Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

Hành hương về cội nguồn

 





Chu Văn
Có những địa danh mà nhiều người bảo rằng chỉ cần đến “xem” rồi chết cũng được. Thời trung học, không rõ từ đâu, tôi cũng nghe được câu: “Xem Ba Lê rồi chết” (voir Paris et mourir)! Thời trai trẻ, chỉ biết và chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, lúc nào tôi cũng mơ được một lần đặt chân đến nơi thường được mệnh danh là “kinh thành ánh sáng” đó. Mãi đến đầu thập niên 1980, giấc mơ của tôi mới thành hiện thực. Dòng sông Seine chảy lững lờ xuyên qua thành phố Ba Lê, nếu so với những dòng sông mà tôi đã từng chiêm ngắm ở Việt Nam của tôi, thật ra cũng chẳng bề thế và thơ mộng lắm. Chỉ có điều là khi học địa lý của mẫu quốc, vì đã mơ được một lần tận mắt ngắm nhìn dòng sông này, cho nên lần đầu tiên đi dọc theo bờ sông, phải nói là tôi đã ngây ngất. Ngây ngất chỉ vì mình đã “mục sở thị” điều mình đã mơ được thấy! Cùng với dòng sông Seine, còn có vô số những di tích lịch sử khác của Ba Lê mà tôi cũng cảm thấy “ngây ngất” khi đặt chân tới. Đặc biệt, với tôi là một tín đồ công giáo, nhà thờ Đức Bà Ba Lê (Notre Dame de Paris) là nơi đã ghi lại một dấu ấn rất mạnh. Thú vị nhứt có lẽ là giây phút tôi đứng dưới chân tháp nơi mà văn hào Victor Hugo (1802-1885) đã cho người gù Quasimodo kéo từng hồi chuông.
Cũng may, tôi đã “xem” Ba Lê mà vẫn còn sống nhăn để tiếp tục mơ được “xem” nhiều nơi khác trên thế giới. Năm 1985, bước chân lãng du đã đưa tôi đến La Mã. Học lõm đôi ba câu tiếng Ý, tôi lại nghe có người bảo “Xem La Mã rồi chết” (vedere Roma e dopo morire). Mà quả thật, với tôi La Mã là một trong những thành phố đáng “xem” nhứt. Ở đâu tôi cũng nhìn thấy những di tích lịch sử. Tôi đã bỏ ra nguyên một tháng mà vẫn chưa “xem” hết những di tích lịch sử ấy.









Ý còn có một thành phố khác mà người ta cũng bảo đến “xem” rồi chết cũng đáng. Đó là Napoli (Naples), thành phố lớn thứ ba của nước Ý. Tôi lại học thêm một câu tiếng Ý khác: “Hãy đến xem Napoli rồi hãy chết” (Vedi Napoli e poi muori). Sợ chết quá cho nên tôi không dám đến Napoli mà lại lên tận miền Bắc Ý để “xem” cho bằng được một thành phố nổi tiếng khác của Ý là Venezia (Venise). Tại đây, người ta cũng bảo: “xem Venezia rồi chết” (Vedere Venezia e morire). Thật đáng đồng tiền bát gạo để đến “xem” thành phố thời trung cổ này. Được xây dựng trên hơn một trăm hòn đảo nhỏ, cả thành phố là một công trình kiến trúc trên nước. Đi đâu cũng thấy nước. Vốn sinh ra và lớn lên bên cạnh hai con sông cho nên với tôi, “xem” Venezia cũng giống như trở về quê nhà.

Thế giới có vô số nơi để “xem” rồi chết cũng được. Nhưng tôi chưa được “xem” bao nhiêu thì tuổi đời không còn bao nhiêu nữa. Nay trước khi “về cội”, có một nơi ở Úc Đại Lợi mà tôi luôn nghĩ phải là nơi cuối cùng phải đến “xem” một lần  rồi chết cũng được. Đó là núi “Uluru” hay còn gọi là Ayers Rock (Hòn đá Ayers), nơi được xem là linh thánh nhứt của người thổ dân Úc. Được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) xem là một di sản của thế giới mà một công dân Úc như tôi không đến “xem” quả là một thiếu sót lớn.

Tuần qua, một dịp may hiếm có đã đến: tôi được cơ hội tháp tùng một người thân lái xe từ Sydney đi xuyên qua biên giới của 3 tiểu bang NSW, Victoria và Nam Úc để đến Alice Springs, một thành phố thuộc Lãnh Thổ Bắc Úc (Northern Territory). Trước khi đến Alice Springs, chúng tôi dừng lại Uluru. Thật ra, với riêng tôi, Uluru mới là điểm đến trong cuộc hành trình dài gần 4000 cây số từ bờ biển phía Đông đến tận trung tâm của nước Úc. Tại đây có cả một xa lộ dài 250 cây số và một phi trường chỉ dành riêng để phục vụ khách du lịch muốn đến Uluru. Giữa sa mạc mênh mông, dòng xe qua lại cũng chỉ chuyên chở toàn khách du lịch đến xem Uluru. Nhưng tôi không xem việc đến “xem” Uluru như một chuyến du lịch mà là một cuộc hành hương và hành hương về cội nguồn. Tôi không chỉ đến đây để “xem” hòn đá vĩ đại này đổi màu tùy theo ánh nắng mặt trời. Tôi cũng chẳng đến đây để chụp một tấm hình  lưu niệm. Tôi chiêm ngắm hòn đá linh thiêng này để trở về cội nguồn của người thổ dân, những người đã từng có mặt tại Úc Đại Lợi cả 40 ngàn năm. Và hiểu theo một ý nghĩa nào đó, họ cũng là những người có một nền “văn hóa” riêng đáng được tôn trọng.

Mới đây Đài truyền hình CNN của Mỹ đã sa thải một nhà bình luận vì cho rằng người da đỏ tại Hoa Kỳ chẳng có một nền “văn hóa” nào cả. Nhà bình luận này là ông Rick Santorum, một người đã từng tham gia vào cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc hồi năm 2016 dưới lá cờ của Đảng Cộng Hòa. Lý do ông Santorum bị Đài CNN chấm dứt hợp đồng là vì, lên tiếng trong một đại hội của những người bảo thủ, ông  khẳng định rằng trước khi người da trắng đến định cư tại Bắc Mỹ, người bản địa da đỏ chẳng có bất cứ nền văn hóa nào cả hay văn hóa của họ chẳng ăn nhập gì với văn hóa Mỹ (1).

Phần lớn người Úc da trắng cũng đã từng nghĩ như thế về người thổ dân. Trong cuốn phim tài liệu có tựa đề “Lịch sử châu lưu trong máu của tôi” (In my blood it runs) được thực hiện hồi năm 2019, một nhà làm phim người Úc là bà Maya Newell đã cho thấy một ý thức và một cái nhìn khác của chính người thổ dân. Cuốn phim được mở đầu với cảnh một giáo viên giơ cao cuốn truyện bằng tranh vẽ có tựa đề “The Australia Book” được soạn thảo hồi năm 1952 rồi đọc: “Tại Vịnh Botany, (thuyền trưởng) Cook cập bến lần đầu tiên tại một đất nước mới. Sau đó ông cho thuyền đi dọc theo bờ biển, đến đâu vẽ bản đồ đên đó...Tại một hòn đảo ở Mũi York, ông giương cao cờ Anh Quốc. Và ông tuyên bố toàn bộ vùng đất mới này thuộc về nước Anh”.

Một cậu bé thổ dân 10 tuổi tên là Dujuan đã giơ tay phản đối: “Bài học trên đây dành cho người da trắng chớ không phải người thổ dân. Người này (thuyền trưởng Cook) đến trên một chiếc thuyền và ông ta là người da trắng đầu tiên đặt chân đến Úc Đại Lợi. Người thổ dân đã bảo họ đi và tìm một vùng đất khác, bởi vì đây là đất của họ (người thổ dân). Nhưng họ (người da trắng) đã không nghe”(2)

Bài học mà cậu bé thổ dân Dujuan đã “dạy” cho người da trắng cũng chính là bài học mà cậu đã học được từ cha mẹ, ông bà và tổ tiên của họ. Đây là bài học mà nhà làm phim Newell cũng đã cố gắng tiếp thu khi đến sống với gia đình của Dujuan tại một vùng ngoại ô của Alice Springs trong nhiều tuần lễ để thực hiện cuốn phim tài liệu về cuộc sống của người thổ dân. Dân số của thành phố này có khoảng 30 ngàn người, trong số này có 20 phần trăm là người thổ dân. Hầu hết những người thổ dân tại Alice Springs đều phải sống trong các trung tâm tạm cư được thiết lập vào thập niên 1960, khi Chính phủ Úc cưỡng bách họ phải rời bỏ đất đai của họ. Người thổ dân tại Alice Springs sống chẳng khác nào người tỵ nạn ngay trên chính quê hương của họ, dưới sự theo dõi và giám sát rất chặt chẽ của cảnh sát. Tại đây, hầu hết các xe cảnh sát đều là những chiếc xe thùng dùng để săn lùng và chuyên chở những người phạm pháp. Trước cửa  một tiệm bán bia rượu bên cạnh trung tâm thương mại Woolworths, suốt ngày lúc nào tôi cũng thấy có 2 viên cảnh sát túc trục để xét giấy tờ tùy thân của khách hàng. Và dĩ nhiên, đa số khách hàng là người thổ dân. Không béo phì vì thức ăn nhanh (fast food), thì người thổ dân cũng bị nghiện ngập, bị tiểu đường loại hai hay mắc phải những chứng bệnh khác do những thứ đồ ăn, thức uống và vi khuẩn mà chính người da trắng đã mang tới.

“Ánh sáng văn minh” hay “văn hóa” của người da trắng đã bứng người thổ dân ra khỏi môi trường sống tự nhiên của họ và truyền cho họ vô số bệnh tật và tệ nạn xã hội chưa từng có trước khi người da trắng đặt chân đến Úc Đại Lợi. Theo thống kê, mặc dù con số thiếu niên thổ dân tuổi từ 10 đến 14 chỉ chiếm có 6 phần trăm số thiếu niên Úc trong độ tuổi này, nhưng 70 phần trăm thiếu niên phạm pháp hiện đang bị giam giữ trong những trung tâm cải huấn trên toàn quốc Úc lại là thiếu niên thổ dân. Riêng trong  Lãnh thổ Bắc  Úc, tình hình lại càng tồi tệ hơn: tính đến cuối tháng Ba năm nay, cứ 33 thiếu niên Úc bị giam giữ, có đến 31 em là người thổ dân.

Mục đích của hành hương là để sám hối. Hành hương đến Hòn đá Uluru thánh thiêng của người thổ dân Úc và nhìn cảnh họ lang thang suốt ngày trên các đường phố Alice Springs rồi liên tưởng đến nạn kỳ thị chủng tộc mà người Mỹ gốc Phi Châu hiện đã và đang gánh chịu từ ngày quốc gia được gọi là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ được thành lập, tôi thấy không thể không làm một cuộc sám hối. Sám hối là bởi lẽ, trong suốt cuộc sống, ít hay nhiều tôi cũng đã từng nuôi dưỡng sự miệt thị và ngay cả  thù hận đối với những người không cùng màu da, văn hóa, ngôn ngữ hay tôn giáo với tôi. Ở Mỹ hiện nay  không chỉ có “thượng đẳng  da trắng” mà còn có cả “thượng đẳng da vàng” nữa. Tôi thường dễ quên mất một chân lý tối thượng trong cuộc sống. Đó là loài người liên đới chặt chẽ với nhau và nhứt là, bên kia màu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và trình độ phát triển, tất cả mọi người có mặt trên đất này đều giống nhau. Chỉ xét về bộ “gen”, dù thuộc chủng tộc nào, mọi người đều giống nhau đến 99 phần trăm. Còn xét về những nhu cầu cơ bản, cách suy nghĩ và cảm xúc, ở đâu và thời nào con người cũng giống nhau và chia sẻ chung một định mệnh. Năm 1963, sau khi bị bắt và ngược đãi vì cuộc tranh đấu bất bạo động cho các quyền dân sự tại Hoa Kỳ, cố mục sư Martin Luther King đã gởi đi từ  nhà tù một lá thư trong đó ông khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là thành phần “của một mạng lưới liên đới và hỗ tương, liên kết với nhau trong cùng một định mệnh”. Cũng năm đó, không đầy một năm sau cuộc khủng hoảng tại Cuba qua đó Hoa Kỳ và Liên Xô suýt tiêu diệt nhau và cũng hủy diệt cả thế giới, cố Tổng thống John F. Kennedy đã gởi cho nhà lãnh đạo Liên Xô một lá thư trong đó ông nói: “Tất cả chúng ta cùng thở chung một không khí. Tất cả chúng ta đều trân quý tương lai của con cái chúng ta. Và tất cả chúng ta đều phải chết”(3).

Tổng thống tiên khởi của Sénégal, ông Leopold Sédar Senghor (1906-2001), có làm một bài thơ với tựa đề “Bài thơ gởi người anh em da trắng của tôi” (Poème à mon frère blanc) như sau:

Này người bạn da trắng thân mến của tôi ơi,

Khi sinh ra, tôi đã đen,

Khi lớn lên, tôi đã đen.

Khi ra dưới mặt trời, tôi vẫn đen,

Khi tôi bệnh, tôi vẫn đen,

Rồi khi tôi chết, tôi sẽ vẫn đen.

Còn anh, người da trắng,

Khi sinh ra, anh đỏ hồng,

Khi lớn lên, anh đã trắng,

Khi ra dưới mặt trời, anh đỏ au,

Khi gặp lạnh, anh tái xanh,

Khi sợ hãi, anh xanh lè,

Khi lâm bệnh, anh vàng lẹt,

Và khi chết, anh trở nên xám ngắt.

Như vậy giữa hai chúng ta,

Ai là người da màu? (bản dịch của tác giả Phạm Hồng Lam) (4).

(Xin được tiếp tục bài thơ để kết thúc bài viết này)

Và bạn ơi xin được hỏi:

Dù khác biệt màu da,

Chẳng lẽ, chúng ta không có cùng cội nguồn?

 

Chu Văn

 

Chú thích

 

1.            https://www.politico.com/news/magazine/2021/05/25/rick-santorum-cnn-donald-trump-490813

2.            https://www.bbc.com/news/stories-56544429

3.            https://www.psychologytoday.com/au/blog/missing-each-other/202105/why-do-we-hate

4.            https://dcvonline.net/2021/05/05/chinh-chung-ta-co-ky-thi-chung-toc-khong/

 

 

 

 

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Nhớ cụ Tản Đà

 


Chu Văn

Trong những năm gần đây và nhứt trong thời đại dịch Covid-19, tôi thường ngẫm nghĩ về câu nói của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu(1889-1939): “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn. Cho nên quân nó dễ làm quan”. Hai câu thơ này được trích từ bài thơ có tựa đề “Xem tiểu thuyết “Tờ chúc thư” cảm đề” của cụ được đăng trên An Nam tạp chí số 8/1927. Có lẽ đây là bài thơ đầu tiên trong văn chương chữ quốc ngữ trực diện chống tham nhũng ở Việt Nam vào thời đó. “Cụ Tản Đà đã chỉ ra một vấn nạn vô cùng nặng nề và dai dẳng của dân tộc. Ấy là mối quan hệ giữa dân trí với nạn quan tham lại nhũng”(1). Ngày nay, hơn 90 năm sau, với tôi 2 câu thơ của cụ Tản Đà vẫn có tính thời sự nóng bỏng. Thời nào và ở đâu cũng thế,  khi dân trí thấp thì người dân trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa dân túy. Lãnh tụ dân túy là người khai thác triệt để sự ngu muội, cuồng tín và nhứt là những bản năng thấp hèn của người dân.

Ngay lúc này đây, khi nói đến chủ nghĩa dân túy, tôi không thể không nghĩ đến Thủ tướng Narendra Modi của Ấn Độ. Tôi chưa từng đặt chân đến Ấn Độ. Tôi chỉ thực sự biết được bộ mặt thật của xã hội Ấn Độ kể từ khi người nữ tu nhỏ bé người Albani tên là Teresa Bojaxhiu (1910-1997) rời bỏ tu viện nơi bà đang dạy học trong một trường trung học dành riêng cho con cái nhà giàu để đến cư ngụ trong một khu ổ chuột của Thành phố Calcutta và  chia sẻ cuộc sống với những người cùng khổ nhứt trong xã hội, đặc biệt các bệnh nhân đang hấp hối bên lề đường. Người nữ tu mà về sau thế giới thường gọi tên một cách thân thương là Mẹ Teresa Calcutta đã khởi sự công việc từ thiện từ thập niên 1950, nhưng mãi đến cuối thập niên 1960, nhờ cuốn phim tài liệu có tựa đề “Làm một điều tốt đẹp cho Thiên Chúa” (Something Beautiful for God) do một phóng viên người Anh là ông Malcolm Muggeridge thực hiện, thế giới mới biết đến tên tuổi của bà và dĩ nhiên cũng đã thấy được cuộc sống khốn khổ của người nghèo tại Ấn Độ và hố ngăn cách giàu nghèo tại nước này. Tôi vẫn nhớ mãi những người bạn Ấn Độ cùng làm việc chung với tôi trong một đài phát thanh công giáo tại Phi Luật Tân hồi thập niên 1980. Họ không tỏ ra mặn mà với hoạt động từ thiện của Mẹ Teresa mấy. Một số cho rằng người nữ tu này đã “bêu xấu” Ấn Độ khi cho thế giới thấy được cuộc sống của người nghèo trong những khu ổ chuột.

Nay, hơn 30 năm sau khi Mẹ Teresa đã ra đi, bộ mặt xã hội của quốc gia có dân số đông thứ nhì thế giới này lại được phơi bày một cách thê thảm hơn qua cơn đại dịch Covid-19. Mỗi ngày có đến trên dưới 400 ngàn người bị lây nhiễm và số tử vong có khi lên đến hơn 4000 người mỗi ngày. Hình ảnh được chiếu trên các phương tiện truyền thông mỗi ngày thật rùng rợn: hành lang các bệnh viện trở thành nhà xác, lửa từ các giàn hỏa thiêu tập thể bốc lên khắp nơi...

Đài Tiếng nói Quốc tế của Pháp RFI đã có lý khi nhận định: Thủ tướng “Narendra Modi đang trả giá cho sự kiêu căng của mình”. Đầu năm 2020, hãnh diện về sự thành công của mình trong cuộc chiến chống đại dịch, “Thủ tướng Modi liên tục nhấn mạnh đến “ngoại lệ Ấn Độ”: rất ít ca nhiễm và tử vong tính theo tỷ lệ dân số! Ông còn lạc quan đến độ, trước Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 26 tháng 9 năm 2020, ông đã thông báo “khả năng sản xuất vac-xin và khả năng cung ứng của Ấn Độ sẽ được huy động để giúp nhân loại chống cuộc khủng hoảng này”(2).

Huênh hoang, kiêu căng, tự mãn đến độ phủ nhận tính nghiêm trọng của đợt bùng phát thứ hai của đại dịch, Thủ tướng Modi cho tổ chức một cuộc hành hương khổng lồ nhân ngày lễ Kumbh Mela, quy tụ hàng triệu người Ấn giáo đổ xô đến tắm gội bên bờ sông Hằng. Đã thế ông còn tập trung dân chúng trong các cuộc vận động bầu cử tại một số tiểu bang. Và cho tới nay, bất chấp mối đe dọa chết người của Covid-19, bất chấp các khuyến cáo của các chuyên gia y tế, người được dân chúng tung hô như nhà “hiền triết” vẫn không chịu ban hành lệnh phong tỏa vì sợ ảnh hưởng đến kinh tế. Đây là một thái độ ngu xuẩn và thiếu trách nhiệm đến độ một nhà văn nổi tiếng của Ấn Độ là bà Arundhati Roy đã phải lên tiếng tố cáo: “Chúng ta đang chứng kiến tội ác chống lại nhân loại”(3).

Tại một quốc gia đông dân khác là Ba Tây, hiện cũng đang được cai trị bởi một lãnh tụ dân túy là ông Jair Bolsonaro, người ta cũng có thể nói đến “tội ác chống lại nhân loại” khi chứng kiến cảnh chết chóc do đại dịch Covid-19 gây ra chỉ vì cung cách đối phó tồi tệ và thiếu trách nhiệm của nhà lãnh đạo. Chỉ trong ngày 8 tháng Tư vừa qua, có đến 4250 người thiệt mạng vì Covid-19. Đây là con số tử vong trong một ngày cao nhứt trên trái đất! Hệ thống y tế của Ba Tây đã hoàn toàn sụp đổ. Ngoài một số yếu tố như bất bình đẳng xã hội, hệ thống y tế xuống cấp một cách trầm trọng, thái độ ngu xuẩn và thiếu trách nhiệm của một nhà lãnh đạo dân túy như ông Bolsonaro mới thực sự là nguyên nhân gây ra thảm họa cho đất nước. Khi đại dịch bùng nổ, ông bảo đây chỉ là một “cơn cúm nhẹ” không gây bất cứ nguy hiểm chết người nào. Dân chúng đã tin lời ông. Rồi khi đại dịch lây lan khắp nơi, ông ngăn cản bất cứ một sự ứng phó nào từ trung ương. Ông cũng xem thường và chống lại các nỗ lực của các thị trưởng và thống đốc tiểu bang nào tìm cách áp đặc việc phong tỏa hay đề ra những biện pháp phòng chống như đeo khẩu trang, giữ giãn cách xã hội. Chỉ trong một năm, ông đã thay đổi đến 4 bộ trưởng y tế, bởi vì vị nào cũng bị ông buộc phải sử dụng những loại thuốc không hề được kiểm nghiệm như Ivermecin và Hydroxychloroquine để chữa trị Covid-19 (4). Và mới đây, thay vì nhận trách nhiệm của mình trong việc đối phó tồi tệ trước đại dịch, ông lại đánh trống lảng bằng cách tung ra thuyết âm mưu theo đó chính Trung Cộng đã sáng chế ra siêu vi Corona để đầu độc thế giới và thủ lợi.(5)

Không phải tình cờ mà ông Bolsonaro buộc các bộ trưởng y tế của Ba Tây phải sử dụng thuốc trừ sốt rét Hydroxychloroquine để chữa trị Covid-19. Đây chính là một “toa thuốc” ngu xuẩn mà một người không có bất cứ một hiểu biết nào về y khoa như cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng đã từng đề ra cho dân chúng Mỹ dùng. Là nhà lãnh đạo của nền kinh tế lớn nhứt tại Châu Mỹ La Tinh, ông Bolsonaro theo đuôi ông Trump trên từng cây số. Chính vì thế mà ông được thế giới tặng cho danh hiệu “Trump của vùng nhiệt đới” (Tropical Trump).

Dưới thời ông Trump, Hoa Kỳ chiếm giải quán quân về con số người bị lây nhiễm và tử vong vì Covid-19. Bolsonaro chạy theo đuôi ông Trump cho nên thế giới không ngạc nhiên tại sao Ba Tây cũng có số người bị lây nhiễm và tử vong cao kỷ lục. Và dĩ nhiên, nhìn vào số người bị lây nhiễm và tử vong cao ngút ngàn hiện nay tại Ấn Độ, thật khó mà phủ nhận bóng ma của ông Trump trên dung mạo của Thủ tướng Modi và nhứt là trên vô số những giàn hỏa thiêu tập thể đang ngày đêm bốc lửa tại Ấn Độ.

Hoa Kỳ dưới thời Trump, Ba Tây dưới thời Bolsonaro và Ấn Độ dưới thời Modi là ba quốc gia dân chủ trong đó lãnh tụ là người được người dân bầu lên. Cụ Tản Đà chưa từng sống trong một chế độ dân chủ. Nhưng ít ra cụ cũng đã thấy được mối tương quan giữa dân trí và dân chủ. Dân trí thấp dẫn đến một nền dân chủ giả hiệu trong đó lãnh tụ dân túy hành xử nếu không như một nhà độc tài thì cũng theo đường lối chuyên chế.

Thời cụ Tản Đà, đa số dân chúng Việt Nam còn sống trong mê muội vì mù chữ. Ở những nước như Ấn Độ hay Ba Tây là nơi mà khoảng cách giữa giàu nghèo, giữa kiến thức và ngu muội vẫn còn là vực thẳm, sự kiện người dân “ngu” chạy theo các lãnh tụ dân túy là điều có thể hiểu được. Còn tại một đất nước “văn minh” như Hoa Kỳ mà vẫn còn có những lãnh tụ dân túy tiếp tục mê hoặc người dân bằng những chiếc bánh vẽ độc hại của họ là bởi vì người dân không “mù chữ” hay mù kiến thức. Họ “mù trong lương tâm”. Đây mới thực sự là cái “ngu quá lợn”!

Hoa Kỳ đã một thời mê ngủ trong cái ngu ấy và hiện vẫn muốn tiếp tục kéo dài  giấc ngủ ấy. “Kẻ mà ai cũng biết là ai đó” (The One every knows who he is), xét dưới bất cứ phương diện nào, từ trí tuệ, tâm lý, tính tình cho đến đạo đức, là  người có một nhân cách tồi tệ, mạt hạng trong đó dối trá đã trở thành phương châm sống và hành động. Những lời dối trá của con người này hẳn  phải độc hại khủng khiếp bởi vì các công ty mạng xã hội như Twitter, Facebook, Instagram...đã buộc lòng phải “bịt miệng” ông bao lâu ông còn tiếp tục phun ra những lời dối trá độc địa của mình. Đây quả là một hồi chuông cảnh tỉnh cho tất cả những ai còn muốn tự ru ngủ và tự sướng bằng những chiếc bánh vẽ của dối trá trong thứ “thiên đường mù” ấy của lãnh tụ.

Nghèo đói, ngu dốt, mù chữ không phải là một cái tội. Bịt mắt lương tâm để trở nên mù lòa trước sự dối trá: đó là một tội ác, bởi vì đó là hành động đồng lõa với cái Ác!

 

 

 

Chú thích

1.   https://toquoc.vn/tan-da-chong-tham-nhung-99105153.htm

2.   https://thongluan-rdp.org/chau-a/item/21429-covid-19-narendra-modi-dang-tr-gia-cho-s-kieu-cang-c-a-minh

3.   https://baotiengdan.com/2021/05/07/khi-nen-dan-chu-lon-nhat-the-gioi-thieu-oxy/

4.   https://theconversation.com/covid-19-in-brazil-how-jair-bolsonaro-created-a-calamity-159066

5.   https://www.thejakartapost.com/news/2021/05/06/brazils-bolsonaro-links-pandemic-to-germ-warfare-.htm

 

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Dửng dưng là tên gọi của cái Ác

 


Chu Văn

Khoảng đầu thập niên 1990, nghĩa là vài năm sau khi Việt Nam tuyên bố mở cửa và chạy theo điều được gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, một số sinh viên học sinh được gởi đi du học tại Phi Luật Tân. Phi Luật Tân được chọn làm địa điểm du học, bởi vì nước này tương đối gần Việt Nam, tại đây Anh ngữ được sử dụng như một sinh ngữ chính, học phí thấp, giá sinh hoạt cũng rẻ. Trong số những sinh viên du học tại Phi, tôi thấy cũng có một số tu sĩ công giáo và trong số tu sĩ công giáo, tôi biết chắc có một nữ tu đã từng là thành viên của cái gọi là “Ủy ban đoàn kết công giáo”. Đây là một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng Sản. Nhiều người đọc trại ra thành “Ủy ban đàn két cong giáo”.

Biết tôi hay lên tiếng phê bình chế độ, một hôm vị nữ tu này ngỏ ý mời mọc: “Hãy về Việt Nam thăm thú một lần cho biết. Bây giờ Việt Nam cởi mở và tiến bộ hơn Phi Luật Tân rất nhiều”. Vào thời điểm đó và cho đến nay, kinh tế Phi Luật Tân vẫn cứ èo uột, tệ nạn xã hội đầy dẫy. Mặc dù là một nước dân chủ, Phi Luật Tân vẫn bị thế giới bên ngoài xem như một “bệnh nhân của Á Châu” (the sick man of Asia). Dù vậy, tôi vẫn thấy Phi Luật Tân là một nơi dễ sống: đa số người dân Phi lịch sự, lương thiện và tử tế. Thành ra trong câu chuyện trao đổi với vị nữ tu, tôi chỉ hỏi lại: “Thế ở Việt Nam có tự do báo chí như Phi Luật Tân không? Người Việt Nam có dám lên tiếng phê bình và ngay cả chế diễu các cấp lãnh đạo quốc gia như người Phi không?” Và câu hỏi mà tôi nghĩ đã khiến cho vị nữ tu “giao liên” này ấm ức đến độ phải câm miệng là: “Ở Việt Nam ngày nay, người dân có biết “lịch sự” xếp hàng khi chuẩn bị lên những phương tiện di chuyển công cộng như người Phi không?” Hay “Ở Việt Nam, có cảnh trên các phương tiện di chuyển công cộng, hành khách có tự làm công việc trả tiền, thối tiền và giúp nhau chuyển tiền đến tận tay người tài xế mà không sứt mẻ đồng xu nào như người Phi không?”

Tôi thường đánh giá “sức khỏe” của một đất nước qua những cử chỉ nhỏ như thế. Về kinh tế, Việt Nam có lẽ đã đạt được nhiều bước đáng kể. Tuy nhiên, liệu những giá trị nhân bản và đạo đức vốn tạo nên “sức khỏe” của một quốc gia, có thực sự song hành với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam không?

Trước năm 1975, trong chương trình triết học, tôi có được học đôi chút về chủ nghĩa cộng sản. Nhưng phải “thành thực khai báo” là cái mớ lý thuyết ấy chẳng thấm vào đầu tôi bao nhiêu. Phải đợi cho đến khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam, áp đặt lên chủ nghĩa cộng sản, tôi mới thực sự hiểu được thế nào là cộng sản. Thật vậy, chủ nghĩa cộng sản mà khi đến Pháp vào đầu thập niên 1982, tôi thường nói với người Pháp rằng tôi đã chạm đến bằng đầu ngón tay của tôi (toucher du doigt), chính là cái Ác đã được định chế hóa. Cộng sản tự bản chất là độc ác và biến cái xã hội mà họ lãnh đạo cũng thành độc ác.

Cứ tưởng phát triển kinh tế sẽ làm cho người cộng sản bớt độc ác hơn và bộ mặt của xã hội cũng nhân bản hơn. Nhưng chưa bao giờ tại Việt Nam người ta lên tiếng báo động về sự lên ngôi của cái Ác cho bằng hiện nay. Gần đây, nhiều người chú ý đến lời báo động của ông Lê Kiên Thành, quý tử của đồ tể Lê Duẩn, người đã từng giữ chức Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Trong một bài viết có tựa đề “Tôi cầu mong chúng ta sẽ thức tỉnh”, ông Thành ghi nhận: “Điều rõ nhất tôi cảm nhận được là chưa bao giờ cái xấu và tội ác đến với chúng ta bình thản như thế này. Người ta nhìn nó thản nhiên, như là điều tất yếu”. Người đã từng là thái tử đảng kể lại: “Đó là buổi sáng, khi tôi đọc tin về một cậu thanh niên cứa cổ đứa bé 8 tháng tuổi; đó là khi tôi đọc tin về những người dân cùng xông vào đánh chết một kẻ trộm chó...” Ông Thành phê phán: “Có những người trong chúng ta hôm nay dùng cái ác và cái xấu để sinh tồn. Việc một tên cướp bị tuyên án tử hình vì chém đứt tay một người  và trước đó đã chém 14 người, nhưng bà mẹ đẻ ra tên cướp đó không hề mảy may ân hận. Đó là hình ảnh đáng sợ nhất: một người mẹ biết quý con mà không còn coi sự sống của người khác ra gì” (1).

Ông Thành đã có lý để nhấn mạnh đến thái độ dửng dưng của rất nhiều người Việt Nam hiện nay trước cái Ác. Theo nhà báo Tưởng Năng Tiến, “nói một cách tóm tắt, hiểm họa lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay”. Dửng dưng trước tình hình đất nước, dửng dưng trước cái Ác, nhưng lại rất hăng say và ngay cả cuồng nhiệt đối với các thứ “sao” như tin tức của báo chí nhà nước ghi nhận: “Fan Việt đội mưa rét vạ vật ở sân bay đón sao Hàn. Đón sao Hàn giữa dịch Corona. Fan vây kín Tân Sơn Nhất để đón nhóm nhạc Hàn giữa đại dịch Corona. Fan bóng đá còn đông đảo và cuồng nhiệt hơn gấp bội. Việt Nam không ngủ, hàng triệu người xuống đường mừng nhà vô địch Sea Games” (2). Để cho đủ danh sách các “sao” được người Việt Nam hiện nay sùng bái, có lẽ tác giả Tưởng Năng Tiến cũng nên ghi thêm “siêu sao” Donald Trump!

Tháng Tư năm nay, khi nghĩ về cái Ác đang bao trùm và nhận chìm xã hội Việt Nam xuống vực thẳm, tôi cũng liên tưởng đến số phận của người dân A Phú Hãn. Chính phủ Mỹ vừa tuyên bố sẽ rút quân ra khỏi nước này. Viễn ảnh của sự trở lại của chế độ Taliban trên đất nước này là điều xem ra gần như tất yếu. Thế giới đã chứng kiến sự độc ác của chế độ này và một khi trở lại cầm quyền chắc chắn nó cũng sẽ không từ bỏ bộ mặt độc ác của nó.

Tôi nghĩ đến người dân A Phú Hãn bởi vì số phận của họ cũng giống như số phận của người Việt Nam. Mỹ đến rồi Mỹ đi, bỏ mặc cho cái Ác cày xéo cả một dân tộc.

Là công dân của một quốc gia, tôi không đứng bên lề chính trị. Nhưng dĩ nhiên, tôi “làm chính trị” theo cách thế của tôi. Và cách thế của tôi là tôi không sống chết cho một đảng chính trị nào cả. Tôi sống chết cho lẽ phải. Phải thì tôi dồn phiếu cho. Không thì tôi nghỉ chơi. Về nước Mỹ, tôi cũng “ba phải” như thế.

Bàn về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa,  những người Việt Nam ủng hộ Đảng Cộng Hòa khăng khăng cho rằng chính cái Đảng Dân Chủ “thổ tả” đã khiến cho Miền Nam Việt Nam bị bức tử, vì Quốc hội mà họ nắm quyền kiểm soát đã cắt đứt viện trợ và chống lại việc dội bom xuống Bắc Việt. Những người Việt Nam sống chết cho Đảng Dân Chủ thì lại dựa trên sự kiện tổng thống thuộc Đảng Cộng Hòa Richard Nixon đã bắt tay với Trung Cộng để trút hết tội lỗi lên đầu Đảng này vì đã bán đứng đồng minh Việt Nam Cộng Hòa. Riêng tôi suy nghĩ một cách đơn giản: dù có thuộc Đảng nào đi nữa, Hoa Kỳ lúc nào cũng đặt quyền lợi của mình lên trên hết. Vì quyền lợi của họ, họ “đi vào” và vì quyền lợi của họ, họ “đi ra” và bỏ mặc cho cái Ác hoành hành trên một đất nước mà đã họ từng cam kết giúp đỡ.

Quyền lợi của nước Mỹ thật ra trước hết cũng chính là cái ghế của nhà lãnh đạo. Vì của ghế của ông, ông sẵn sàng bán đứng hay bỏ rơi đồng minh. Quyền lợi của nước Mỹ cũng là sự lãnh đạo của Đảng đang cầm quyền: sự lãnh đạo ấy được đặt lên trên số phận của một dân tộc khác. Và dĩ nhiên, quyền lợi của nước Mỹ xét cho cùng cũng là những thứ tự do cá nhân mà người Mỹ luôn đòi hỏi cho mình bất kể những mất mát, khổ đau và ngay cả mạng sống của người khác. Người Mỹ muốn dựng tượng nữ thần tự do trên khắp thế giới, nhưng tiếng kêu than của những người khốn khổ mà nữ thần này che chở, lại không được họ màng tới.

Tôi thường có ý nghĩ ấy khi suy nghĩ về hai cơn đại dịch đã và đang hoành hành tại Mỹ. Trước hết là đại dịch Covid-19. Văn minh nhứt thế giới, giàu có nhứt thế giới, có hệ thống y tế tiên tiến nhứt thế giới, vậy mà Hoa Kỳ lại là nước đứng đầu thế giới về con số người bị lây nhiễm và tử vong vì Covid-19. Tất cả chỉ vì hai chữ tự do: tự do chống lại những qui định cần thiết như đeo khẩu trang, tuân giữ giãn cách xã hội và tập trung đông người, tự do tập trung để “thờ phượng”...mặc cho dịch bệnh có cướp đi mạng sống của những người xung quanh. Ai có chết cũng mặc kệ, miễn là tôi được tự do!

Bênh cạnh đại dịch Covid-19, còn có một đại dịch khủng khiếp hơn: đó là đại dịch “bạo động bằng súng đạn”. Trong cái quốc gia lúc nào cũng muốn là “vĩ đại” nhứt thế giới lại xảy ra chuyện bắn giết như cơm bữa. Ai có chết vì súng đạn cũng mặc kệ, bằng mọi giá tôi phải bảo vệ quyền tự do mang súng và sử dụng súng của tôi! 

Tự do đã biến thành dửng dưng trước cái Ác và nỗi khổ đau của người khác. Cả thế giới đã theo dõi vụ án của Derek Chauvin, viên cảnh sát Mỹ đã sát hại người Mỹ gốc Phi Châu George Floyd dạo tháng Năm năm ngoái. Thước phim mà một thiếu nữ tình cờ quay được và được trưng ra như một bằng chứng sống động về hành vi sát nhân của Chauvin, cho thấy khi dùng 2 đầu gối đè lên ông Floyd cho đến độ nghẹt thở, viên cảnh sát này vẫn thản nhiên nhìn về hướng người đang quay phim bằng một cái nhìn mà ký giả John Blake của Đài CNN gọi là “còn tệ hơn cả sự hận thù”. Đó là cái nhìn của dửng dưng. Ký giả này viết: “Đây (cái nhìn của Chauvin) sẽ là một trong những hình ảnh tiêu biểu của thời đại chúng ta bởi vì nó nói lên một câu chuyện về chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc mà nhiều người không muốn nghe nói đến” (3).

Sự dửng dưng của xã hội Việt Nam trước cái Ác và chuyện đang xảy ra ở Mỹ không khỏi làm tôi nhớ lại lời cảnh cáo của ông Elie Wiesel (1928-2016), một người Do Thái đã từng sống sót từ cuộc diệt chủng do Đức Quốc Xã chủ xướng trong thời Đệ nhị Thế chiến  và được trao giải Nobel Văn Chương. Ông nói: “Phản nghĩa của tình yêu không phải là hận thù mà là dửng dưng”. Với tôi, dửng dưng trước cái Ác là tên gọi của cái Ác.  Nhìn nỗi khổ đau và chết chóc của người xung quanh mà ánh mắt của tôi như bất động, trái tim của tôi không thổn thức...thì tôi có khác gì thú vật chỉ biết chăm sóc cho bộ da riêng của mình.

 

 

 

 

Chú thích:

 

1.            baotiengdan.com/2021/04/13/vi-sao-tai-viet-nam-hom-nay-cai-ac-troi-day

2.            https://vietbao.com/a307720/s-t-t-d-tuong-nang-tien-nuoc-mien-nhin-tu-xu-viet

3.            https://edition.cnn.com/2021/04/24/us/derek-chauvin-eyes-indifference-blake/index.html

 

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

Con vật có lý trí


 


Chu Văn

Tuần qua, ghé thăm một ông bạn chí cốt, thấy ông đang nằm ôm Ipad nghe chuyện ma của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Hỏi sao không theo dõi thế sự nữa, ông nói rằng ông “chán” lắm rồi, vì chính trị, nhứt là chính trị Mỹ, quá thối nát, nghe bẩn tai. Tôi chưa từng đọc, nghe hay say mê bất cứ chuyện ma nào của nhà văn kiêm MC Nguyễn Ngọc Ngạn. Nhưng với tôi, thoát khỏi cái vòng kim cô chính trị hiện nay không phải là dễ. Cụ thể, tôi đang bị ám ảnh bởi một nhân vật chính trị mà có lẽ hai thuật ngữ được nhà văn J.K Rowling sử dụng để nói đến nhân vật phản diện Voldemort trong tập truyện Harry Potter của bà diễn tả chính xác hơn cả. Thật vậy, Voldemort, trong thế giới phù thủy của nhà văn Rowling, đã tạo ra một sự thần phục, say mê hoàn toàn trên một số đám đông và một nỗi sợ hãi, kinh ghét khủng khiếp trên những đám đông khác đến độ tất cả mọi người đều chỉ dám nhắc đến ông như “kẻ không nên gọi tên” (He Who must not be named) và “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” (The One every knows who he is). Tôi không muốn nhắc đến tên nhân vật chính trị đó, bởi vì ai “cũng biết ông là ai” và ai cũng đều biết rằng ông hiện đang gây xáo trộn và chia rẽ phải nói là khủng khiếp trong quan hệ xã hội khắp mọi nơi chớ không riêng gì tại Hoa Kỳ.

Mới đây tôi có đọc được một bài phóng sự của Joe Pinsker trên báo The Atlantic. Trước hết tác giả ghi lại mối quan hệ sứt mẻ giữa 2 người phụ nữ mà tình bạn đã có từ 3 thập niên qua. Trong 15 năm qua, cứ 2 ngày thì họ đi ăn trưa với nhau một lần và rất thường đi nghỉ hè chung với nhau. Họ cũng có mặt trong hầu hết những dịp sinh nhựt, cưới hỏi hay ma chay trong gia đình của nhau. Nhưng người phụ nữ được ký giả Pinsker đặt tên là Luna cho biết kể từ khi “kẻ mà cũng biết là ai đó” được bầu làm tổng thống, người bạn của bà đã say mê cuồng nhiệt ông ta. Luna đề nghị nên dẹp “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” sang một bên để duy trì tình bạn. Nhưng người phụ nữ kia thà đánh mất một tình bạn keo sơn hơn là từ bỏ “niềm tin” đối với nhân vật chính trị đó.

Ký giả Pinsker trích dẫn một cuộc thăm dò do hãng thông tấn Reuters và Ipsos thực hiện. Kết quả của cuộc thăm dò cho thấy kể từ sau chiến thắng hồi năm 2016 của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”, 16 phần trăm những người được hỏi ý kiến cho biết rằng vì cuộc bầu cử, họ đã cắt đứt liên lạc với một người bạn hay một người thân trong gia đình. Tôi nghĩ nay tỷ lệ ấy cao hơn rất nhiều.

Trong số những người được ký giả Pinsker hỏi ý kiến có một phụ nữ gốc Việt tên là Helen Nguyễn. Là một kỹ sư điện toán, người phụ nữ gốc Việt 41 tuổi  này cho biết vì bà không thích “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” cho nên đã có những cuộc cãi vã gay gắt với cha mình. Rồi kể từ khi Quốc hội Liên bang Mỹ chứng nhận chiến thắng của ông Joe Biden, cha bà, mặc dù cùng sống chung trong gia đình, đã không còn nhìn mặt bà nữa. Bà nói với ký giả Pinsker: “Tôi cảm thấy như thể chúng tôi là những người xa lạ mặc dù sống chung dưới một mái nhà”.

Trên đây chỉ là một điển hình trong rất nhiều cuộc chia tay giữa bạn bè, người thân trong cộng đồng người Việt tại Mỹ.

Một số người được ký giả Pinsker tiếp xúc khẳng định rằng những ai ủng hộ “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” không đủ tư cách để trở thành một người bạn của họ. Họ nói rằng thái độ này nói lên một sự thiếu sót về mặt đạo đức (1).

Càng bước vào tuổi già, tôi càng trân quý tình bạn và dĩ nhiên, với tôi, tình bạn được kết nối dựa trên một số những giá trị mà 2 bên cùng chia sẻ với nhau. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, đó là chuyện thường tình trong quan hệ xã hội. Nhưng sau nhiệm kỳ 4 năm của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”, mặc dù đang sống ở tận Miệt Dưới này, tôi thấy mình cũng đã mất một số bạn và quan hệ với một số khác đã trở nên nếu không sứt mẻ thì cũng lạnh lùng. Có những người tôi rất muốn gặp lại để hàn gắn một tình bạn đã bị sứt mẻ, nhưng cánh cửa của hòa giải vẫn mãi mãi bị đóng kín. Số khác, rất đông, thì lại có thái độ giữ kẽ mỗi khi gặp lại. Tuyệt nhiên, ai cũng nắm vững một quy luật bất thành văn: chớ đụng đến tên của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”. Tôi vẫn cố gắng giữ liên lạc với bạn bè và người thân mà tôi biết rõ đang say mê cuồng nhiệt và ngay cả sùng bái “kẻ mà ai cũng biết là ai đó”. Trên đời này có quá nhiều điều khó hiểu và điều khó hiểu nhứt hiện nay đối với tôi đó là sự say mê cuồng nhiệt và sùng bái ấy.

Mới đây một cựu luật sư của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” là bà Sydney Powell đã đưa ra một lời giải thích mà tôi không biết có nên xem như một chút ánh sáng chiếu rọi vào sự say mê cuồng nhiệt và sùng bái của bạn bè và người thân của tôi đối với nhân vật chính trị này không. Trong một lần xuất hiện bên cạnh luật sư nổi tiếng của nhân vật này là ông Rudy Guiliani ngày 19 tháng Mười Một năm vừa qua, bà Powell đã thao thao bất tuyệt với vô số “bằng chứng” về gian lận bầu cử đặc biệt nhắm vào hệ thống điện toán bầu cử có tên là Dominion Voting Systems. Vì uy tín của mình bị hạ giảm nặng nề cho nên hãng này đã đâm đơn kiện bà Powell và đòi một số tiền bồi thường lên đến 1 tỷ 3 trăm triệu Mỹ kim. Dĩ nhiên tất cả những “bằng chứng” mà bà Powell đưa ra, trong đó có cả chuyện hãng Dominion có liên hệ với nhà tộc tài của Venezuela là ông Hugo Chavez vốn đã qua đời cách đây 8 năm, đều là những lời dối trá lố bịch. Biết không thể chống chế được khi phải ra hầu tòa vì tội dựng chuyện để bôi nhọ hãng Dominion cho nên qua luật sư của mình, bà Powell xin tòa bác đơn kiện của hãng này. Lý do bà đệ trình lên tòa là: khi đưa ra các “bằng chứng” để tố cáo hãng Dominion, bà chỉ nói lên một “ý kiến” và bà biết rõ rằng không có một “người có lý trí” (reasonable person) nào tin lời bà (2).

Tôi thật chưng hửng khi nghe lời biện minh của bà Powell về những lời dối trá trắng trợn của bà. Tôi không dám cho rằng bạn bè và người thân của tôi là những người “không có lý trí” khi họ tin vào những lời dối trá của bà Powell và nhứt là của “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” và trên 30 ngàn lời nói dối của ông ta. Cho tới nay, mặc dù việc ông Joe Biden đã tuyên thệ nhậm chức và đã hành xử như một tổng thống từ hơn 2 tháng nay là một sự thật không thể chối cãi được, vậy mà nhiều bạn bè và người thân của tôi vẫn tiếp tục cho rằng ông đã đánh cướp cuộc bầu cử và tin rằng “nay mai” “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” sẽ trở lại cầm quyền và bắt nhốt toàn bộ các lãnh tụ của Đảng Dân Chủ, kể cả cựu Tổng thống Barack Obama và bà Hillary Clinton. Bên cạnh niềm hy vọng hão huyền ấy còn có vô số thuyết âm mưu hiện đang được phát tán trên các trang mạng xã hội.

Lời thú nhận của bà Powell không thể không làm tôi nhớ đến định nghĩa về con người của một trong những cha đẻ của triết học Tây Phương là Aristotélès (384-322). Theo triết gia Hy Lạp  này, “người là con vật có lý trí”. Tôi vẫn hiểu một cách rất đơn giản về lý trí: đó là khả năng biết phân biệt thiện - ác và chân - giả. Thú vật không có khả năng đó. Thú vật chỉ hành động theo bản năng. Khi con người chỉ sống và hành động theo bản năng, nhứt là những bản năng thấp hèn thì khoảng cách giữa người và thú dễ bị xóa bỏ.

Mỗi năm cứ đến Tháng Tư Đen thì có lẽ hầu như người Việt tỵ nạn nào cũng đều nghĩ đến cái khoảng cách giữa người và thú khi những người Cộng sản xâm chiếm Miền Nam và áp đặt chủ nghĩa cộng sản. “Sâu bọ lên làm người” và “ người xuống hàng súc vật”. Nghe thật oái oăm, nhưng câu đối dường như muốn nói lên một sự thật phũ phàng là khi lý trí bị đè bẹp thì con người cư xử với nhau chẳng khác nào hay còn thua cả súc vật.

Hôm thứ Bảy 27 tháng Ba vừa qua, chính phủ quân phiệt Miến Điện đã cử hành Ngày Quân Lực. Song song với một cuộc diễn binh rầm rộ là những bữa tiệc linh đình của các tướng lãnh. Đại diện nhiều nước, trong đó dĩ nhiên có Nga và Trung Cộng, đã có mặt trong những cuộc liên hoan ấy. Và cùng ngày hôm đó, các lực lượng an ninh Miến đã xả súng vào đám đông những người biểu tình không có võ trang khiến cho gần cả trăm người chết, trong đó có cả trẻ con. Nhìn vào cuộc diễn binh, những bàn tiệc linh đình bên cạnh cảnh máu đổ thịt rơi của người dân vô tội, có người đã nhớ lại câu nói để đời của ông tổ chủ nghĩa Marxit: “Chỉ có thú vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại để chăm sóc cho bộ da của mình”.

Chẳng có ai muốn “xuống hàng súc vật” cả. Ai cũng muốn người khác tôn trọng nhân phẩm được xây dựng trên lý trí của mình. Người Việt Nam đau buồn vì một Tháng Tư Đen.  Người Mỹ gốc Phi Châu cũng có một Tháng Tư để tưởng niệm. Thật vậy, ngày mùng Bốn Tháng Tư năm 1968 là ngày một trong những nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng nhứt thế giới là cố mục sư Martin Luther King đã bị thảm sát. Ngày hôm đó, vị mục sư da đen này đã đến thành phố Memphis, Tiểu bang Tennessee để lãnh đạo một cuộc đình công và tuần hành do các nhân viên vệ sinh da đen trong thành phố tổ chức để yêu cầu được hưởng một đồng lương công bình và cải thiện những điều kiện làm việc. Ngày hôm đó, những người tham gia cuộc biểu tình đã đeo trước ngực một tấm bảng trên đó có viết hàng chữ: “Tôi là một con người” (I am a man). Khi những nhân viên vệ sinh da đen tại thành phố Memphis đeo tấm bảng “Tôi là một con người” trước ngực, họ không những muốn khẳng định sự bình đẳng như được ghi trong Hiến Pháp của Hoa Kỳ, mà dường như cũng còn muốn nhắc lại cả một lịch sử đau thương của một chủng tộc đã bị nô lệ hóa và đối xử chẳng khác nào thú vật chỉ vì màu da của họ.

“Tôi là một con người”. Đó là một khẩu hiệu đáng được đưa ra để nghiền ngẫm và nhứt là tự vấn lương tâm. Liệu tôi có thật sự là “một con người” không khi tôi chối bỏ, xúc phạm hay chà đạp phẩm giá của người đồng loại? Liệu tôi có thật sự là “một con người” không khi tôi từ bỏ cái phẩm giá cao quý của con người là lý trí để chối bỏ sự thật và hùa theo những lời dối trá độc ác? Liệu tôi có là “một con người” không khi không dám lên tiếng nói lên điều cần phải nói hay điều mà người ta tránh nhắc tên chỉ vì không muốn làm phật lòng một số người dù biết rằng đó vẫn là một ung thư trong giai đoạn di căn đáng sợ?  

Trong ngôn ngữ Việt Nam, từ “con người” hàm chứa một sự thật thâm sâu: sống là một cuộc chiến liên lỉ trong đó nếu những bản năng thấp hèn lấn lướt lý trí thì nhân cách sẽ bị thui chột. Nói cách khác, phần “người” chỉ thật sự được thăng hoa khi phần “con” được thu nhỏ lại.

  

Chú thích

1.      https://www.theatlantic.com/family/archive/2021/03/trump-friend-family-relationships/618457/

2.      https://www.news.com.au/world/north-america/us-politics/trump-lawyer-says-no-reasonable-person-would-believe-her/news-story/40b1c459713f4dd9743d00d02ac78778