Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

Không có thuốc chủng ngừa cho sự ngu xuẩn

 


Chu Văn

Chưa bao giờ tôi thấy người Mỹ quan tâm và lo lắng cho Úc Đại Lợi cho bằng trong thời đại dịch Covid-19. Nhiều người Mỹ muốn “cứu Úc Đại Lợi” khỏi tay chế độ cộng sản. Có người còn kêu gọi đưa quân sang để giải phóng đất nước mà tôi đã chọn làm quê hương thứ hai khỏi chế độ độc tài!

Theo một bản tin tôi đọc được dạo đầu tháng Mười 2021 vừa qua, tại New York, hàng ngàn người đã tham gia một cuộc biểu tình trước tòa Tổng lãnh sự Úc để phản đối việc Chính phủ Úc ra lệnh phong tỏa để phòng chống Covid-19. Người ta đọc được một số biểu ngữ như: “Sự thật sẽ được tỏ lộ” và “Này, đồ chó cái, (Úc Đại Lợi) là đất nước của những người tự do”. Đặc biệt nhứt có lẽ là câu “Hãy cứu Úc Đại Lợi”. Cứ như quốc gia Miệt Dưới này đã rơi vào một chế độ độc tài hay chuyên chế!

“Sự thật” mà những người biểu tình đòi “cứu Úc Đại Lợi”, ngoài những thuyết âm mưu ra, chắc chắn không hề muốn nhìn thấy hay lắng nghe đó là những con số “biết nói”. Chẳng hạn, theo Đại học John Hopkins, trong Tiểu bang New York của Hoa Kỳ, với dân số 19. 5 triệu người, đã có 2 triệu rưỡi người bị nhiễm và trên 55 ngàn người chết vì Covid. Trong khi đó, trên toàn Úc Đại Lợi, với dân số gần 26 triệu tính đến nay chỉ có khoảng 115 ngàn người bị nhiễm và 1448 người tử vong. Kể từ khi đại dịch bùng nổ, trong toàn Tiểu bang Queensland của Úc Đại Lợi chỉ có 8 người chết. Tiểu bang Nam Úc chỉ ghi nhận có 4 người chết. Tiểu bang Tasmania chỉ có 13 người chết. Riêng Tiểu bang Tây Úc chỉ có 19 người chết.

Hai tiểu bang New South Wales và Victoria có thời gian phong tỏa lâu nhứt. Riêng Thành phố Melbourne, thủ phủ của Tiểu bang Victoria, đạt kỷ lục phong tỏa lâu nhứt thế giới. Nhưng rõ ràng là những biện pháp phòng chống Covid, đặc biệt là lệnh phong tỏa trong khi chưa có số người nhận thuốc chủng đạt mức miễn dịch cộng đồng, đã thực sự có hiệu quả. Trong suốt cơn đại dịch, số tử vong trên toàn nước Úc, nếu so sánh với trên 700 ngàn người chết vì Covid tại Hoa Kỳ, chỉ là một giọt nước trong đại dương (1).

Thỉnh thoảng đó đây ở Úc Đại Lợi cũng có những cuộc biểu tình chống các biện pháp phòng chống Covid. Như dạo tháng Bảy vừa qua tại Sydney, Tiểu bang New South Wales, chẳng hạn, những người biểu tình đã mang hay viết trên áo những biểu ngữ có nội dung như “không đeo khẩu trang”, “không xét nghiệm”, “không chích ngừa”, “không sợ”. Có người còn nại đến sức mạnh của niềm tin tôn giáo như “Máu Chúa Giêsu là thuốc chủng ngừa của tôi”...Đa số dân chúng Úc đã tỏ ra không mấy mặn mà với những cuộc biểu tình như thế và hầu hết báo chí và các cơ quan truyền thông Úc đều gọi những người tham gia biểu tình như thế là “ngu xuẩn và ích kỷ” (idiotic and selfish).

Dân “ngu” thì ở đâu mà chả có. Nhưng “quan” mà ngu thì không thể chấp nhận được. Đâu chỉ có tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới có quan ngu. Ở Mỹ cũng đâu có thiếu. Đặc biệt trong cơn đại dịch.

Trước khi có cuộc biểu tình đòi “cứu Úc Đại Lợi” trước tòa Tổng lãnh sự Úc tại New York, Thống đốc Florida, Tiểu bang lớn hàng thứ ba của Hoa Kỳ là ông Ron DeSantis, cũng đã mạnh mẽ lên án những biện pháp phòng ngừa Covid của Úc Đại Lợi. Ông so sánh Úc Đại Lợi với một chuyến xe lửa “trật đường rầy” và không ngần ngại gọi nước này là một nước cộng sản chẳng khác nào Trung Cộng.

Là người có chủ trương chống lại việc phong tỏa, chống lệnh bắt buộc chích ngừa cũng như chống sổ thông hành chủng ngừa tại Hoa Kỳ, ông đã gay gắt chỉ trích các biện pháp phòng chống Covid của Úc Đại Lợi tại cuộc triển lãm quốc tế về kỹ thuật đóng tàu tại Thành phố Tampa dạo cuối tháng Chín vừa qua. Ông thống đốc thuộc đảng Cộng Hòa  này nói: “Hãy nhìn vào những gì đang xảy ra tại Úc Đại Lợi. Sau một năm rưỡi, họ dùng quân đội để thi hành lệnh phong tỏa. Đây không phải là một đất nước tự do. Nó chẳng còn là một đất nước tự do chút nào cả”. Ông còn nhấn mạnh: “Tôi tự hỏi tại sao chúng ta (Hoa Kỳ) vẫn còn giữ quan hệ ngoại giao (với Úc Đại Lợi) khi họ đang hành xử như thế. Ngay bây giờ đây, phải chăng Úc Đại Lợi chỉ tự do hơn Trung Cộng?”

Ông DeSantis luôn tự hào rằng Tiểu bang Florida do ông lãnh đạo là một tiểu bang tự do và ông cương quyết bảo vệ và thăng tiến tự do cho người dân của tiểu bang. Ông quên mất rằng đó là thứ “tự do” mà họ phải trả bằng một cái giá quá đắt: với dân số chỉ có 3. 6 triệu, nhưng trung bình cứ 100.000 người thì có đến 17.000 người bị nhiễm Covid và tính đến nay đã có trên 54.000 người chết vì Covid.

Không biết có phải để trả lời cho Thống đốc DeSantis không, trong một cuộc phỏng vấn trên đài CBS ở Mỹ, đương kim Thủ tướng Úc Scott Morrison đã nói: “Chỉ có khoảng 1200 người Úc chết vì Covid. Đây là con số người Mỹ chết chỉ trong một ngày”(2).

Không hiểu sao mấy ông “quan” Mỹ lại thích chõ mỏ vào Úc để phê bình về những biện pháp phòng chống Covid của nước này. Từ Texas, tiểu bang lớn thứ nhì của Hoa Kỳ, thượng nghị sĩ liên bang Ted Cruz, cũng đã lên tiếng chỉ trích nặng nề các biện pháp phòng ngừa Covid tại lãnh thổ Bắc Úc. Trong một tweet được phóng đi hôm 14 tháng Mười vừa qua, ông thượng nghị sĩ  đã từng ra tranh cử tổng thống Mỹ hồi năm 2016 đã gọi việc bắt buộc chích ngừa tại lãnh thổ Bắc Úc là một hành động “đáng xấu hổ và đáng buồn”. Ông Cruz gọi biện pháp này là một thứ “bạo quân Covid” (Covid tyranny).

Được biết chính quyền địa phương tại Lãnh thổ Bắc Úc (Northern Teritory) đã buộc các nhân viên trong các ngành khác nhau như bán lẻ, nhà hàng, khách sạn và giáo dục phải đi chích ngừa. Ai không tuân hành sẽ không được cho trở lại làm việc và có thể bị phạt trên 3.500 Úc kim.

Phản ứng trước những lời chỉ trích của Thượng nghị sĩ Cruz, ông Michael Gunner, người lãnh đạo chính quyền địa phương tại Lãnh thổ Bắc Úc đã trả lời như sau: “Cám ơn ông bạn (Thanks mate). Chúng tôi không cần bạn “lên lớp”. Bạn chẳng hiểu gì về chúng tôi. Và nếu bạn chống lại thuốc chủng ngừa vốn có sức cứu mạng con người, thì rõ ràng là bạn chẳng hề là bạn của Úc Đại Lợi.” Ông Gunner giải thích: “Chủng ngừa rất quan trọng tại đây (lãnh thổ Bắc Úc), bởi vì chúng tôi có những cộng đồng dễ bị tổn thương (tức cộng đồng thổ dân) và một nền văn hóa cổ xưa nhứt trên hành tinh cần được bảo vệ”. Nhà lãnh đạo của Lãnh thổ Bắc Úc nhắc cho ông Cruz nhớ: “Gần 70.000 người dân Texas chết vì Covid. Còn tại Lãnh thổ Bắc Úc, chưa có một người nào đã chết vì Covid. Ông bạn có biết điều đó không?”(3)

Một người nổi tiếng thông minh như ông Cruz lẽ nào không đọc được những con số “biết nói”. Nhưng cũng như Thống đốc DeSantis, liệu ông có muốn nghe “tiếng nói” của những con số không?

Một ông bạn chí cốt của tôi hiện đang ở Texas, có lẽ không biết hay không muốn đọc những con số biết nói cho nên mới đây đã email sang hỏi tôi: “dịch dật” ở Úc đã qua chưa?  Tôi đọc được ý ông, bởi vì lâu nay bạn tôi vẫn là người công khai ủng hộ hết mình những người như Thống đốc DeSantis và Thượng nghị sĩ Cruz. Không chừng bạn tôi cũng muốn Hoa Kỳ đem quân sang Úc Đại Lợi để giải phóng những người bạn của ông trong đó có tôi.

Không thiếu người Mỹ có ý tưởng ấy. Mới đây, một người dẫn chương trình trên một đài truyền hình có tên là Daily Wire là cô Candace Owens đã đề nghị Chính phủ Mỹ nên “xâm chiếm” Úc Đại Lợi để giải phóng người dân Úc khỏi những biện pháp phòng chống Covid mà cô gọi là giai đoạn đầu của chế độ độc tài theo kiểu Hitler hay Stalin. Những điều mà xướng ngôn viên này mô tả về hiện tình của Úc Đại Lợi chẳng khác gì tình trạng thiết quân luật trong thời chiến tranh: không được ra các công viên, không được đến các bãi biển. Không được ăn uống bất cứ nơi công cộng nào. Không được khiêu vũ nơi nào...Quân đội và cảnh sát xét hỏi dân chúng đi mua sắm những thứ gì...Trực thăng vần vũ trên không trung để xem dân chúng có tuân hành thiết quân luật không (4).

Không biết người dẫn chương trình trên đài Daily Wire trên đây có sống ngày nào tại Úc Đại Lợi trong những ngày vừa qua chưa để vẽ ra một bức tranh khủng khiếp như thế. Trong một chế độ cộng sản như Việt Nam, những nhà báo công cụ có thể nằm nhà, rung đùi uống cà phê mà vẫn có thể tường thuật về một biến cố mà họ không hề chứng kiến. Nhưng ở Mỹ mà người ta vẫn có thể làm báo như thế thì quả thật tôi không ngạc nhiên tại sao “tin giả” và đủ các thứ thuyết âm mưu hiện đang là lương thực hàng ngày của rất nhiều người trong đó có không ít người Việt Nam.

Thời cụ Tản Đà (1889-1939), “dân ngu quá lợn” là chuyện có thể hiểu và chấp nhận được, bởi vì đa số người dân Việt Nam thời đó thất học. Nhưng liệu trong một xã hội văn minh vượt bực như Hoa Kỳ hiện nay, “dân trí” có cao hơn không? Kể từ khi một người như ông Donald Trump được bầu làm nguyên thủ quốc gia và hiện nay, mặc dù thất cử, vẫn tiếp tục gây sóng gió trong xã hội và được rất nhiều người sùng bái, tôn thờ như thần thánh...tôi nghi ngờ về trình độ “dân trí” của người Mỹ. Một cái đầu “đầy phè”, được nhồi nhét với vô số kiến thức, nhứt là trong thời đại thông tin toàn cầu này, chưa hẳn đã bảo đảm được một trình độ “dân trí” cao. Càng ngu xuẩn hơn khi tự hào rằng chỉ cần có một thiết bị tinh khôn trong tay là có thể ôm hết càn khôn vào đầu.

Thời nào cũng thế, “dân trí” đòi hỏi giáo dục. “Bốn trụ cột trong học thuật” như được tổ chức UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc) đề ra từ năm 1997 gồm có: học để biết, học để thực hành, học cách sống chung, học để thành nhân (5). Với tôi, cột trụ “thành nhân”, tức học làm người vẫn là điều quan trọng hơn cả. Người “thành nhân” trước hết là người biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình. Đây chính là ý nghĩa đích thực của “dân trí”. Nhưng quan trọng hơn, người “thành nhân” cũng phải là người biết hành xử bằng cái tâm. Một cách cụ thể, trong thời đại dịch, người “thành nhân” là người biết đặt ích chung lên trên quyền lợi và tự do cá nhân. Báo chí và các cơ quan truyền thông ở Úc đã có lý để gọi những người tham gia vào các cuộc biểu tình chống các biện pháp phòng chống Covid là những kẻ “ngu xuẩn và ích kỷ”. Ngu xuẩn luôn song hành với ích kỷ. Đó là thứ bệnh không có thuốc chủng ngừa.

 

Chú thích:

1. Save Australia? Actually we’re fine, thanks .America

https://www.news.com.au/world/coronavirus/australia/save-australia-actually-were-fine-thanks-america/news-story/214c2647974ea95aa2e4d2ff5afcdf52

2. “Off the rails”: Florida Governor Ron DeSantis blasts Australia’s Covid restrictions

https://www.news.com.au/world/coronavirus/australia/off-the-rails-florida-governor-ron-desantis-blasts-australias-covid-restrictions/news-story/9aea5a9f5df3c82cbf4bdcbdd62a8cd5

3. “Glad we are nothing like you”...

https://www.usatoday.com/story/news/politics/2021/10/19/australian-territory-leader-blasts-ted-cruz-covid-tyranny-remark/8520170002/

4. Conservative host Candace Owens calls for US to invade Australia to free people from “ tyranny”  https://www.nzherald.co.nz/entertainment/covid-19-coronavirus-conservative-host-candace-owens-calls-for-us-to-invade-australia-to-free-people-from-tyranny/EANSZ4SWDBEWVPWY

5.”Bốn trụ cột trong học thuật” https://vietbao.com/a309690/bon-tru-cot-trong-hoc-thuat-trong-viec-tai-dinh-huong-va-tai-to-chuc-de-cuong-mon-hoc-nhan-dinh-va-thao-luan

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Đạo đức như quỷ!

 


Chu Văn

Cứ mỗi lần nghĩ đến Afghanistan, tôi lại thấy hiện ra chiếc áo Burqa trùm kín người phụ nữ từ đầu đến chân. Nếu bóng tối đang phủ trùm lên xã hội Afghanistan, thì số phận của người phụ nữ càng tăm tối hơn. Người phụ nữ trong chế độ Taliban chẳng khác nào những thây người biết đi. Bị khinh miệt và đẩy ra bên lề xã hội, họ có thể bị giết chết bất cứ lúc nào. Sáng nay, (thứ Hai 6/9/2021), đọc một bản tin trên BBC, thấy buồn quá. Theo bản tin, hôm thứ Bảy 4/9 vừa qua, một phụ nữ có mang tám tháng tại thủ phủ của tỉnh Ghor, miền trung Afghanistan, đã bị ba tay súng bắn hạ ngay trước mặt người chồng và con cái của bà. Được biết người phụ nữ này là một cảnh sát viên đã từng làm việc trong một nhà tù tại địa phương dưới thời chế độ cũ (1).

Cái chết của người nữ cảnh sát viên trên đây quả là thê thảm. Nhưng cứ nghĩ đến những vụ ném đá những người phụ nữ bị bắt vì ngoại tình trong chế độ Taliban , tôi không thể không cảm thấy rùng mình. Bị chặt đầu, treo cổ, xử bắn hay chích thuốc độc...ít ra cuộc sống có thể được kết liễu một cách nhanh chóng. Nhưng bị một đám đông đàn ông dùng đá ném vào tứ chi cho đến tắt thở , có lẽ chẳng có cuộc hành quyết nào dã man và  khủng khiếp hơn.  Biết đâu, nhìn lên cái đám lý hình đang  ném đá mình, người phụ nữ lại chẳng thấy có thủ phạm của hành động ngoại tình?

Tiến sĩ Đinh Xuân Quân, một chuyên gia kinh tế người Mỹ gốc Việt đã từng làm việc nhiều năm tại Afghanistan, cho rằng xã hội Taliban là một xã hội thời Trung Cổ bên Âu Châu. Thật ra, xã hội Taliban còn thụt lùi đến cả hơn 2 ngàn năm trước. Có lẽ người tín hữu Kitô nào cũng đều thuộc nằm lòng câu chuyện được ghi lại trong Tin Mừng theo thánh Gioan 8, 1-11. Cũng có một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Cũng có một đám đông hậm hực chờ đợi để được ném đá người phụ nữ. Chỉ khác một điều là sau khi Chúa Giêsu nêu lên một câu hỏi xoáy vào tim gan của đám đông: “Ai trong các ngươi là người sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”, mọi người đều từ từ rút lui, bắt đầu từ những người lớn tuổi hơn cả.

Tôi luôn xem câu chuyện trên đây là cốt lõi của Kitô giáo. Khoan nhượng, cảm thông, bao dung, tha thứ...suốt cuộc đời của Ngài và nhứt là qua cái chết của Ngài, có lẽ Chúa Giêsu chỉ muốn dạy có thế. Nhưng dường như đó là món ăn tinh thần khó tiêu hóa nhứt đối với Kitô giáo.

Cho đến giữa thập niên 1950, tức lúc tôi vừa có trí khôn, qua các sinh hoạt tôn giáo trong xóm đạo của tôi, tôi nhận thấy dường như Giáo hội của tôi vẫn còn dậm chân ở thời Trung Cổ hay ngay cả quay trở lại cái thời mà chuyện người phụ nữ bị ném đá vẫn còn thịnh hành. Tôi vẫn nhớ rõ như in cái cảnh sau những buổi đọc kinh trưa ngày chúa nhựt, một người phụ nữ nào đó rụt rè bước ra giữa nhà thờ để lí nhí một câu gì đó mà chẳng ai nghe được, nhưng từ lớn chí bé, ai ai cũng hiểu rằng người phụ nữ đó xưng thú rằng mình đã trải qua cái cảnh “không chồng mà chửa mới ngoan”. Dường như cả cộng đồng lấy làm thích thú để nghe một lời tự thú như thế và già trẻ lớn bé, chẳng ai thắc mắc tự hỏi: thế còn người đàn ông, cha của đứa con ngoại hôn là ai và đang ở đâu? Trong xóm đạo của tôi, chửa hoang hay ngoại tình là một tội rất nặng và chỉ là tội của người phụ nữ mà thôi. Nếu lỡ có mang ngoài hôn phối thì hoặc là phải cuốn gói trốn đi một nơi khác hoặc gồng mình ra đầu thú trước mặt cộng đồng. Mãi cho đến năm 1965, một linh mục người Pháp được cử về làm quản xứ mới bãi bỏ cái tập tục dã man này.

Ra đầu thú trước cộng đồng là một cuộc “ném đá” tương đối nhẹ. Mẹ tôi kể rằng thời xa xưa, việc chửa hoang của người phụ nữ được phát giác rất sớm và chính mấy ông “chức việc”, tức các “cảnh sát tôn giáo” trong xóm đạo, đã lôi người phụ nữ đến một bãi đất công trước nhà thờ , rồi đào một cái lỗ vừa khít cho cái bụng chửa để người phụ nữ có thể nằm sấp và dùng roi đánh vào mông của thai phụ. Dĩ nhiên, với sự chứng kiến hào hứng và vui thích của đám đông. Chuyện có khác gì những “tòa án nhân dân” xử những người đàn bà phạm tội ngoại tình thời Chúa Giêsu hay trong xã hội Taliban đâu.

Chuyện người phụ nữ ngoại tình bị kết án, ruồng rẫy và loại trừ ra khỏi xã hội có lẽ là chuyện thường ngày ở huyện trong các cộng đồng Kitô giáo tại các nước Tây Phương trong các thế kỷ trước. Nhà văn Mỹ Nathanael Hawthorne (1804-1864) đã lên án thói tục dã man ấy trong quyển tiểu thuyết có tựa đề “Chữ đỏ thẫm” (The Scarlet Letter). Cộng đồng Kitô giáo được tác giả dùng làm bối cảnh cho câu chuyện là giáo phái Thanh Giáo (Puritans). Xuất phát từ Giáo hội Anh giáo tại Anh Quốc vào Thế kỷ 17, các cộng đồng Thanh Giáo cho rằng Giáo hội Anh giáo quá gần gũi với Giáo hội Công giáo La Mã. Họ muốn loại bỏ những thực hành và nghi lễ nào không bắt nguồn từ Kinh Thánh. Và một trong những thực hành theo Kinh Thánh Cựu Ước mà họ muốn tái lập là loại trừ những người phụ nữ ngoại tình ra khỏi cộng đồng. Nhân vật chính trong quyển tiểu thuyết “Chữ đỏ thẫm” là một thiếu phụ trẻ mà người chồng bị xem là mất tích trên biển. Trong thời gian chờ chồng, chị đã đi lại với chính vị mục sư trẻ trong cộng đồng. Kết quả của cuộc tình này là một đứa trẻ đã ra đời mà không ai biết được cha nó là ai. Người thiếu phụ đã bị “tòa án” của cộng đồng kết án phải đứng dựa vào một cột cờ ba tiếng đồng hồ để cho đám đông đến sỉ vả. Ngoài ra, chị còn bị bắt phải suốt đời  mang trên áo mình một tấm vải có viết chữ “A”. “A” có nghĩa là “Adulterer”, kẻ ngoại tình. Điều oái oăm là vị mục sư trẻ, cha của chính đứa bé, lại là người đã cùng với vị mục sư chính của cộng đồng thẩm cung người thiếu phụ để tìm cho ra ai là cha của nó. Nhưng chị cương quyết không tiết lộ danh tánh của người tình của mình và chấp nhận sống lưu vong trong một khu ngoại ô của thành phố. Không một người nào, ngay cả người cha của đứa trẻ, tức vị mục sư trẻ được xem là một nhà  “thuyết giảng thánh thiện” trong cộng đồng, muốn tiếp xúc với chị (2).

Mặc dù đã cáo chung vào khoảng năm 1740, Thanh Giáo  vẫn tiếp tục tạo được một ảnh hưởng lớn trên rất nhiều Giáo hội Tin Lành và nền văn hóa Mỹ.  Nhà chính trị học nổi tiếng của Pháp là Alexis de Tocqueville (1805-1859), sau một chuyến viếng thăm Hoa Kỳ trong thập niên 1830 đã ghi nhận: “Tôi nghĩ rằng tôi có thể nhìn thấy toàn bộ định mệnh của Hoa Kỳ trong những tín đồ Thanh Giáo đầu tiên đã đặt chân đến vùng đất này”. Hai thế kỷ sau, nếu trở lại Hoa Kỳ, có lẽ ông De Tocqueville vẫn giữ nguyên nhận định của ông về ảnh hưởng của Thanh Giáo trong văn hóa và nhứt là chính trị Mỹ ngày nay (3), nhứt là kể từ khi một người như ông Donald Trump được bầu làm nguyên thủ quốc gia.

Donald Trump, một người mà luật sư Nguyễn Hoàng Duyên ở Mỹ thường gọi là kẻ phạm không trừ một “giới răn” nào trong Mười giới răn mà Thiên Chúa đã truyền dạy cho tổ phụ Môi Sen của người Do Thái vào Thế kỷ thứ 13 trước Công nguyên, không ngừng rêu rao chấn hưng đạo đức và những giá trị truyền thống. Một trong những lá bài thu hút nhứt trong chương trình chấn hưng đạo đức của ông là chống phá thai. Các cử tri bảo thủ như Tin Lành và ngay cả Công giáo đã tung hô ông như người được Thiên Chúa “tuyển chọn”.

Hiện các chính trị gia Mỹ cũng đang “ăn theo” chiêu bài này. Điển hình là mới đây Tiểu bang Texas do Đảng Cộng Hòa kiểm soát đã ban hành một luật chống phá thai gây nhiều tranh cãi. Một trong những điểm trong luật chống phá thai này khiến tôi liên tưởng đến luật Hồi giáo Sharia của Taliban và những thực hành của giáo phái Thanh Giáo: luật hứa một phần thưởng hậu hĩ cho những người chỉ điểm. Cụ thể, bất cứ ai nộp đơn kiện một trung tâm phá thai đều có thể được thưởng 10.000 Mỹ kim. Luật cũng khuyến khích người dân tố cáo bất kỳ ai giúp đỡ người phụ nữ phá thai, kể cả những người chỉ đưa người phụ nữ đi phá thai hoặc trợ giúp chi phí cho việc phá thai...(4)

Là một tín hữu Kitô, tôi tôn trọng tính thánh thiêng của sự sống con người từ lúc được cưu mang trong lòng mẹ cho đến lúc chết tự nhiên. Tuy nhiên, là một tín hữu Kitô, tôi cũng được Chúa Giêsu dạy phải luôn biết tỏ ra cảm thông với người phụ nữ, khi vì một lý do bất khả kháng mà chỉ có họ mới biết được, đành phải cắn răng chọn lựa chấm dứt việc mang thai. Mới đây, khi được phỏng vấn trên đài EWTN (Eternal Word Television Network), một đài truyền hình công giáo nổi tiếng tại Mỹ, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc là bà Jane Psaki đã trả lời cho một nam ký giả chống phá thai như sau: “Tôi biết ông đã không bao phải đối diện với những chọn lựa  đó, ông cũng đã chẳng bao giờ mang thai. Còn những người phụ nữ kia, họ đã phải đứng trước những chọn lựa đó. Đây là một chọn lựa vô cùng khó khăn”(5).

Từ chuyện Taliban xử ném đá phụ nữ ngoại tình đến chủ trương loại trừ và bêu diễu họ trong  giáo phái Thanh Giáo đến luật cấm phá thai của Tiểu bang Texas, tôi nghĩ đến hai chữ “đạo đức”. Cũng như Tự Do, “đạo đức” là một từ bị lạm dụng nhiều nhứt. Độc ác và giả nhân giả nghĩa như mấy ông cộng sản Việt Nam mà lúc nào cũng ra rả nào là “đạo đức cách mạng”, nào là tấm gương “đạo đức”của Bác Hồ. Với tôi, cốt lõi của Đạo, dù là đạo nào, phải là sự cảm thông. Thiếu sự cảm thông, thì dù có “đạo đức” cỡ nào đi nữa, tôi e phải mượn lời của một người quen để thốt lên: “đạo đức như quỷ”!

 

 

 

 

Chú thích :

1.Taliban accused of killing pregnant police officer

 https://www.bbc.com/news/world-asia-58455826

 2.The New Puritans,

 https://www.theatlantic.com/magazine/archive/2021/10/new-puritans-mob-justice-canceled/619818/

3. Still Puritan after all these years

https://www.nytimes.com/2012/08/05/opinion/sunday/are-americans-still-puritan.html

 

4.What the Texas abortion ban does and what it means for other states

 https://www.npr.org/2021/09/01/1033202132/texas-abortion-ban-what-happens-next

 

5.Psaki brushed off a male reporter’s abortion question: “I know you’ve never faced those choices”

 https://www.businessinsider.com.au/psaki-male-reporter-abortion-youve-never-faced-choices-nor-pregnant-2021-9

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

Chết bởi Dối Trá

 






Chu Văn

Trong những ngày này, cứ mỗi lần nhìn vào những gì đã và đang diễn ra tại Afghanistan, tôi lại thấy cay mắt. Là một người Việt Nam đã từng sống qua những năm tháng hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa kể từ khi cố Tổng thống Mỹ Richard Nixon đến Trung Quốc để bắt tay với thủ tướng nước này là ông Chu Ân Lai hồi năm 1972, tôi cũng nhìn về  Kabul ngày 15 tháng Tám năm 2021 như  một phiên bản chắc nịch của Sài Gòn ngày 30 tháng Tư năm 1975. Có lẽ chỉ có người Việt Nam mới dành độc quyền trong việc thấu hiểu và cảm thông với nỗi đau tột cùng hiện nay của người dân Afghanistan. Và có lẽ cũng chỉ có người Việt Nam và người dân Afghanistan mới thấm thía được nỗi chua xót khi bị Hoa Kỳ phản bội. Vì điều được gọi là “quyền lợi” của mình, Hoa Kỳ đã phản bội đồng minh, Hoa Kỳ đã bán đứng đồng minh, Hoa Kỳ đã bỏ rơi đồng minh. Một người mà tôi đã đặt nhiều tin tưởng và kỳ vọng vào như đương kim Tổng thống Joe Biden, rốt cục cũng đi theo lối mòn cũ là sẵn sàng phản bội đồng minh của mình. Thế giới chưa kịp thấy “Hoa Kỳ trở lại” (America is back) như thế nào thì nay với việc tháo chạy khỏi Afghanistan, người ta chỉ thấy một “Hoa Kỳ trước tiên” (America First) của người tiền nhiệm của ông. Với tôi là một người Việt Nam mà đất nước đã từng bị Hoa Kỳ bỏ rơi cho chết tức tưởi kể từ năm 1972, Hoa Kỳ không phải là một nước đáng tin cậy. Tôi tin chắc rằng người dân Afghanistan hiện nay cũng đều có cùng một cảm nghĩ như tôi.

Một ngày sau khi Thủ đô Kabul thất thủ,  một ký giả Afghan đã từng làm việc cho một số cơ quan truyền thông của Mỹ và hiện đang lẩn trốn, đã gởi đến báo Politico một lá thư ngắn để nói lên nỗi thất vọng của mình về việc Hoa Kỳ bỏ rơi Afghanistan: “Chúng tôi cứ tưởng người Mỹ sẽ không bỏ rơi chúng tôi, nhưng đây là điều xem ra đang xảy ra ngay bây giờ đây. Chúng tôi đã không bao giờ tưởng tượng và tin rằng điều này sẽ xảy ra. Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng rằng chúng tôi có thể bị Hoa Kỳ phản bội một cách tồi tệ như thế. Cái cảm giác bị phản bội...Tôi đã dâng hiến cả cuộc đời của tôi cho những giá trị (của Hoa Kỳ). Người ta đã hứa hẹn đủ điều, người ta đã cam kết đủ điều. Người ta đã nói nhiều về các giá trị, về sự tiến bộ, về các quyền, về quyền của người phụ nữ, về tự do, về dân chủ. Tất cả những điều đó đều rỗng tuếch...

Người dân ở đây đã sửng sốt (vì việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Afghanistan). Họ đã không bao giờ có thể tưởng tượng được điều đó. Nếu họ (người Mỹ) bỏ rơi chúng tôi, thì có lẽ sẽ có hàng chục ngàn người bị giết chết. Và bạn biết: Hoa Kỳ sẽ không còn có đủ uy tín để đi khắp nơi để nói: “Chúng tôi tin ở nhân quyền. Chúng tôi chiến đấu cho nhân quyền và dân chủ”.

Tôi không màng ông Trump hay Biden, ai là tổng thống Mỹ. Tôi đã đặt tin tưởng vào nước Mỹ. Nhưng theo tôi đây là một sai lầm lớn...

Tôi phó thác số phận của tôi cho Thượng Đế. Bởi lẽ tôi không còn tin tưởng ai nữa”(1).

Một người Afghan khác được may mắn rời khỏi đất nước cách đây không lâu và hiện đang định cư tại Hoa Kỳ. Trong một cuộc nói chuyện với một phóng viên của báo The Atlantic, ông cho biết: gia đình ông có 4 anh em trai, tất cả đều phục vụ trong quân ngũ và đã sát cánh với quân đội Mỹ đồn trú tại Afghanistan. Ông và 2 người em kế được đến Hoa Kỳ theo chương trình “Di dân Đặc biệt (Special Immigrant Visa), nhưng người em út còn bị kẹt lại trong nước và hiện đang lẩn trốn trước các cuộc truy lùng của Taliban. Ông đã liên lạc với Tòa Bạch Ốc, với Bộ ngoại giao, với các thượng nghị sĩ và dân biểu. Ngày nào thức dậy ông cũng theo dõi tin tức và nghe Tổng thống Biden và Bộ ngoại giao nói: “Chúng tôi không hề bỏ rơi đồng minh của chúng tôi”. Người cựu chiến binh Afghan đành thốt lên: “Đây là một lời dối trá hoàn toàn”.

Ở cuối cuộc nói chuyện, ông so sánh Kabul với Sài Gòn cách đây 46 năm: “Tôi đã mất niềm tin. Tôi đã đặt tin tưởng vào một quốc gia mà tôi đã hiến dâng cả cuộc đời cho. Chúng tôi đã chứng kiến những điều đã xảy ra chẳng khác gì ở Sài Gòn vào năm 1975”(2).

Phản bội đồng nghĩa với dối trá. Đây là điều mà cũng như người dân Afghan, tôi đã học được kể từ khi Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1972.

Trong một cuộc vận động bầu cử hồi năm 2020, ứng cử viên Joe Biden đã khẳng định: “Tôi sẽ luôn luôn nói sự thật với quý vị. Đây là trách nhiệm của một tổng thống. Đây là món nợ phải trả cho nhân dân Mỹ”. Và trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20 tháng Giêng năm 2021, Tổng thống Biden nhấn mạnh: “Có sự thật và có những lời dối trá”. Và ông cam kết: “Tôi sẽ luôn luôn tỏ ra thành thật với quý vị”. Cam kết “nói sự thật và chỉ nói sự thật”, ngày 8 tháng Bảy 2021, Tổng thống Biden mở cuộc họp báo để nói về quyết định rút quân Mỹ ra khỏi Afghanistan. Ông khẳng định: Taliban không thể nào chiếm được nước này và Sài Gòn 30 tháng Tư năm 1975 sẽ không bao giờ tái diễn cho người dân nước này. Ông nói: “Sẽ không có bất cứ trường hợp nào bạn sẽ thấy dân chúng bị di tản từ mái nhà của một tòa đại sứ” và xét về khả năng, Taliban không thể địch lại với quân đội Afghanistan(3).

Và sự thật đã diễn ra hoàn toàn trái ngược với những khẳng định chắc nịch của Tổng thống Biden. Một chính trị gia lão luyện như Tổng thống Biden lẽ nào không “biết trước” những gì sẽ xảy ra cho Afghanistan khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi nước này. “Các tiết lộ mới đây từ Nhà Trắng cho biết trong quyết định về Afghanistan, Biden đã bất chấp ý kiến của các tướng lãnh, kể cả tổng tham mưu trưởng Mark Milley”(4).

Mới đây, trong một cuộc phỏng vấn với Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Anthony Blinken, ký giả Chris Wallace của Đài Fox News  cũng đã “kiểm chứng sự thật” về một số tuyên bố của Tổng thống Biden. Chẳng hạn, Tổng thống Mỹ bảo “tổ chức khủng bố al-Qaeda đã bị tiêu diệt” và ông “không hề nghe bất cứ một lời chỉ trích nào từ phía các nước đồng minh” về việc Mỹ rút quân ra khỏi Afghanistan. Theo ký giả Wallace, Tổng thống Biden đã đưa ra những tuyên bố không đúng sự thật hay đánh lừa dư luận. Ký giả này nói: “Lời nói quan trọng và những lời từ miệng của tổng thống quan trọng hơn cả”(5).

“Lời nói quan trọng và những lời từ miệng của tổng thống quan trọng hơn cả”. Kể từ khi người dân Mỹ đã bầu một tên lưu manh, lừa đảo và dối trá không biết ngượng miệng lên làm tổng thống, Hoa Kỳ chìm ngập trong dối trá. Sự dối trá ăn sâu vào mọi khía cạnh của cuộc sống khiến cho Hoa Kỳ, theo nhận định của nhà bình luận nổi tiếng Francis Fukuyama trong một bài báo được đăng trên báo The Economist, “xã hội Mỹ chia rẽ sâu sắc, rất khó tìm được đồng thuận về bất cứ thứ gì”(6). Tất cả chỉ vì dối trá. Khi người dân của một quốc gia bầu một tên lưu manh, lừa đảo và dối trá không biết ngượng miệng lên làm tổng thống thì có điều gì tệ hại nhứt cho dân tộc đó mà không thể xảy ra.

Dối trá dẫn đến cái chết. Đây là điều mà thế giới đã chứng kiến tại Hoa Kỳ khi đại dịch Covid-19 bùng nổ. Với dân số chỉ chiếm có 4 phần trăm dân số thế giới, nhưng Hoa Kỳ “chiếm” đến 20 phần trăm số người chết vì Covid-19. Tất cả chỉ vì những lời dối trá của một kẻ dối trá được dân bầu lên lãnh đạo đất nước. Điều tệ hại nhứt là sau khi đã bị hạ bệ, con người dối trá ấy vẫn tiếp tục nhận chìm gần như cả nước trong dối trá. Người dân bị lừa đảo đã đành, mà cả một đảng chính trị đã từng góp phần  đưa đất nước lên địa vị đệ nhứt siêu cường thế giới nay trở thành khiếp nhược và ngay cả sùng bái một tên ma đầu giáo chủ của dối trá.

Năm 2011, giáo sư kinh tế Mỹ Peter Navarro đã cho trình làng một cuộc nghiên cứu của ông với tựa đề “Chết bởi Trung Quốc” ( Death by China). Theo các nhà phân tích, tác phẩm có nhiều lỗ hổng, bởi vì tác giả không phải là một chuyên gia về “Trung quốc học”. Tuy nhiên tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm đã phơi bày một sự thật rất rõ ràng: Trung Quốc đã và đang đầu độc cả thế giới với những sản phẩm độc hại của mình. Nhìn vào xã hội Mỹ hiện nay, tôi cũng muốn nhại lại tựa đề của cuốn sách của ông Navarro để nói rằng quốc gia này đang “chết bởi dối trá”. Đại dịch Covid-19 là một bằng chứng hiển nhiên nhứt. Giàu có nhứt, y khoa cũng tiến bộ nhứt thế giới, lại thừa mứa thuốc chủng ngừa,  nhưng lại bị nhiễm và chết vì Covid-19 nhiều nhứt thế giới. Tất cả cũng vì những lời dối trá của một nhà lãnh đạo dốt nát, ngu xuẩn và vô đạo. Kẻ dối trá ấy lại vẫn tiếp tục lôi kéo người dân vào chỗ chết, như thế giới đang chứng kiến tại rất nhiều tiểu bang Mỹ hiện nay.

Dối trá lúc nào cũng dẫn đến cái chết. Trong đại dịch cũng như trong các toan tính chính trị. Tôi đã trải qua những năm tháng hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa khi bị Hoa Kỳ bỏ rơi. Tôi đang chứng kiến những gì đang xảy ra cho người dân Afghan khi bị Hoa Kỳ phản bội. Không chỉ có những dân tộc nhược tiểu chết vì sự phản bội của Hoa Kỳ. Chính Hoa Kỳ  cũng đang “giẫy chết” vì dối trá.

Hầu như người Việt Nam nào ở tuổi tôi cũng đều có ở “đầu giường” quyển “Cổ học tinh hoa” do 2 tác giả Nguyễn văn Ngọc và Trần lê Nhân biên soạn hồi năm 1926. Chuyện Việt Nam Cộng Hòa và Afghanistan bị Mỹ  bỏ rơi khiến tôi nhớ tới bài học về cái đỉnh của chữ Tín được ghi lại trong cuốn sách. Thời Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu, nước Tề hiếp đáp nước Lỗ. Biết nước Lỗ có một cái đỉnh rất quý, vua Tề bắt phải đem sang triều cống. Vua Lỗ tiếc lắm cho nên mới sai làm một cái đỉnh giả và sai một vị quan là Nhạc Chính Tử mang qua cho vua Tề. Nhạc Chính Tử hỏi: “Tại sao không đưa cái đỉnh thật?” Vua Lỗ báo: “Ta quý cái đỉnh ấy lắm”. Nhạc Chính Tử tâu: “Bệ hạ quý cái đỉnh ấy thế nào thì hạ thần quý cái đức “Tín” của hạ thần như thế”. Vua Lỗ nghe có lý phải đưa cái đỉnh thật ra và Nhạc Chính Tử mới chịu thi hành sứ mệnh của mình.

Một chữ “chi” trong Hán văn, tôi cũng không viết nổi, nhưng lại nhớ một câu của vua Tấn Văn Công thời Đông Chu Liệt Quốc là: “Tín vi quốc chi bảo” được dịch là “Tín là cái báu của cả nước”.

“ Tín là cái báu của cả nước” cho nên cũng là cái báu của mỗi người dân. Đánh mất chữ tín là đánh mất chính mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

Chú thích

 

1.”I believed in the U.S. But that turned out to be such a big mistake” https://www.politico.com/news/2021/08/15/afghan-journalist-kabul-504862

 

2.America’sLie https://www.theatlantic.com/international/archive/2021/08/america-afghanistan-taliban-interpreter-contractor/619846/

 

3.Biden campaigned as a truth teller. Afghanistan undermined his credibility https://www.politico.com/news/magazine/2021/08/18/biden-truth-afghanistan-credibility-506192

 

4.Nguyễn Gia Kiểng, Sau Việt Nam 1975, thông điệp Afghanistan 2021 https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/22451-sau-vi-t-nam-1975-thong-di-p-afghanistan-2021

 

5.”Flat wrong”: Fox’s Chris Wallace presses secretary of state on Biden, Afghanistan https://www.yahoo.com/news/chris-wallace-anthony-blinken-afghanistan-biden-174853926.html

 

6. Tương lai quyền lực của Hoa Kỳ: bàn luận của Francis Fukuyama về sự chấm dứt bá quyền của Hoa Kỳ https://baotiengdan.com/2021/08/20/tuong-lai-quyen-luc-cua-nuoc-hoa-ky-ban-luan-cua-francis-fukuyama-ve-su-cham-dut-ba-quyen-cua-hoa-ky/

 

 

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2021

Tự do và Tình người

 


Chu Văn

Thời đại dịch, ở đâu cũng thấy có những hiện tượng giống nhau. Ở đâu cũng có chết chóc, ở đâu cũng có phong tỏa. Nhưng dường như chỉ có ở Việt Nam mới có hiện tượng người dân bỏ chạy. “Chạy đến vô cùng”, như một tác giả ở Sài Gòn đã chua xót ghi nhận. Chạy tứ phía. Già cũng chạy. Trẻ con mới 10 ngày tuổi cũng chạy. Chạy bằng mọi phương tiện, từ xe gắn máy đến xe đạp và ngay cả đi bộ. Chạy đến gần cả ngàn cây số. Ngày chạy, đêm ngủ vất vưởng dọc đường. “Lý do họ rời bỏ Sài Gòn, bởi không còn tin tưởng vào các chính sách chống dịch của nhà cầm quyền, và cũng không đủ sức để cầm cự thêm nữa khi mất việc, không còn gì để sống tiếp nay mai. Hẳn nhiên, chính quyền (thành phố) Hồ Chí Minh đang nợ những con người này một lời xin lỗi, vì đã không cưu mang họ được, qua những tháng ngày này, bất chấp việc tuyên truyền nói dối rằng luôn lo đủ cho mọi người gặp khó khăn”(1).

Dạo đầu tháng Tư năm 2020, khi dịch bệnh mới bùng phát, các nhà lãnh đạo đang ở “đỉnh cao trí tuệ loài người” đã tung ra tư tưởng và phương châm hành động vô cùng có tính “sáng tạo”: “Chống dịch như chống giặc”. Trên báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, tôi đọc được những lời dẫn giải về phương châm này như sau: “Trước hết, do dịch COVID-19 là đại dịch toàn cầu, có tốc độ lây lan nhanh, không chỉ gây thiệt hại trên mọi lãnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, mà còn khiến số người tử vong ngày càng cao; được coi là vấn đề cấp bách nhất hiện nay”. “Thứ hai, đối với Việt Nam, “trong dịch có giặc”: Đó là các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng việc phòng chống dịch COVID-19 để chống phá cách mạng Việt Nam”(2). Hai tháng sau, trong một bài nói chuyện tại Quốc Hội, thủ tướng lúc đó là ông Nguyễn Xuân Phúc đã “nổ”: “Cột điện ở Mỹ mà biết đi sẽ về Việt Nam”(3).

Nay cột điện ở Mỹ chưa kịp về Việt Nam mà người dân trong nước thì đã tháo chạy. Có người đã gọi đây là chuyến “di tản thứ ba” của lịch sử Việt Nam(3). Nhưng theo tôi, đúng với phương châm “chống dịch là chống giặc” của Việt Nam, việc người dân trong nước “tháo chạy” quả là một cuộc “chạy giặc”.

Bất cứ nơi nào trên thế giới, hễ có chiến tranh là có “chạy giặc”. Nhưng có lẽ chưa có dân tộc nào “chạy giặc” nhiều cho bằng người Việt Nam. Trong ký ức của tôi, kể từ năm 1954 đến nay, người dân Việt Nam “chạy giặc” không biết bao nhiêu lần. 7 tuổi, tôi đã chứng kiến cảnh người Bắc “chạy giặc” vô Nam. Từ đó cho đến năm 1975, tôi cũng đã chứng kiến không biết bao nhiêu lần, hễ cứ mỗi lần có du kích hay cộng quân xuất hiện là người dân bỏ chạy. Tôi không được tận mắt chứng kiến cuộc di tản của người Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhưng tại thành phố Nha Trang của tôi vào ngày mùng một tháng Tư năm đó, tôi đã cảm nghiệm được thế nào là “chạy giặc”. Từ cao nguyên, từ những vùng tuyến đầu của miền Trung, bằng mọi phương tiện, người ta đổ xô về Nha Trang và từ đó bồng bế nhau, dẫm đạp lên nhau  để “chạy” bán sống bán chết vào Miền Nam.

Người dân Việt Nam đã “chạy giặc”. Và dĩ nhiên, “giặc” ở đây chỉ có thể là “ giặc cộng”. Nơi nào lá cờ “ giải phóng” được giương lên, nơi nào hai chữ “tự do” được hô hào, người dân Việt Nam liền “chạy giặc”!

Thành phố Sydney, thủ phủ của Tiểu bang New South Wales, Úc Đại Lợi và những thị trấn ở vòng đai của thành phố này cũng như thủ phủ của một số tiểu bang khác, hiện đang bị phong tỏa vì đại dịch. Bị cấm cố trong nhà có lúc tôi cũng cảm thấy bị quẫn trí. Tôi thèm được tự do, nhứt là tự do lái xe đi câu cá ở những nơi mình muốn. Thèm được tự do cho nên đầu óc tôi cứ lẩn quẩn với hai chữ tự do.

Trong ngôn ngữ loài người có lẽ không có gì hàm hồ, bị đánh tráo và  “hãm hiếp” cho bằng hai chữ tự do. Đối với những ai đã từng sống dưới một chế độ cộng sản, tự do hay giải phóng chỉ đơn thuần có nghĩa là nô lệ, tù đày, kiềm kẹp và chạy giặc, mà cụ thể là vượt biên, cũng đơn thuần có nghĩa là đi tìm tự do và sẵn sàng đánh đổi mạng sống của mình để được tự do.

Tôi đã cảm nghiệm, đã nếm trải thế nào mới thực sự là tự do kể từ khi được đặt chân vào trại tỵ nạn ở Galang, Nam Dương hồi cuối năm 1981. Khi vừa nhập trại, người tỵ nạn nào cũng nghe vọng lại từ một loa phóng thanh: “Đây Galang, ngưỡng cửa của Tự Do và Tình người xin chào đón các bạn”. Kể từ đó, ngoài quyền tự do thật sự, tôi còn nhận ra một hàm ý khác của tự do là Tình người. Phải chăng , con người chỉ thực sự hiểu  được thế nào là tự do khi họ cảm nghiệm và thực thi tình người.

Là một người tỵ nạn, tôi đã hiểu được thế nào là tự do. Nay trong cơn đại dịch, tôi lại bị buộc phải suy nghĩ về hai chữ tự do dưới một ý nghĩa khác. Hầu như ở đâu cũng thế, hễ cứ có phong tỏa để phòng chống dịch là có người đòi hỏi tự do. Điển hình là ở Mỹ. Buồn cười nhứt là dưới thời của Tổng thống Donald Trump, khi có một số tiểu bang ban hành lệnh phong tỏa, một số người đã xuống đường biểu tình chống lại các biện pháp phòng ngừa như đeo khẩu trang, giữ giãn cách xã hội và tránh tụ tập đông người và ngay cả chích ngừa. Có người còn lên kế hoạch bắt cóc những thống đốc nào ban hành lệnh phong tỏa. Riêng ông tổng thống thì lại hô hào người dân đứng lên “giải phóng” những tiểu bang nào ra lệnh phong tỏa(5). Nghĩ lại những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, cứ nghe hai chữ “giải phóng” là tôi thấy run.

Cũng may, ở Úc Đại Lợi của tôi, chưa thấy ông Thủ tướng Scott Morrison kêu gọi dân chúng xuống đường chống lại lệnh phong tỏa của các tiểu bang. Nhưng theo dõi cảnh hàng ngàn người dân Sydney xuống đường chống phong tỏa dạo cuối tháng Bảy vừa qua, tôi cũng cảm thấy “run” khi nhìn thấy không một người nào trong đám đông đeo khẩu trang. Bên cạnh một số biểu ngữ có nội dung tôn giáo như “Máu Chúa Giêsu là thuốc chủng ngừa của tôi” (The blood of Jesus is my vaccine), tôi còn đọc được “mấy không” trên những chiếc áo thun của đoàn người biểu tình như “không đeo khẩu trang” (unmasked), “không xét nghiệm” (untested), “không chích ngừa” (unvaxxed), “không sợ” (unafraid)...Các cuộc điều tra của cơ quan y tế ở Úc đã cho thấy: những cuộc biểu tình chống lại lệnh phong tỏa như thế là đầu mối của những cuộc lây lan vô tội vạ. Hầu hết  báo chí và các cơ quan truyền thông Úc đều gọi những người tham gia biểu tình như thế là ngu xuẩn và ích kỷ (idiotic and selfish).

“Ngu xuẩn” là phải bởi vì người ta lao mình vào cửa tử vì nghĩ rằng tự do là muốn làm gì thì làm. “Ích kỷ” là bởi người ta không nghĩ đến những hệ lụy mà hành động đòi hỏi tự do của mình có thể có đối với người khác. Không gì “ngu xuẩn” và “ích kỷ” khi đòi hỏi cho bằng được thứ tự do muốn làm gì thì làm!

Suy nghĩ về hai chữ tự do, tôi cũng thường nghĩ đến một trong những triết gia nổi bật nhứt của chủ nghĩa hiện sinh là Jean Paul Sartre (1905-1980). Trong một trong những tác phẩm tiêu biểu nhứt của ông là “Hữu thể và Hư vô” (L’Etre et le Néant) xuất bản hồi năm 1943, ông có viết một câu: “con người bị kết án phải được tự do” (l’homme est condamné à être libre). Thú thật, cho tới nay tôi vẫn chưa hiểu được hoàn toàn một tư tưởng cao siêu như thế. Cũng như Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã từng thú nhận khi viết về tác giả Phạm Công Thiện (1941-2011) “ông là người có thể làm cho độc giả đọc ông một cách thích thú, say mê và thán phục mặc dù, khi gấp sách lại, người ta hoàn toàn không hiểu là ông nói cái gì cả”, cũng thế, tôi cũng đã từng say mê triết gia Jean Paul Sartre, nhưng hiểu được tư tưởng của ông về thế nào là tự do, “chết liền”!  Về triết gia nổi tiếng này, tôi chỉ biết có một số biến chuyển chính trị đáng chú ý: ông đã từng say mê chủ nghĩa cộng sản. Tuy không bao giờ gia nhập đảng cộng sản Pháp, ông thường lên tiếng ủng hộ Liên Xô và những chính sách của chế độ cộng sản Nga. Năm 1954, ông sang  Nga để thấy tận mắt thế nào là xã hội chủ nghĩa. Nhưng 2 năm sau, tức năm 1956, khi Liên Xô đem quân sang xâm chiếm Hung Gia Lợi, Jean Paul Sartre đã mạnh mẽ lên án đế quốc đỏ và năm 1968, khi Liên Xô đưa quân sang đè bẹp cuộc nổi dậy “Mùa Xuân Praha” ở Tiệp Khắc, ông mới thực sự giã từ giấc mơ xã hội chủ nghĩa. Và năm 1979,  cảm động không ít  khi ông cùng với các nhà trí thức Pháp tham gia phát động phong trào cứu vớt người Việt tỵ nạn cộng sản. Hai chữ tự do mà ông đã từng nêu cao có lẽ giờ đây đã gắn liền với tình người.

Trong cơn đại dịch, tôi ý thức về tự do của tôi hơn bao giờ hết. Cái lẽ thường và lý trí lúc nào cũng mách bảo tôi, như ai đó đã nói, rằng tự do của tôi chấm dứt khi nó chạm đến mũi của người khác. Ký giả Mỹ gốc Do Thái Hannah Arendt (1906-1975), người đã từng sống dưới chế độ Đức Quốc Xã Đức, đã nhắc nhở tôi điều đó. Trong cuốn sách có tựa đề “Con người trong thời kỳ đen tối” (Men in Dark Times), bà cảnh cáo chúng ta không nên rút lui vào vỏ ốc của mình . Bà nhắc lại rằng theo người La Mã thời xa xưa, sống là “sống giữa người khác” và chết là “thôi hiện hữu giữa người khác”. Theo bà, co cụm trong vỏ ốc riêng tư của mình, nghĩa là chỉ nghĩ đến mình, là đánh mất nhân tính của mình. Đây chính là chân lý mà tôi đã cảm nhận được khi đặt chân đến trại  Galang, Nam Dương, “ngưỡng cửa của Tự do và Tình người” để khởi đầu cuộc hành trình làm người tỵ nạn và cố gắng sống như một người tự do thật sự.

 

 

 

 

Chú thích:

1.Nguyễn Tuấn Khanh: chạy đến vô cùng. http://www.danchimviet.info/chay-den-vo-cung/08/2021/23538/

2.Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, “Chống dịch như chống giặc” https://dangcongsan.vn/tieu-diem/chong-dich-nhu-chong-giac-551842.html

3. Kalynh Ngô,chuyến “ di tản thứ ba” của lịch sử Việt Nam, Kalynh Ngô/Người Việt https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/chuyen-di-tan-thu-ba-cua-lich-su-viet-nam-bo-chay-khoi-sai-gon/

4.Đài Á Châu Tự Do https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnamese-people-in-the-us-have-no-intention-of-settling-down-in-vn-dt-06092020140437.html

5. https://www.abc.net.au/news/2020-04-18/usa-protests-for-coronavirus-reopening-after-donald-trump-tweet/12160930

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2021

Tỉnh thức trước con bò vàng

 


Chu Văn

Nước Mỹ có quá nhiều chuyện mà tôi không thể nào hiểu được. Nói theo ngôn ngữ của nhà báo Đinh Quang Anh Thái ở Mỹ: hiểu được chết liền! Như chuyện phòng chống đại dịch Covid-19: Mỹ hiện đang thừa mứa thuốc chủng ngừa, vậy mà hiện nay trung bình mỗi ngày vẫn có 23.000 người bị lây nhim, 13.200 người phải vào bệnh viện để chữa trị và theo cơ quan phòng bệnh quốc gia CDC, 99 phần trăm những người qua đời đều là những người không chịu chích ngừa, vì tin theo các thuyết âm mưu...(1). Hiểu được chết liền!

Nhưng chuyện mà tôi tuyệt đối không thể hiểu được đó là sự ủng hộ mà rất đông người Mỹ vẫn tiếp tục dành cho cựu Tổng thống Donald Trump. Trong 4 năm cầm quyền, ông đã nói dối hơn 30 ngàn lần và nay vẫn ra rả tung ra lời Nói Dối Lớn (Big Lie) rằng chiếc ghế tổng thống của ông đã bị đánh cắp trong một cuộc bầu cử gian lận. Rất đông người Mỹ vẫn tiếp tục tin những lời dối trá của ông. Một lần nữa: “hiểu được chết liền”!

Là một tín hữu Kitô, tôi tin và chấp nhận nhiều tín điều mà trí khôn của tôi không thể nào hiểu được. Tôi mà hiểu được các “mầu nhiệm” trong đạo “chết liền”! Có lẽ niềm tin mà rất nhiều người đã và đang đặt nơi ông Trump cũng chẳng khác nào niềm tin tôn giáo của tôi. Bất kể ông có nói dối như “Vẹm”, bất kể ông có dốt nát và ngu xuẩn đến đâu, bất kể tư cách của ông có đốn mạt cỡ nào...người ta vẫn cứ đặt niềm tin nơi ông và ngay cả sẵn sàng “tử đạo” vì ông. Mới đây một loạt cuốn sách viết về những ngày tháng cuối cùng của ông Trump trong Tòa bạch ốc đã cho thấy rõ điều đó. Một trong những cuốn sách được chú ý nhiều nhứt có lẽ là cuốn “Frankly, we did win this election: The inside story of how Trump lost” (Thành thật mà nói, chúng tôi đã thắng cuộc bầu cử này: chuyện nội bộ cho thấy tại sao Trump đã thất cử) do ký giả Michael Bender của báo Wall Street Journal biên soạn. Cuốn sách đã ghi lại những cuộc phỏng vấn của ký giả Bender với những “tín đồ” cuồng nhiệt nhứt của ông Trump. Một trong những người đó là ông Randal Thom, thành viên của một nhóm có tên là “Front Row Joes”. Cũng như các thành phần khác của nhóm, Thom không bỏ sót bất cứ một cuộc tập trung và vận động nào của “giáo chủ” Trump. Biết mình bị nhiễm Covid-19, nhưng Thom không chịu thử nghiệm hay vào bệnh viện để chữa trị. Thom giải thích với ký giả Bender rằng làm như thế là gia tăng con số người bị nhiễm hay chết vì Covid và như vậy gây phương hại cho uy tín và sự nghiệp chính trị của ông Trump. Thom sẵn sàng hy sinh mạng sống vì “giáo chủ” Trump (4).

Thom là một điển hình của rất nhiều “tín đồ” của ông Trump. Nhưng có lẽ thái độ của đa số tín hữu Tin Lành và ngay cả Công giáo ở Mỹ, kể cả các nhà lãnh đạo Công giáo Mỹ, giúp tôi hiểu được phần nào sự sùng bái của rất nhiều tín hữu Kitô đối với ông Trump: với họ, ông là người được Thiên Chúa tuyển chọn (The Chosen One), ông là người được Thiên Chúa sai đến để “sửa sai” và chỉ một mình ông mới có thể sửa sai như ông đã từng tuyên bố khi được Đảng Cộng Hòa chính thức đề cử làm ứng viên tổng thống hồi năm 2016 “Chỉ một mình tôi mới có thể sửa sai” (I alone can fix it) (2). Vì được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến để sửa sai cho nên ông “được phép” làm bất cứ điều gì ông muốn, kể cả dối trá và ngay cả làm điều ác như “đứng giữa đại lộ số 5 ở New York” để bắn người khác mà chẳng hề hấn gì.

Là người có niềm tin tôn giáo, tôi thường nhìn vào lịch sử thế giới dưới nhãn quan tôn giáo. Có một dạo tôi rất tâm đắc với câu nói được gán cho văn hào Nga Fyodor Dostoevsky (1821-1881) trong tác phẩm “Anh em nhà Karamazov”: “Nếu không có Thiên Chúa, mọi sự đều được phép làm”. Thật ra, trong một cuộc đối thoại, một nhân vật trong quyển tiểu thuyết này đã chỉ nêu lên câu hỏi: “Nhưng điều gì sẽ xảy ra cho con người...Nếu không có Thiên Chúa và cuộc sống bất tử, thì phải chăng mọi sự đều được phép làm, con người có thể làm bất cứ điều gì họ muốn?”(5)

Chủ nghĩa cộng sản là một minh chứng hùng hồn cho câu nói này. Câu nói kinh điển của Karl Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng” đã được Lenine, Staline và các môn đệ của họ, đặc biệt tại Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn...biến thành một tín điều được hung hãn tuyên xưng bằng chủ trương bách hại và sát hại các tín đồ của các tôn giáo cũng như thực hiện bất cứ hành động tội ác nào. Cuốn “Hắc thư của chủ nghĩa cộng sản” (Le livre noir du communisme) do tác giả Stephane Courtois và nhiều tác giả đồng biên soạn và được xuất bản hồi năm 1997 đã lột trần những tội ác khủng khiếp của một chủ nghĩa công khai tuyên xưng là một chủ nghĩa vô thần. Hồ Chí Minh đã công khai tuyên xưng niềm “vô thần” của ông trong di chúc của ông. Trong di chúc được công bố năm 1969, ông viết: “Tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lenin...” Chết với ông là “đi gặp” “các thánh” của chủ nghĩa cộng sản, chớ không phải đi chầu Diêm Vương hay ra trước tòa Chúa để tính sổ như dân gian vẫn tin tưởng.

Không có Thiên Chúa hay đúng hơn không tin có Thiên Chúa, nhiều người có thể tự cho phép mình làm bất cứ điều gì mình muốn. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Và đã có một thời tôi tin như thế. Nhưng ngày nay, khi nhìn lại lịch sử, nhứt là lịch sử của Kitô giáo, tôi lại cảm thấy bối rối khi nhận ra rằng “Ngay cả có Thiên Chúa, mọi sự cũng đều được phép làm”. Kể từ khi Hoàng đế Constantino (306-337) biến Kitô giáo thành quốc giáo trong Đế quốc La Mã, lịch sử của tôn giáo này đã được viết bằng vô số tội ác. Không khác gì các tổ chức khủng bố Hồi giáo hiện nay, Kitô giáo cũng đã từng nhân danh Thiên Chúa để bách hại, tiêu diệt các tôn giáo khác và các nền văn hóa khác. Từ các cuộc thập tự viễn chinh đến Tòa Điều Tra, rồi các cuộc huynh đệ tương tàn giữa các Giáo hội đến các cuộc chinh phục chiếm đất, sát hại người vô tội và tiêu diệt văn hóa của các dân tộc bản địa...tất cả những tội ác này đều được thực hiện “nhân danh Thiên Chúa”. Có người đã nói đến cuộc song hành của Thập giá và Lưỡi gươm! Đây là tội ác của Giáo hội mà để đánh dấu 2000 năm lịch sử, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã lên tiếng xin lỗi và xin tha thứ (3).

Đã có những chế độ nhân danh chủ nghĩa vô thần để phạm tội ác và cũng có những tôn giáo có tổ chức nhân danh Thiên Chúa để làm điều gian ác và phi nghĩa. Thật ra, Thiên Chúa mà con người chối bỏ hay nhân danh để làm điều ác thường chỉ là một sáng tạo của con người. Trong những trang đầu tiên, Kinh Thánh của Do Thái và Kitô giáo viết rằng: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người”, nhưng lịch sử nhân loại dường như lại viết ngược lại thành: “Và con người đã tạo dựng Thiên Chúa”. Kinh Thánh cũng viết rằng: “Thiên Chúa tạo con người theo hình ảnh của Ngài” nhưng thực tế, nhân loại lại tạo Thiên Chúa theo hình ảnh của họ. Con người phát minh ra một Thiên Chúa như một hung thần hay một ảo ảnh để chối bỏ. Con người tạo Thiên Chúa theo “hình ảnh” của mình, nghĩa là phù hợp với những đam mê và ngay cả những bản năng thấp hèn của chính mình.

Có lẽ đây là cơn cám dỗ triền miên của người có niềm tin tôn giáo. Kinh Thánh thuật lại rằng khi ông Môi Sen, người đã lãnh đạo dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ bên Ai Cập, đang ở trên núi để chuẩn bị ký giao ước với Thiên Chúa, thì bên dưới dân chúng đã gom góp tất cả vàng vòng lại để đúc thành một con bò và thờ lạy nó như vị thần đã giải phóng họ ra khỏi Ai Cập (Sách Xuất Hành 32,1-6). Những con bò vàng như thế rất thường xuyên xuất hiện trong các tôn giáo có tổ chức. Một tên lưu manh, dối trá không biết ngượng miệng, dửng dưng trước nỗi khổ đau của người đồng loại...lại được sùng bái như một người được Thiên Chúa “tuyển chọn” và sai đến để chấn chỉnh và sửa sai mọi sự. Nói như ký giả Ký Gà trên tờ Thời Báo cách đây không lâu, một Thiên Chúa như thế hẳn phải “xỉn” mất rồi! Còn không thì có lẽ một Thiên Chúa như thế chỉ là một thứ bò vàng được chính còn người đúc ra mà thôi!

Chúa Giêsu đã không ngừng kêu gọi các môn đệ của Ngài “hãy tỉnh thức”. Trong thế giới ngày nay, có lẽ không gì khẩn thiết hơn là “hãy tỉnh thức” trước những con bò vàng của thời đại.

Cuộc biểu tình quy mô mới đây của người dân Cuba đã được thế giới quan tâm theo dõi. Đây là lần đầu tiên từ 60 năm nay, người dân trong một chế độ cộng sản xuống đường biểu tình. Họ biểu tình vì chính sách chống đại dịch Covid 19 tồi tệ của chính quyền. Họ biểu tình vì tình trạng đói khổ triền miên trong nước. Nhưng tựu trung, tức nước vỡ bờ, họ không còn chịu đựng nổi sự dối trá của chế độ cộng sản.

Theo dõi những cuộc biểu tình của người dân Cuba, tôi không thể không nhớ lại câu nói của ông Hồ Chí Minh được cựu chủ tịch Nguyễn Minh Triết lập lại trong chuyến viếng thăm Cuba dạo tháng Chín năm 2009: “Cuba thức thì Việt Nam ngủ”. Cuba đã thức, không biết chừng nào người dân Việt Nam mới thức sau giấc ngủ dài trong bóng tối của dối trá mà chế độ cộng sản đã phủ trùm lên đất nước.

Dù sao, tôi vẫn có thể hiểu và thông cảm được tại sao người dân Việt Nam, vốn đang sống trong khủng bố triền miên, không dám thức dậy khỏi giấc ngủ trong dối trá. Nhưng nhìn vào một đất nước văn minh, tân tiến nhứt thế giới là Hoa Kỳ, thấy rất đông dân chúng, trong đó có vô số người Việt Nam, đang tự ru ngủ bằng những lời dối trá của một tên lưu manh bậc thày thiên hạ, tôi mà “hiểu được chết liền”!

 

 

 

 Chú thích:

1.Ngô Nhân Dụng, Các “thuyết âm mưu” nguy hiểm  https://thongluan-rdp.org/di-n-dan/item/22081-cac-thuy-t-am-muu-nguy-hi-m

2. https://www.theatlantic.com/politics/archive/2016/07/trump-rnc-speech-alone-fix-it/492557/

3. Pope asks for forgiveness for Errors of the Church over 2000 years https://www.nytimes.com/2000/03/13/world/pope-asks-forgiveness-for-errors-of-the-church-over-2000-years.html  

4.https://www.news.com.au/world/north-america/us-politics/saddest-thing-ive-ever-seen-what-the-latest-tellall-book-reveals-about-donald-trump/news-story/d92299ff720e54e3060619115557725e

5. If there is a God, then anything is permitted https://www.abc.net.au/religion/if-there-is-a-god-then-anything-is-permitted/10100616