầu cử được biết trước như thế, các phóng viên nằm nhà uống cà phê cũng vẫn có thể tường thuật đầy đủ “tin tức” về bầu cử. Đó là chuyện “tin tức” của các cơ quan truyền thông công cụ. Còn những lời phát biểu của cấp lãnh đạo hay các viên chức chính phủ, trước sau như một, lúc nào cũng chỉ là những lời sáo rỗng, những công thức vô nghĩa...Thành ra, trong một xã hội mà sự tử tế đã trở thành quý hiếm, thỉnh thoảng đọc được một bản tin đề cao một nghĩa cử, tôi xem đây mới thực sự là tin tức và đọc đi đọc lại với rất nhiều cảm xúc.

Trên báo Người Việt số ra đầu tháng Sáu vừa qua, tôi đọc được câu chuyện của một người bán vé số không tay được một số nhân viên ở phi trường Tân Sơn Nhất giúp lên máy bay vào những giây phút cuối trước khi máy bay cất cánh. Người khuyết tật bán vé số này tên là Nguyễn Quốc Phương, quê ở Hải Dương. Anh giải thích về hoàn cảnh của mình cho người đại diện của hãng hàng không Bamboo Airways tại Sài Gòn: “Em đi xe đò vào Sài Gòn cách đây ba năm, bán vé số dạo để gởi tiền về quê. Bố em bị tai biến, hôm nay ra phi trường mua vé về quê gấp, nhưng bị từ chối vì không có giấy tờ hợp lệ. Em là người khuyết tật, không có đôi bàn bay, nên không làm Chứng Minh Nhân Dân được. Anh chị thương giúp em với”.

Không có Chứng Minh Nhân Dân thì đương nhiên không được phép lên máy bay đã đành, mà vét hết tiền túi ra cũng không đủ cho một giá vé một chiều Sài Gòn - Hà Nội là 900.000 đồng. Người hành khách khuyết tật chỉ có đúng 350.000 đồng.  Nhưng với chút từ tâm còn sót lại trong một xã hội vô cảm, các nhân viên bán vé ở phi trường mỗi người một chút đã góp đủ một vé máy bay cho anh Phương và nhân viên an ninh phi trường cũng nhắm mắt làm ngơ để cho anh được lên máy bay như một công dân bình đẳng trong một chế độ “bình đẳng nhưng có những người bình đẳng hơn người khác”.

Bài báo được Người Việt trích dẫn đã  ghi lại cảm xúc của một nhân viên bán vé của hãng Bamboo Airways: “Nhìn những giọt nước mắt hạnh phúc của người đàn ông bán vé số nhỏ xíu, bàn tay co cúm lại, khuất vào phía phòng chờ cùng tấm vé cuối ngày, ai nấy đều lâng lâng trong lòng” (1).

Bản tin không chỉ làm dấy lên trong tôi niềm cảm thương sâu xa đối với người bán vé số khuyết tật, sự cảm phục đối với các nhân viên bán vé ở phi trường, mà còn khiến tôi cảm thấy uất hận trước cái chế độ độc ác, vô tâm và tàn nhẫn đối với những thành phần thấp kém trong xã hội.

Tôi đã được “may mắn” sống dưới chế độ cộng sản hơn 5 năm. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao cho đến khi trốn khỏi chế độ, tôi vẫn không được cho làm Chứng Minh Nhân Dân. Không có giấy tờ hợp lệ cho nên việc đi lại trong nước vốn đã khó đối với mọi người, lại càng khó hơn đối với một người không được nhìn nhận là “nhân dân”. Một người “phản động” như tôi có thể không được “chứng minh” là “nhân dân” là điều có thể hiểu được. Nhưng  một người khuyết tật không được chứng nhận là “nhân dân” chỉ vì không còn đủ hai bàn tay, đây quả là tận cùng của sự bất công và độc ác của một chế độ lúc nào cũng tự hào là cổ súy và xây dựng sự bình đẳng. Đây chính là bộ mặt thật của một chế độ không có linh hồn!

Tại Úc Đại Lợi, tôi có biết một gia đình người Việt có hai cậu con trai song sinh mắc chứng tự kỷ bẩm sinh. Cả hai nay đã là thanh niên nhưng vẫn cư xử gần như một trẻ thơ. Gia đình chỉ đủ sức để chăm sóc cho một cậu. Dĩ nhiên với sự tài trợ của chính phủ Úc. Một cậu thì lại được trao phó hoàn toàn cho chính phủ chăm nom. Chính phủ thuê nhà và mướn người túc trực ở bên cạnh cậu ngày đêm. Gia đình của hai thanh niên khuyết tật này cho biết mỗi năm chính phủ dành một ngân khoản không dưới mấy trăm ngàn Úc kim cho mỗi cậu.

Úc Đại Lợi, mặc dù cũng có lúc tự nhận là một “đất nước may mắn”, nhưng chưa bao giờ được xem là đất nước của niềm mơ ước như Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhưng qua các chương trình xã hội, cách riêng đối với người khuyết tật, tôi vẫn xem đây là một thiên đàng trần gian thật sự. Thiên đàng là tình yêu. Ở đâu có tình yêu, đặc biệt tình yêu dành cho những thành phần kém may mắn và yếu kém nhứt trong xã hội, thì ở đó có thiên đàng. Và dĩ nhiên ở đâu có tình yêu thì ở đó mới có hòa bình thật sự.

Nhắc đến Úc Đại Lợi thì dĩ nhiên cũng phải nêu đích danh Trung Cộng, một người khổng lồ không có trái tim đã và đang  chèn ép và dọa nạt Úc Đại Lợi  bằng đủ mọi cách. Không chỉ Úc Đại Lợi mà hầu như toàn thế giới đã trở thành một thứ sân chơi trong đó tên khổng lồ không có trái tim muốn đàn áp, hạch xách, bắt nạt ai tùy ý. Được mời tham dự Hội nghị Thượng đỉnh của khối G-7 tại Anh Quốc, Úc Đại Lợi đã cùng với một thành viên của khối là Nhựt Bản  công bố một bản cáo trạng lên án thói hung hăng côn đồ của Trung Cộng. Bản cáo trạng bày tỏ quan ngại sâu xa về chủ trương diệt chủng của Trung Cộng đối với dân tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ tại tỉnh Tân Cương, nhấn mạnh đến việc đàn áp những nhà bất đồng chính kiến tại Hương Cảng và đặc biệt lên án hành động xâm lăng của Trung Cộng tại Biển Đông cũng như đối với Đài Loan (2).

Một cuộc thăm dò về dư luận của thế giới đối với Trung Cộng do Trung Tâm Nghiên Cứu Pew (Pew research Center) thực hiện hồi năm ngoái và được cập nhựt cho thấy ngoại trừ tại một vài nước như Nga, Ba Tây, Israel, Tunisia...đâu đâu cũng đều có cái nhìn tiêu cực về Trung Cộng (3). Tiêu cực là nói một cách lịch sự. Thật ra, đúng hơn phải nói là ở đâu người ta cũng “thù ghét” Trung Cộng.

Cũng may, ít ra nay Trung Cộng đã chợt nhận ra cái bộ mặt đáng ghét của mình. Dạo cuối tháng Năm vừa qua, tại một hội nghị gọi là “học tập tập thể” về đường lối ngoại giao, lãnh tụ Tập Cận Bình đã kêu gọi “giảng hảo Trung Quốc cố sự”, nghĩa là hãy kể cho thế giới nghe câu chuyện về Trung Quốc “thật hay”. Thay cho chính sách ngoại giao “lang sói” (wolf warrior diplomacy) vốn đã tạo ra ác cảm và thù ghét của thế giới, chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi các quan chức cao cấp nhứt của Đảng Cộng Sản hãy “tập trung kiểm soát lời nói, cởi mở và tin tưởng, nhưng cũng đồng thời phải giản dị và khiêm tốn, cố gắng tạo ra một hình ảnh Trung Quốc đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính”.

Tôi không tin là Trung Cộng có thể thay đổi được bộ mặt bỉ ổi của mình. Trong cuộc sống, dù cá nhân hay trên bình diện quốc gia, muốn được “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính” thì hãy cư xử tử tế đã. Hình như cho tới giờ phút này, những người cộng sản Trung Quốc chưa tỏ ra và chưa hiểu thế nào là tử tế. Dịp rất may để Trung Cộng tỏ ra mình “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính” là tình trạng dịch bệnh hiện nay tại Đài Loan. Nhựt Bản đã viện trợ cho Đài Loan 1.25 triệu liều thuốc chủng ngừa. Hoa Kỳ cũng đã cử một phái đoàn đến thăm Đài Loan và hứa sẽ gởi một số thuốc chủng ngừa đến quốc gia  hải đảo này. Lẽ ra đây là cơ hội để Trung Cộng làm một nghĩa cử với người dân Đài Loan vốn là người đồng chủng với mình. Nhưng họ đã hành xử vô nhân đạo với Đài Loan bằng cách chỉ trích Nhựt Bản, lên án Hoa Kỳ và ngăn chận số lượng thuốc chủng ngừa AstraZeneca mà Đài Loan đặt mua. Một hành động vô nhân đạo như thế không thể nào làm cho bộ mặt thô bỉ của Trung Cộng trở thành “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính”.



“Xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn”(Build back a better world), đó là thông điệp mà các nhà lãnh đạo của khối G-7 muốn nhắn gởi cho toàn thế giới sau Hội nghị Thượng đỉnh vừa qua tại Anh Quốc. Với tôi dường như thông điệp của các nhà lãnh đạo khối G-7 đã được tóm gọn trong hai chữ “Tình yêu” (Love) mà Đệ nhứt Phu nhân Hoa Kỳ, bà Jill Biden đã cho khắc lên trên lưng chiếc áo gió bà mặc trên người. Nhiều người đã liên tưởng đến khẩu hiệu “Tôi thực sự không quan tâm. Còn bạn thì sao?” (I really don’t care. Do you?) được viết trên chiếc áo gió mà cựu đệ nhứt phu nhân Melania Trump đã mặc khi đi viếng thăm một trung tâm giam giữ trẻ em tầm trú vào Mỹ và bị tách lìa với cha mẹ.  Không ai biết bà Trump có dụng ý gì khi mặc chiếc áo gió có một khẩu hiệu như thế. Nhưng trong bối cảnh của một chuyến viếng thăm những đứa trẻ đáng thương đang bị giam giữ trong những điều kiện không mấy bình thường, một khẩu hiệu như thế dễ gợi lên sự vô tâm hơn là sự cảm thông và tình thương dành cho những người khốn khổ.

Người ta thường nói rằng đàng sau sự thành công của một người đàn ông luôn có bóng dáng của người đàn bà. Nếu đúng như thế thì quả thật bà Jill chắc chắn phải góp phần rất lớn cho sự nghiệp chính trị và các chính sách  của ông Biden và cách riêng, khẩu hiệu “Tình yêu” mà bà cho viết trên lưng chiếc áo gió của bà trong những ngày có mặt tại Anh Quốc đã tóm gọn được thông điệp của khối G-7 mà linh hồn đầu tầu không ai khác hơn là tổng thống Biden.

“Xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn” chính là xây dựng bằng “Tình yêu” chớ không phải bằng sự hung hăng, gây hấn, hận thù hay chia rẽ. Và dĩ nhiên, đó không phải là trách nhiệm riêng của các nhà lãnh đạo quốc gia. Đã là người thì ai cũng mong muốn tỏ ra “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính”. Và muốn được như thế thì dĩ nhiên phải biết sống yêu thương và cư xử tử tế với mọi người. Sống như thế là góp phần vào việc “xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn”.

 

 Chú thích

1.     https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/bat-khoc-voi-canh-doi-anh-ban-ve-so-khong-tay-o-phi-truong-tan-son-nhat/

2.     https://theworldnews.net/au-news/sabotaging-peace-new-claims-as-china-lashes-out-at-australia

3.     https://en.wikipedia.org/wiki/Template:Sinophobia_Pew