Thứ Tư, 7 tháng 8, 2024

Đám đông hoang dã

 

        Đám Đông Hoang Dã

                                                                                                 Chu Văn

Tôi vốn là một tên chết nhát, “ăn cỗ thì thích đi trước, lội nước thì chọn đi sau”, còn gặp khó khăn và nguy hiểm thì lại theo chiến thuật “tẩu vi thượng sách” cho nên tôi phục sát đất những người dám tách ra khỏi đám đông để lội ngược dòng. Trong nước đã và hiện có nhiều người như thế. Người ta gọi họ là những nhà bất đồng chính kiến. Bất chấp tù đày và ngay cả cái chết, họ đứng lên để tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ và những quyền tự do căn bản của con người. Nhưng “Tù nhân Lương tâm”, có lẽ là danh xưng xứng đáng nhứt nên được trao tặng cho họ. Bởi lẽ họ là những người chọn lương tri, lẽ phải và những giá trị đạo đức làm kim chỉ nam cho cuộc sống. Và sở dĩ gọi họ là "tù nhân lương tâm" là vì dù đang sống trong hay ngoài nhà tù thì trước sau gì họ cũng bị...đi tù. 

Gần đây có một người mà tôi thực sự tâm phục khẩu phục là nhà báo Trương Huy San, người được biết đến nhiều hơn với bút hiệu Huy Đức hay Osin. Một số bạn bè và người quen của ông gọi ông là kẻ sĩ thời đại. Được biết năm 2012, ông được Đại học Harvard  bên Mỹ cấp học bổng để nghiên cứu về môn Chính trị và Công quyền. Chính trong thời gian sống tại Mỹ mà ông đã cho in và phát hành tác phẩm nổi tiếng “Bên Thắng Cuộc”. Đã từng là một bộ đội và phóng viên làm việc cho một số tờ báo quốc doanh, nhà báo Huy Đức đã có dịp tiếp cận với những sự kiện lịch sử kể từ sau năm 1975, nhứt là với các cấp lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Những thâm cung bí sử ấy được phơi bày một cách khách quan và trung thực trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc”. Nhiều người Việt ở hải ngoại, sau khi đọc xong tác phẩm, đã bày tỏ lo ngại về số phận của ông, nếu ông trở về nước. “Ngày ấy, Huy Đức cũng được bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gợi ý và các luật sư chuyên ngành Di trú, Ngoại giao và Chính trị mà chúng tôi quen biết lâu ngày nêu ý kiến “ở lại hay về”...Nhưng Huy Đức đã khẳng khái trả lời dứt khoát: “Dạ, xin cám ơn mọi người. Tôi về lại quê hương” (1). Quả như nhiều người dự đoán, nhà báo Huy Đức đã bị bắt ngày 7 tháng Sáu vừa qua, với tội danh rất quen thuộc ở Việt Nam: “lợi dụng tự do, dân chủ”. Là một nhà báo nổi tiếng lại có “quan hệ tốt đẹp” với nhiều cấp lãnh đạo, Huy Đức đã có nhiều cơ hội để leo lên các bậc thang của quyền lực, danh vọng và giàu sang như rất nhiều đảng viên cộng sản hiện nay, nhưng ông đã tách ra khỏi đám đông và chọn đi “con đường ít được đi hơn” để nói lên tiếng nói của sự thật, của lương tri và lẽ phải.

Có một người khác mà tôi cũng thực tâm ngưỡng mộ và đã mang lại cho tôi một niềm cảm hứng sâu xa là khất sĩ Thích Minh Tuệ. Ông không phải là một nhà bất đồng chính kiến. Ông cũng chưa từng thuyết pháp và cũng chẳng bao giờ chiêu mộ tín đồ. Ông chỉ là một khất sĩ muốn “tập học” sống theo Đức Phật bằng cách thực hành “Hạnh Đầu Đà”, nghĩa là ngày ngày đi bộ, sống bằng thức ăn, nước uống do bá tánh trao tặng và tối lại vào nghĩa trang hay bất cứ nơi vắng vẻ nào để qua đêm. Mặc dù lúc nào cũng tuyên bố là một phật tử theo cách thế riêng của mình, tôi không có đủ quyết tâm và nghị lực để thực hành “Hạnh Đầu Đà” như khất sĩ Thích Minh Tuệ và mặc dù ông chưa bao giờ tự xưng là “sư” hay “thày” và lúc nào cũng một mực “con con” với mọi người, tôi vẫn tôn ông lên bậc “thày” của tôi. Ông là “thày” của tôi, bởi vì như Đức Phật đã dạy, ông chính là “ngón tay” chỉ cho tôi “con đường ít được đi”, nhưng đó lại là con đường giúp tôi có thể tìm gặp lại bản thân, bởi vì như “Nhà Đạo” của tôi cũng đã dạy “chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”(2).

Trong một chế độ toàn trị nhìn đâu cũng thấy kẻ thù thì dĩ nhiên có muốn âm thầm bước đi từng bước nhỏ để quên mình cho đến cùng như “thày” Thích Minh Tuệ cũng đâu có được để yên. Sở dĩ chế độ này “ngứa mắt” và ngay cả lo sợ trước những bước chân trần đơn độc của “thày” là bởi vì, như một trong những tờ báo nổi tiếng ở Mỹ là tờ The Christian Science Monitor nhận định: “Mặc dù ông không rao giảng đạo đức, nhưng rất nhiều người coi ông là tấm gương sáng tuyệt vời, đặc biệt khi so sánh cuộc sống xa hoa của các quan chức. Người Việt đặc biệt lấy làm khó chịu trước hình ảnh thu được từ camera cảnh Bộ trưởng Công an (Tô Lâm) ăn món thịt bò dát vàng (giá gần 2000 Mỹ kim) tại một nhà hàng ở Luân Đôn cách đây ba năm” (3). Thì ra thế! Chính vì muốn kiểm soát toàn bộ tư tưởng của người dân và biến họ thành những con chó của Pavlov cho nên chế độ cộng sản rất sợ những ai dám bước ra khỏi đám đông để nếu không trực tiếp thì cũng gián tiếp lên án sự dối trá, độc ác và tham tàn của họ.

Những bước đi đơn độc và âm thầm của “thày” Thích Minh Tuệ không những là một bản cáo trạng dành cho chế độ độc tài cộng sản ở Việt Nam mà còn là một tấm gương phản chiếu hình ảnh của một đám đông bơ vơ lạc lõng, hoàn toàn mất phương hướng trong một chế độ từ hơn 70 năm qua đã đục khoét một lỗ hổng đạo đức không đáy trong xã hội. Chỉ cần đến những ngôi chùa lớn, với những tượng phật to của Giáo hội Phật Giáo quốc doanh do nhà nước kiểm soát và biến thành một công cụ để ru ngủ quần chúng, ai cũng có thể nhận diện được cái đám đông bơ vơ lạc lõng ấy. Bơ vơ lạc lõng khiến họ sẵn sàng dâng cúng tài sản, sụp lạy trước những lời xảo trá, ngây ngô đến độ ngu xuẩn của những cán bộ mặc áo cà sa.

Tôi đã từng sống trong chế độ cộng sản liền sau biến cố 1975. Dù chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng cũng đủ để hiểu được sự khủng bố của chế độ. Ít hay nhiều, ai cũng sợ! Và chính vì sợ hãi mà con người dễ biến thành một thứ cừu non dễ bị lèo lái, điều khiển và sai khiến. Tôi rất cảm thông trước cảnh người dân Bắc Hàn khóc thảm thiết trước sự ra đi của một lãnh tụ. Đó không chỉ là những giọt nước mắt cá sấu. Nói cho cùng, trong chế độ cộng sản, đám đông là nạn nhân đáng được cảm thông, thương hại hơn là lên án. Chính vì thế mà những ai dám bước ra khỏi đám đông để sống với con người thật của mình đáng được tôn vinh là kẻ sĩ hay bậc anh hùng.

Cảm thông và thương hại đối với cái đám đông bơ vơ lạc lõng trong cái lỗ hổng đạo đức do chế độ độc tài cộng sản đào khoét ở  Việt Nam, tôi lại không hiểu được tại sao trong một nước dân chủ và tự do như Hoa Kỳ lại cũng có một đám đông mà nhà báo Huy Đức đã gọi là “hoang dã”. Trong một bài viết trước khi bị bắt vài ngày, Huy Đức đã nhận định về việc cựu Tổng thống Donald Trump bị kết án về 34 tội danh ở New York: “Trump vừa vị bồi thẩm đoàn tuyên bố có tội với tất cả 34 tội danh. Như vậy là tên tội phạm này đã từng ngồi trên ghế tổng thống Mỹ một nhiệm kỳ và vẫn còn khả năng làm tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khi những kẻ thô bạo và vô liêm sỉ nhất, chỉ vì quyền lực cá nhân, cũng có thể biến một nền dân chủ như nước Mỹ trở thành đám đông hoang dã” (4).

Cũng may cho Huy Đức. Nếu còn ở Mỹ mà dám viết như thế về cựu Tổng thống Trump thì có lẽ không những bị nhiều người Việt ở Mỹ ký tên vào thỉnh nguyện thư để yêu cầu Chính phủ Mỹ trục xuất mà chắc chắn còn bị đe dọa giết chết là khác. Còn nhớ khi đại dịch Covid bùng nổ và ông Trump còn làm tổng thống, ông đã đưa ra những lời tuyên bố lố bịch và ngu xuẩn không thể tưởng tượng được về đại dịch. Có một người Việt bất đồng chính kiến vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ là Mẹ Nấm đã “chơi dại” khi đưa ra lời kêu gọi: “Dịch bệnh nên đọc cảnh báo của các chuyên gia y tế đừng nghe lời lãnh đạo nha quý vị”. Đúng quá đi chớ! Vậy mà đã có trên 17 ngàn người Việt ở Mỹ  ký tên vào một thỉnh nguyện thư kêu gọi Chính phủ Mỹ trục xuất Mẹ Nấm về lại Việt Nam, bởi vì cô đã dám “xúc phạm” đến “tổng thống của chúng tôi” (5).

Trong một nước Mỹ, nơi tự do ngôn luận và phát biểu được xem là một trong những quyền cơ bản của con người và nhứt là khi người phát biểu chỉ nói lên sự thật, tôi không hiểu được tại sao vẫn có rất nhiều người vì tôn thờ và muốn bảo vệ lãnh tụ đã có thể hùa nhau để ăn tươi nuốt sống người khác như thế...Áp dụng thuật ngữ “đám đông hoang dã” cho đám đông ấy có lẽ cũng không quá đáng!

17 ngàn người ký tên lên án Mẹ Nấm để bênh vực cho những lời tuyên bố ngu xuẩn của một lãnh tụ quả là một số đông trong cộng đồng người Việt ở Mỹ. Nhưng nếu so với cái “đám đông hoang dã” đã và đang ăn thua đủ để tôn thờ người được Chúa “tuyển chọn” Donald Trump thì con số đó chẳng là bao. Ngay từ năm 2016, ông Trump đã hiện nguyên hình là một con người ngu dốt về mặt trí tuệ, đồi bại về đạo đức, đốn mạt về nhân cách, bại hoại về tâm lý...vậy mà có đến 80 phần trăm tín đồ Tin lành tại Mỹ đã bầu ông làm tổng thống. Cũng một tỷ lệ không suy suyển ấy đã dồn phiếu cho ông vào năm 2020. Và hiện nay, có lẽ cũng một tỷ lệ ấy vẫn muốn ông trở lại Tòa Bạch Ốc một lần nữa. Cái đám đông hoang dã ấy lại càng bày tỏ sự tin tưởng mãnh liệt hơn sau ngày ông Trump bị ám sát hụt hôm 13 tháng Bảy vừa qua. Họ tin tưởng rằng phải có bàn tay “quan phòng” của Chúa gìn giữ và che chở cho nên ông Trump mới thoát chết trong đường tơ kẽ tóc như thế. Bà vợ của người bạn thân của tôi, vốn là một người công giáo, cũng cho biết bà đã được xem một tấm hình trong đó có bóng cánh của một thiên thần che phủ phía sau ông Trump, nhờ vậy mà viên đạn đã chỉ xéo qua vành tai của ông chớ không đi xuyên qua đầu ông!

Cũng như trong suốt tám năm qua, cái đám đông hoang dã ấy tin rằng những lời “tiên tri” trong quyển Kinh Thánh của Do Thái Giáo đều đã được ứng nghiệm với ông Trump: ông chính là người được Chúa chọn để giải thoát cái nước Mỹ hiện đang bị Ma Quỷ mà hiện thân là cái đám dân chủ “thổ tả” đã và đang cố tình nhận chìm trong bóng tối của vô số tội ác (6).

Hai chữ “hoang dã” mà nhà báo Huy Đức đã sử dụng để nói về một đám đông không nhỏ người Mỹ đã và đang tôn thờ một tên gian manh vô đạo như Donald Trump như một giáo chủ, dĩ nhiên gợi lên trong tôi trước tiên hình ảnh của dã thú sống trong môi trường tự nhiên. Thú vật, nói chung, dù sống trong rừng rú hay được thuần hóa, chỉ sống theo bản năng. Chỉ có “con người, như tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã nhận xét, với tính “Người”, mới có hai đặc trưng là lương tâm và trí tuệ (được tượng trưng bởi Trái tim và khối óc, tức Tâm và Trí”). Theo ông, như lịch sử đã chứng tỏ, về lý thuyết cũng như thực hành, Chủ nghĩa Cộng sản không có hai yếu tố Tâm và Trí ấy. Do đó, ông khẳng định: “nếu là người thì chớ là người cộng sản, vì đó là cấp bậc thấp hơn so với Con người đúng nghĩa”.

Những người như nhà báo Huy Đức hay khất sĩ Thích Minh Tuệ, đã thực sự thể hiện đến cùng những đòi hỏi của hai yếu tố Tâm và Trí ấy. Tôi khâm phục và ngưỡng mộ họ bởi vì họ là ngọn đuốc chỉ đường cho tôi thấy thế nào mới thực sự là sống cho ra Người.

 

 Chú thích:

1. Trần Kiêm Đoàn, Osin Huy Đức bị bắt. Một sự chọn lựa của kẻ sĩ thời đại, baocalitoday.com 7/06/2024

2. Lời kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô Assisi, lời Việt của Linh mục Kim long.

3. “A simple, selfless dissent for integrety”, The Christian Science Monitor, 24/7/2024, bản dịch của Trần Quốc Việt trên thongluan-rdp.org 3/8/2024.

4. Nguyễn Thị Sen, Nhà báo Huy Đức bị bắt, vietluan.com.au

5. Mẹ Nấm gây sóng gió trên mạng, báo Người Việt 5/4/2020.

6. Donald Trump assassination attempt triggers bizarre theory news.com.au  26/7/2024

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2024

“Về thu xếp lại”

 


 

Chu Văn

Tôi thích đọc những tản văn của một trong những tác giả nổi tiếng trong nước hiện nay là bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, kiến thức khoa học lại uyên bác, tác giả viết về sức khỏe, bệnh tật, tuổi già và ngay cả cái chết với giọng điệu lúc nào cũng lạc quan. Cách đây vài năm, khi bước vào tuổi bát tuần, ông đã thu thập lại những bài viết về cũng những chủ đề trên dưới tựa đề “Về thu xếp lại”.

Từ vài năm nay, nhứt là khi bước vào tuổi 75 mà bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho là tuổi đẹp nhứt của đời người, tôi cũng đã bắt đầu “về thu xếp lại”. Từ nơi ăn chốn ở, vườn tược cho đến quần áo...tôi đã từ từ thu dọn lại cho gọn gàng hơn. Nhưng mới đây ý tưởng “về thu xếp lại” trong tôi đã trở nên mãnh liệt và thúc bách hơn sau vài lần thăm viếng một người bạn thân vừa trải qua một cuộc giải phẫu để lấy ra một khối u trong đầu. Cuộc giải phẫu tương đối thành công.

Tôi mừng cho bạn tôi và gia đình bạn tôi. Nhưng tôi mừng cho tôi nhiều hơn. Tôi mừng vì vẫn còn một người bạn tri kỷ theo đúng nghĩa. Chúng tôi có thể chia sẻ cho nhau về đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất. Ở tuổi già, tôi ngộ ra rằng có được một người bạn tâm giao là điều quan trọng nhứt. Có lúc tôi nghĩ: có được một người bạn thân trong tuổi già là có tất cả!

Những lần thăm viếng người bạn già vừa trải qua cơn bạo bệnh đã khiến tôi “về thu xếp lại” chuyện “bạn bè”. Trước kia, tôi rất thích giao du với nhiều người và cũng có rất nhiều “bạn bè”. Gặp nhau trong các bữa tiệc để chén chú chén anh là chuyện thường tình. Nhưng phải nói thẳng rằng kể từ ngày “có Trump”, cánh cửa xã hội của tôi từ từ khép lại, “bè” từ từ biến mất. Giữa đám đông “bè” nhiều hơn “bạn”, tôi cảm thấy tu chính án thứ nhứt của người Mỹ hoàn toàn không có giá trị đối với tôi nữa. Trước kia, giữa đám đông, tôi thấy mình vui vẻ, hoạt náo tự do ngôn luận” bao nhiêu thì nay tôi lại càng thấy giá trị của châm ngôn “thinh lặng là vàng” tốt hơn bao giờ hết.  Một chút sa sẩy trong một phát biểu về “kẻ mà ai cũng biết là ai đó” cũng đủ để ăn miểng, nhứt là từ những người đồng đạo của tôi. Kể từ đó, sinh hoạt xã hội của tôi ngày càng thu hẹp lại. “Lời mẹ dặn” chọn bạn mà chơi được tôi triệt để áp dụng. Ở tuổi già, tôi thấy mình may mắn hơn nhiều người, vì tôi vẫn còn một vài người bạn tâm giao.

Song song với việc vun vén tình bạn, tôi cũng thấy mình đang “về thu xếp lại” về niềm tin tôn giáo của tôi.  Thật ra, “về thu xếp lại” về niềm tin tôn giáo không phải là chuyện ngẫu hứng tôi chỉ mới có sau những lần thăm viếng người bạn thân vừa trải qua cuộc giải phẫu, mà là chuyện trăn trở mỗi ngày của tôi. Nhưng có lẽ qua những lần thăm hỏi với hiền thê của bạn tôi mà tôi thấy ý nghĩ “về thu xếp lại” về niềm tin tôn giáo trở nên thúc bách hơn trong tôi. Thật vậy, trước và sau cuộc giải phẫu của bạn tôi, người vợ hiền của ông, vốn là một phụ nữ rất mực đạo đức, lúc nào cũng nói đến sức mạnh của niềm tin tôn giáo, đặc biệt là hiệu năng của lời cầu nguyện. Trước cuộc giải phẫu, gặp bất cứ ai bà cũng xin cầu nguyện và sau cuộc giải phẫu thành công, bà xem đó như một phép lạ và không hết lời tạ ơn Chúa.

Từ nhiều năm nay, với những ai xin tôi cầu nguyện hay nói đến “phép lạ” của lời cầu nguyện, tôi thường giữ thái độ thinh lặng. Không hiểu từ lúc nào, câu hỏi mà nhà văn Mỹ gốc Do Thái Elie Wiesel (1928-2016), khôi nguyên của giải Nobel Hòa Bình năm 1986, đã từng đặt ra cho mình lúc bị giam trong một trại tập trung Đức quốc xã: “Thượng Đế ở đâu?” cũng chính là câu hỏi mà tôi thường tự đặt ra cho mình khi đứng trước bao nhiêu thảm kịch, đau khổ, chết chóc mà những người vô tội trên khắp thế giới đã và đang trải qua từng ngày từng giờ. Elie Wiesel đã nêu lên câu hỏi ấy khi chứng kiến cảnh những người lính Đức trong một trại tập trung Đức quốc xã treo cổ một thiếu niên. Với câu hỏi “Thượng Đế ở đâu?”, cuộc hành trình niềm tin tôn giáo của tôi không còn là một chuỗi những lời van xin “phép lạ”, mà là một cuộc tra vấn Thượng Đế. Cuộc sống đức tin rốt cục với tôi là một cuộc đối thoại không ngừng với Thượng Đế về chính nỗi khổ đau và cái chết trong kiếp người.

Tôi sinh ra trong một gia đình công giáo thuần thành. Mới ba ngày tuổi, chưa mở mắt và còn đỏ hỏn, tôi đã được ẵm tới nhà thờ để được rửa tội và đặt cho một cái “tên thánh” lạ hoắc lạ huơ. Ba tuổi, vừa bập bẹ biết nói, tôi đã  được dạy để học thuộc lòng bài giáo lý vỡ  lòng: con ai? – thưa con Chúa; cháu ai? – thưa cháu ông Adong và bà Evà; dòng dõi ai? – thưa dòng dõi vua David...Thế giới thần tiên tuổi thơ của tôi là thế giới của các thiên thần, của những người hùng trong sử thi của người Do Thái và dĩ nhiên cũng của người Tây phương da trắng. Chúa Giêsu và Đức Mẹ chẳng phải là người da trắng đó sao? Qua các hình tượng của Chúa Giêsu, ánh mắt trẻ thơ của tôi nhìn người da trắng nào cũng đẹp đẽ cả. Cả thể xác lẫn tinh thần! Nhớ có lần một nữ tu thày dạy tiểu học của tôi đã thốt lên khi nhìn những người lính đánh thuê “Lê dương” (légionaire): “Sao họ giống Chúa Giêsu quá!”. Có lẽ bà quên rằng chính mấy ông giống Chúa Giêsu này từng rượt những phụ nữ trong làng tôi chạy bán sống bán chết.

Tôi đã không chọn niềm tin tôn giáo. Chính cha mẹ tôi đã trao niềm tin tôn giáo cho tôi như một sản nghiệp quí giá. Mà quí giá thiệt. Lúc nào tôi cũng biết ơn cha mẹ tôi vì đã trao cho tôi một sản nghiệp quí giá, bởi nhờ sản nghiệp đó tôi đã làm quen và hấp thụ được nền văn minh Tây Phương và cũng chính sản nghiệp ấy đã hun đúc trong tôi một lý tưởng phục vụ cao đẹp cũng như giúp tôi rèn luyện nhân cách. Nhưng cùng với sản nghiệp cao quí đó là cả một gánh nặng của vô số tội ác mà chính tôn giáo của tôi đã gây ra trong suốt dòng lịch sử của mình. Trong hàng bao thế kỷ, tôn giáo của tôi đã sử dụng bạo lực để tiêu diệt người Do Thái với lý do họ là người “kẻ giết Chúa” vì đã đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá. Thời Trung Cổ, với những cuộc thập tự viễn chinh nhằm chiếm lại điều được gọi là “thành thánh Giêrusalem”, tôn giáo của tôi cũng đã sử dụng bạo lực để sát hại người Hồi giáo. Song song với những cuộc thập tự viễn chinh, tôn giáo của tôi cũng đã sử dụng tối đa bạo lực để loại trừ và ngay cả xử tử một cách tàn bạo những người bị cho là lạc giáo. Rồi sang Thế kỷ 16, kể từ sau cuộc Cải Cách của Tin Lành, tôn giáo của tôi lại dính vào không biết bao nhiêu cuộc chiến tương tàn giữa những người tự xưng là tín hữu Kitô, tức bạn hữu của Đấng mà cốt lõi của những lời giáo huấn chỉ xoay quanh sự khoan nhượng, tình yêu thương, sự cảm thông và lòng tha thứ và đã chết trên thập giá để thể hiện chính lời rao giảng ấy.

Mà có riêng gì Kitô giáo của tôi đâu. Dường như tôn giáo nào, ít hay nhiều và mãi cho đến ngày nay, cũng đều sa vào con đường bất khoan nhượng và bạo lực. Tựu trung, khi cái cốt lõi của tôn giáo, như ông bà ta thường nói: “đạo nào cũng tốt vì đạo nào cũng dạy con người ăn ngay ở lành”, bị đẩy ra lề niềm tin tôn giáo thì đó chính là lúc tôn giáo chạy theo những phù phiếm, mê hoặc.

Xét cho cùng, bỏ qua một bên chủ trương bạo động, khủng bố, đấu tranh giai cấp và hận thù, Karl Marx cũng có lý phần nào khi ông lên án: “tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng”.

Có lẽ nắm vững chân lý “tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng” cho nên các đệ tử của Karl Marx ở Việt Nam ngày nay đã dùng thứ thuốc phiện đó để ru ngủ quần chúng. Sau khi thu tóm và biến Phật Giáo thành một thứ tôn giáo “nhà nước” hay được gọi một cách nôm na là “quốc doanh”, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thành công trong việc sử dụng tôn giáo này để mê hoặc một bộ phận không nhỏ quần chúng Việt Nam hiện nay. Tôn giáo đã trở thành một thứ tà giáo, nhưng lại có sức thu hút và mê hoặc một đám đông không nhỏ. Tiến sĩ Chu Mộng Long, một tác giả thường xuất hiện trên báo điện tử Tiếng Dân trong nước, đã nhận định về hiện tượng nầy trong một bài viết có tựa đề “Tà giáo lộng hành”: “Có thể phòng chống tham nhũng chưa đạt được như mong muốn, nhưng dẫu sao, vẫn đang được nhà nước giải quyết bằng những vụ khởi tố ra tòa. Trong khi tà giáo thì lại được tự do hoành hành. Nó tự do đến mức, chỉ cần một cá nhân cạo trọc đầu là có thể ngang nhiên tuyên truyền mê tín dị đoan, công khai những thủ đoạn lừa đảo mà hàng triệu người là nạn nhân. Việc các tăng lữ dùng ma đe dọa dân, gieo rắc sự sợ hãi trong dân để thu gom tiền vàng, nhà đất và hứa hẹn “kiếp sau” cho dân làm ma giàu sang, phú quý, là lừa đảo trắng trợn, không thể biện minh”(1).

Khi cái cốt lõi của tôn giáo bị gạt ra bên lề niềm tin tôn giáo thì tôn giáo trở thành tà giáo để mê hoặc quần chúng. Bị cực đoan hóa hay đánh mất tính khoan nhượng vốn là cốt lõi của tôn giáo, con người cũng trở nên mê muội. Trong những ngày này, thế giới đang chú ý theo dõi cuộc tổng tuyển cử tại Ấn Độ, quốc gia được xem là có nền dân chủ lớn nhứt thế giới. Đảng đang cầm quyền tại nước này có tên là Đảng Quốc gia Ấn giáo (Bharatiya Janata Party gọi tắt là BJP) muốn biến Ấn giáo thành quốc giáo. Mahatma Gandhi đã dựa vào cốt lõi của tôn giáo này là sự khoan nhượng để đề ra chủ trương tranh đấu bất bạo động và thành công trong việc chấm dứt chế độ thực dân của người Anh tại nước này. Nhưng ngày nay, tinh thần khoan nhượng ấy đã nhường chỗ cho bạo lực chống lại các tôn giáo thiểu số, đặc biệt là người Hồi giáo.

Tại một quốc gia văn minh và tiến bộ nhứt thế giới hiện nay là Hoa Kỳ tôi cũng đang nhìn thấy sự trỗi dậy của một trào lưu bất khoan nhượng tôn giáo như thế. Cựu tổng thống Donald Trump là một hiện tượng chưa từng thấy trong lịch sử của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Về trí tuệ thì ngu dốt, về luân lý và đạo đức thì đồi bại, về tư cách thì đốn mạt, về tâm lý  thì bất ổn...Chỉ cần nghe những gì ông nói, cụ thể qua những lời cầu chúc sặc mùi hận thù vào những dịp lễ lớn của Kitô giáo cũng đủ để thấy tư cách của ông. Vậy mà năm 2016, người Mỹ đã bầu ông vào vị thế lãnh đạo quốc gia có nền dân chủ lâu đời nhứt thế giới cũng như lãnh đạo thế giới tự do. Chính lá phiếu của đa số tín hữu Tin Lành da trắng là yếu tố then chốt đã đưa ông lên cầm quyền. Ngày nay, mặc dù biết rõ, như trường hợp cựu Bộ trưởng Tư pháp Bill Barr, Donald Trump không có đủ tư cách để làm tổng thống, nhóm tín đồ Tin Lành da trắng này vẫn không tỏ ra suy suyển trong sự ủng hộ dành cho ông. Một thái độ như thế, nếu không gọi là mê muội, thì phải dùng tĩnh từ nào cho xác đáng hơn?

Mỗi khi suy nghĩ về những chế độ chuyên chế hay độc tài hiện hành hoặc có khuynh hướng trở thành độc tài, tôi vẫn cứ phải nhớ mãi lời của cụ Tản Đà: “Cũng bởi  thằng dân ngu quá lợn cho nên quân nó dễ làm quan”. Không biết có liên tưởng đến lời cụ Tản Đà không, một người bạn thời tỵ nạn của tôi và nay đang là một luật sư, vốn là một người ủng hộ ông Trump hết mình, đã nói như tát vào mặt tôi: “Bộ ông tưởng người Mỹ chúng tôi ngu cả sao?”

Gần đây, ở Úc Đại Lợi này, khi bàn về tình hình chính trị ở Mỹ, một người bạn trẻ, cũng đã nêu lên thắc mắc: “Có rất nhiều người Mỹ đang ủng hộ ông Trump, chẳng lẽ họ ngu cả sao!”.

Mỗi lần có ai đó biện luận như thế, tôi thường nghĩ đến hiện tượng Đức Quốc Xã của Adolf Hitler. Người dân Đức có ngu và mê muội không khi họ đưa Hitler lên cầm quyền để cai trị với bàn tay sắt và sát hại 6 triệu người Do Thái cũng như gây ra đau thương tang tóc cho cả thế giới?

Ngày 30 tháng Tư hằng năm, tôi cũng có một suy nghĩ tương tự. Đất nước có lâm  vào cuộc chiến huynh đệ  tương tàn và ngày nay đang bị cai trị bởi một lũ tham tàn độc ác, cũng bởi một nửa nước, trong đó cả một lớp trí thức khoa bảng, đã mê muội chạy theo những lời dụ dỗ của một tên điếm đàng. Một mình Hitler, một mình Hồ Chí Minh hay một mình bất cứ một nhà độc tài nào trên thế giới này...cũng không có đủ ba đầu sáu tay để gây ra tội ác, nếu không có một đám đông ngu muội tiếp tay.

Trong tiến trình “về thu xếp lại” về niềm tin tôn giáo của tôi, tôi luôn cố gắng gạt bỏ hết lớp phấn phù phiếm dễ làm cho lòng người ra cực đoan và mê muội để chỉ chú tâm sống theo cái cốt lõi của tôn giáo là tình yêu thương, sự khoan nhượng, tính cảm thông và sự tha thứ. Tựu trung cái cốt lõi ấy được gói ghém trong hai chữ “Tử tế”. Tôi nghĩ có lẽ đã cắt xén và chắt lọc giáo huấn của Phật Giáo cho đến cùng cho nên trong một cuộc phỏng vấn dành cho một nhà thần học người Ba Tây cách đây khá lâu, khi được hỏi: “Theo ngài, tôn giáo nào là tôn giáo tốt nhứt?”, nhà lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng đã trả lời: “Tôn giáo nào giúp bạn trở thành tử tế đó là tôn giáo tốt nhứt”. Nữ minh tinh Kiều Chinh có ghi lại trong cuốn Hồi ký của bà rằng trong lần gặp gỡ đầu tiên với Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Ấn Độ dạo tháng Tư năm 2014, nhà lãnh đạo tôn giáo đã nói với bà: “I am just a simple monk. My religion is very simple, it is kindness” (tôi chỉ là một tu sĩ. Tôn giáo của tôi rất đơn giản, đó là sự tử tế)(2). Lời dạy thật đơn sơ, nhưng hẳn phải chất chứa một lẽ khôn ngoan thâm sâu. Khi con người cố gắng sống tử tế với mọi người, họ mới thật sự “sống đạo” và thoát ra khỏi sự ngu muội và u mê của mình.

 

 

 

 

Chú thích:

1. Chu Mộng Long, Tà giáo lộng hành, Thoibao.de, 26/04/2024

2. Kiều Chinh, Nghệ sĩ lưu vong, Hồi ký, Văn học Press 2021, trg 406

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2023

Quýt ngọt trồng ở Hoài Bắc!

 



Chu Văn

                                                                                 

Tôi mê câu cá cho nên cũng mê biển. Mê đến độ, như một lời trối trăn, tôi thường mượn mấy câu thơ của Du Tử Lê để nài nỉ nhà tôi:

“Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

Đời lưu vong không cả một ngôi mồ

Vùi đất lạ thịt xương e khó rã

Hồn không đi sao trở lại quê nhà”.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, bậc chân tu tài trí và đức độ vừa mới viên tịch, cũng đã gợi lên cho tôi một niềm cảm hứng sâu xa khi ông để lại chúc thư với ý nguyện được “rải tro cốt ra Thái Bình Dương để được tan theo biển, bốc thành mây trời, lang thang khắp cõi hư không”(1).

Tôi thấy hình như nhiều người dân Úc cũng mong muốn được đưa ra biển như tôi. Ở những ghềnh đá quen thuộc nơi tôi thường quăng câu, tôi đọc được những tấm biển tưởng nhớ người thân với dòng chữ ngắn gọn: “đã đi câu! (gone fishing).  Chết chẳng phải là trở về với biển ư? Không biết thực sự có một ngôi vườn “địa đàng” nào mà vì bất tuân, ông bà Adam và Eva đã bị Thượng Đế tống cổ ra khỏi không. Nhưng cứ như khoa học ngày nay đã mở mắt cho tôi được nhìn thấy, thủy tổ của muôn loài trong đó có loài người đã chẳng từ biển mà ngoi lên sao. Không biết có phải vì vậy mà trong tiềm thức thẳm sâu trong da thịt tôi, lúc nào tôi cũng mơ được quay về với biển?

Tôi mê biển bởi vì biển đã đưa tôi đến bến bờ tự do. Tôi mê biển vì có lẽ chỉ có nhờ biển, hồn tôi mới có thể “trở lại quê nhà”. Tôi mê biển vì mỗi lần gặp căng thẳng trong cuộc sống, tôi luôn được biển vỗ về, ủi an. Tôi mê biển vì lúc nào biển cũng thì thầm mời gọi tôi buông bỏ. Tôi mê biển vì biển luôn mang lại cho tôi sự thanh thản và nhứt là muốn dạy tôi biết cảm thông.

Tôi đã có được những cảm nghiệm như thế khi lần đầu tiên trở về thăm thành phố biển Nha Trang sau hơn 40 năm xa cách. Những ngày nằm ngửa phơi mình trên biển, nhìn sang bên cạnh thấy toàn người Nga, có lúc tôi chỉ thấy hình ảnh của người Nga ở công viên Lênin Hà Nội hiện ra với vô số những lá cờ búa liềm chập chờn trong mắt. Nhưng biển đã bảo tôi rằng những thanh niên thiếu nữ, những cặp vợ chồng trẻ và những đứa trẻ người Nga đó chẳng có ăn nhập gì với người Nga ấy và nhứt là với tên sát máu mặc áo dân chủ tên là Vladimir Putin. Cũng như tôi cách nay hơn 40 năm, họ đã bỏ phiếu bằng chân; họ đã trốn chạy cái chế độ vô đạo và bạo tàn ấy...Biển đã dạy tôi biết thế nào là cảm thông!

Không biết những người Nga mà tôi đã gặp ở bãi biển Nha Trang cách đây gần một năm có còn ở đó không, bởi vì thành phố biển này hiện đang tràn ngập người Trung Quốc. Lẽ ra du khách đông, kinh tế khởi sắc, người ta nên mừng mới phải. Nhưng trong một bài phóng sự với tựa đề “Nha Trang, “Phố Tàu” giữa Việt Nam”, tác giả ký tên Người Sài Gòn” đã nói đến cái cảnh chán chê của người dân Nha Trang trước làn sóng du khách người Trung Quốc xâm chiếm thành phố của mình. Ở “những trục đường chính, nhiều khi người Việt phải né đường cho từng tốp người Trung Quốc ầm ầm đi qua”. Còn ở quán cà phê thì “không khí kinh hoàng hơn, vì họ đã chiếm lĩnh hết cái khoảng không gian an bình mà người Nha Trang đang thụ hưởng, nhiều người đã phải chạy làng vì không thể chịu nổi cái âm thanh “xí lô xí la” xa lạ đó.

Nhưng theo tác giả, tại các quán ăn thì khủng khiếp hơn: người Trung Quốc “tranh giành nhau từng xuất ăn”. Một bà chủ quán cơm mô tả: “Họ như một bầy thú đói!” Bà ngao ngán than thở: “Họ làm tui mất hết khách Việt thân quen, vì đụng tới người Tàu là bà con chạy mất dép, nhưng biết làm sao?” Trong các khách sạn có dọn buffet ăn sáng thì cảnh tượng càng náo loạn hơn. “Họ rào rào như tằm ăn dâu, nhanh như ảo thuật; phần ăn, phần thì giấu đem theo trong túi xách, túi quần, thậm chí đút vào trong ngực”. Riêng bên trong khách sạn, mỗi khi khách Trung Quốc thuê thì khách sạn gần như “tan nát”, vì không căn phòng nào còn nguyên vẹn sau một đêm bị họ quậy nát, hôi hám không thể chịu nổi. Một nhân viên phục vụ mếu máo: “Mỗi lần dọn phòng cho họ là em rụng rời, tởm đến ngày hôm sau còn sợ. Họ không cho một xu, mà còn hành hạ đủ kiểu, phòng nào có khách đàn ông là em chỉ dám đứng bên ngoài ra dấu - không dám vào trong vì không biết sẽ xảy ra chuyện gì, sợ lắm” (2).

“Họ như by thú đói”. Nhận xét như thế của một bà chủ quán cơm ở Nha Trang về những du khách Trung Quốc quả là tàn nhẫn. Nhưng nó lại gợi cho tôi những lời thì thầm đầy oán trách và mỉa mai của người Miền Nam về người cộng sản: “sâu bọ lên làm người, người xuống hàng chó ngựa”. Sự đảo lộn trong trật tự xã hội như thế là điều đã và đang thật sự xảy ra trong các chế độ cộng sản như đã được mô tả trong “Trại súc vật” (Animal Farm) của nhà văn Anh George Orwell ngay từ đầu thập niên 1940.

Nhiều người Việt, nhứt là những người bài Trung hay muốn thoát Trung bằng mọi giá, có lẽ rất thích thú khi đọc “Người Trung Quốc xấu xí” của tác giả Bá Dương. Nhưng trông người lại nghĩ đến ta. Liệu người Việt Nam đang sống dưới chế độ cộng sản có ít “xấu xí” hơn không? Có lẽ kể từ thời cộng sản “cướp” chính quyền ở Miền Bắc và từ năm 1975 áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên toàn cõi Việt Nam, chưa bao giờ đạo đức xuống cấp, con người Việt Nam bại hoại như ngày nay. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, người đã sống ở Miền Bắc cho đến năm 1975, đã so sánh sự khác biệt giữa chế độ cộng sản Miền Bắc và chế độ tự do Miền Nam như sau: “Bản chất của chế độ ngụy là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Cứ mở miệng ra là cảm ơn với xin lỗi. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời không xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân Bắc Kỳ” (3).

Ông Hoài Thanh chỉ nói đến sự “xấu xí” của người Việt Nam dưới chế độ cộng sản ở Miền Bắc. Ngày nay, không cần phải là người biết tinh tường quan sát, một người Nhật chỉ cần đến Việt Nam vài ngày cũng nhận ra một điều đáng buồn về người Việt, bất luận là dân Bắc hay dân Nam: “Người Việt không biết xếp hàng. Người Việt chửi hay còn hơn hát. Người Việt cúi rạp mình trước quyền lực bất công mà chẳng dám lên tiếng. Người Việt nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mung, lọc lừa...”(4).

Ký giả Ngô Nhân Dụng đã nêu lên câu hỏi: “Tại sao đạo lý suy sụp?”  Kể lại kinh nghiệm đói năm 1945, tác giả không cho rằng những “thói ích kỷ, ăn cắp, tham nhũng, chiếm đoạt bây giờ là do kinh nghiệm đói tạo ra. Những kẻ biết và dám “mánh mung, lừa lọc, tham nhũng “chắc chưa bao giờ nhịn đói một bữa. Năm 1945, hai triệu người chết đói, nhưng người Việt vẫn giữ được đạo lý”.

Theo ký giả Ngô Nhân Dụng, độc tài tự nó không khiến cho người dân bỏ mất đạo lý. Ông nêu lên hai trường hợp cụ thể là Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Người dân ở hai nước này đã phải sống dưới chế độ độc tài quân phiệt nhiều năm, nhưng họ vẫn sống lương thiện, thật thà, tin tưởng lẫn nhau, tôn trọng công ích. Tác giả cho rằng chế độ độc tài nào cũng cai trị bằng bạo lực và gian dối. Nhưng theo ông, các tướng lãnh ở hai nước này có lẽ không tàn ác và gian trá bằng chế độ cộng sản. Sự khác biệt giữa chế độ quân phiệt và chế độ cộng sản là “giới quân phiệt chỉ dùng bạo lực và gian dối như các “phương tiện” bất đắc dĩ, trong khi đó với cộng sản thì “độc ác” và “gian trá” nằm trong bản chất của họ.Chính sự độc ác và gian trá từ trong bản chất của người cộng sản  là mảnh đất mầu mỡ cho cái xấu và cái ác phát sinh, nẩy nở và tồn tại trong xã hội.

Người Trung Quốc hay người Hoa nói chung và người Việt Nam có lẽ ai cũng thuộc nằm lòng giai thoại về cây quýt ngọt trồng ở Hoài Bắc của Án Tử, một vị tướng nước Tề  thời Chiến Quốc. Ngày nọ Án Tử sang thăm nước Sở. Vua nước Sở đãi tiệc trọng thể. Nhưng để làm nhục ông, vào giữa bữa tiệc, vua Sở cho lính điệu một người bị cáo vào và cho biết đây là một người nước Tề phạm tôi ăn trộm. Vua Sở mỉm cười chế nhạo: “Người quý quốc hay trộm cắp nhỉ!” Án Tử bình tĩnh trả lời: “Chúng tôi thiết nghĩ cây quýt mọc ở đất Hoài Nam có quả rất ngọt, nhưng đem sang trồng ở đất Hoài Bắc thì quả lại chua. Đó là do thủy thổ khác nhau mà sinh ra thế. Người ở nước Tề chúng tôi không quen trộm cắp, nhưng sang nước Sở lại sinh ra ăn trộm là vì thủy thổ giữa bản quốc và quý quốc khác nhau chăng?”

“Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Tự bản chất, chẳng có người Trung Quốc hay người Việt nào là xấu xí cả. Nhưng chính cái chế độ tự bản chất là gian trá và tàn bạo đã khiến cho người dân bị tha hóa và trở nên đồi bại. Ở bãi biển Nha Trang tôi đã nhìn người Nga với một sự cảm thông cao độ. Ở đó, tôi cũng sẽ nhìn người Trung Quốc như những nạn nhân đáng thương hại và đáng cảm thông hơn là những con người “xấu xí” đáng phỉ nhổ hay nguyền rủa. Sự cảm thông luôn nhắn nhủ tôi nhìn lại chính bản thân mình. Nếu còn lại trong nước có lẽ tôi cũng bị cuốn trôi và nhận chìm trong dòng nước bẩn thỉu của dối trá, độc ác hay theo nhận xét của du khách người Nhật, tôi cũng “nhìn đâu cũng thấy cơ hội để mánh mung, lọc lừa”.

Tôi đã “vượt biển” để đi tìm tự do. Những đất nước tự do nơi tôi đã và đang sống không chỉ mang lại cho tôi cuộc sống ấm no, mà còn và nhứt là nâng cao và củng cố ý thức về đạo đức trong tôi.  Với tôi, đạo đức đơn giản là biết nghĩ đến người khác. Thời nào và ở đâu, đạo đức cũng được tóm gọn trong khuôn vàng thước ngọc: “Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi thì cũng đừng làm cho họ”. Mỗi ngày, những công thức đơn giản của phép lịch sự như xin vui lòng, xin lỗi và cám ơn mà tôi thốt lên như một bản năng thứ hai luôn nhắc nhở tôi về khuôn vàng thước ngọc ấy.

Trong những ngày này, hình ảnh của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ lúc nào cũng rực sáng trong tôi. Giờ này có lẽ vị chân tu này đã từ biển “bốc hơi thành mây trời”, thảnh thơi “lang lang trong cõi hư vô”. Và dĩ nhiên tôi hiện cũng đang bị ám ảnh bởi hình bóng của một nhân vật lịch sử khác là chính trị gia Mỹ Henry Kissinger, người  vừa mới ra đi. Ra đi để đi đâu, tôi không biết. Chỉ có điều, đã là người và nếu  là người có lương tâm thì những năm tháng cuối đời của một người có tuổi thọ đáng kể như ông có lẽ không để cho ông được “yên nghỉ” trước vô vàn những tiếng tru tréo, than khóc, nguyền rủa của vô số nạn nhân trên khắp thế giới mà điều được gọi là “chính sách thực dụng” (realpolitik) của ông, một chính sách không màng đến những giá trị đạo đức và mạng sống của người khác mà chỉ biết đến quyền lợi của Hoa Kỳ và nhứt là tham vọng cá nhân của ông...đã cướp đi mạng sống (của họ).

Từ biển khơi, tôi thường nghe vọng lại tiếng than khóc của không biết bao nhiêu người Việt đã bỏ mình vì hai chữ tự do. Lẫn trong tiếng than khóc ấy, tôi cũng nghe được lời nhắn nhủ từ biển: hãy sống cho ra người tử tế, lấy nhân nghĩa để đối xử với nhau!

 

  

Chú thích

1. Hầu hết các báo ở Việt Nam “né” tin Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, Người Việt 25/11/2023

2. Nha trang, “Phố Tàu” giữa Việt Nam, Nguyễn Sài Gòn/ Người Việt

3. Sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc là lòng tử tế, Nguyễn Văn Lục, Đàn Chim Việt Info

4. Tại sao đạolý suy sụp? Blog Ngô Nhân Dụng, Đài VOA

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2023

Đứng giữa đại lộ số 5...

 



Chu Văn

Sống xa cộng đồng người Việt tỵ nạn cho nên thỉnh thoảng tôi phải tìm đến những khu ngoại ô của thành phố Sydney, nơi có đông người Việt sinh sống để mua sắm, giao dịch và thăm viếng người thân và bạn bè.

Với tôi, đến những khu có đông người Việt tỵ nạn sinh sống cũng giống như trở về quê hương. Thưởng thức một tô phở, ăn một ổ bánh mì thịt, uống một ly nước mía, nhâm nhi một ly cà phê sữa đá...hay ngay cả nghe được tiếng Việt của một thời cũng thấy “đã” lắm!

Nhưng trong những năm gần đây, tôi nhận thấy bộ mặt của những khu phố có đông người Việt tỵ nạn ở Úc sinh sống đã có phần thay đổi. Đi bát phố, tôi nghe có những giọng nói lạ hoắc. Nhiều người nói đó là giọng của người “nước Bắc”. Bước vào một số cửa tiệm như thực phẩm Á Châu, hải sản, tiệm ăn và ngay cả dược phẩm...cũng nhận ra ngay chủ nhân đều là người “nước Bắc”. Hư thực thế nào không biết, nhưng có người bảo đó là những thứ kinh doanh “rửa tiền”.

Tôi vẫn còn nhớ như in: năm 54, trong làn sóng người Bắc di cư vào Nam, có nguyên một làng đã “quá cảnh” ở làng tôi . Họ đã lưu lại trong làng tôi đến cả nửa năm và sau đó phân tán vào những khu định cư trên khắp miền Nam. Duy chỉ có một gia đình, không rõ vì lý do nào đó, đã chọn làng tôi làm quê hương mới và định cư cho tới ngày nay. Cả làng chúng tôi gọi tổ phụ của gia đình này là “ông Bắc Kỳ”. Chúng tôi chưa bao giờ có bất kỳ  ý nghĩ kỳ thị hay miệt thị nào đối với gia đình “ông Bắc Kỳ” di cư này.

Tôi chỉ thực sự nghe nói và biết có người “nước Bắc” kể từ sau năm 1975. Lần về thăm quê hương mới đây, tôi đã đi rảo qua một vòng từ làng trên xuống xóm dưới trong làng tôi. Có cả chục ngôi nhà cổ kính do ông bà tổ tiên để lại nay thuộc quyền sở hữu của những người “nước Bắc”. Chủ nhân cũ của những ngôi nhà này là những cựu sĩ quan, nhân viên chính phủ trong đó có một ông đại tá và một ông dân biểu; tất cả  đều bị bắt đi “học tập cải tạo”. Một số chết rũ tù. Con cái họ hoặc bị đày lên kinh tế mới hoặc bỏ làng ra đi.

Chuyện làng tôi có lẽ chỉ là một nét chấm nhỏ trong bức tranh toàn cảnh của miền Nam sau năm 1975. Trong chuyến về thăm quê hương, tôi có ghé Đà Lạt là nơi tôi đã sống cả chục năm. Tôi có cảm giác như người mất phương hướng. Chỉ sau Tết vài ngày mà Đà Lạt nóng rực như miền duyên hải. Không rõ người “nước Bắc” ở đâu mà tuôn vào thành phố nghỉ mát này đông đến nỗi buồng phổi của thành phố là những rừng thông bạt ngàn bị chặt phá vô tội vạ và nhà cửa mọc lên như nấm. Hai tiếng “Đà Lạt” giờ đây đối với tôi chỉ còn là một kỷ niệm đẹp chỉ có trong mơ.

Phải nhìn nhận rằng ngày nay người “nước Bắc” đã có mặt khắp nơi chứ không riêng gì miền Nam hay những nơi có đông người Việt tỵ nạn định cư. Ngay cả vùng tôi ở là nơi mà số người Việt chỉ đếm trên đầu ngón tay, tôi cũng “phát hiện” được một số phụ nữ mà tôi thường gọi là những “cô Bắc Kỳ”. Tôi gọi bằng “cô” vì họ đáng tuổi con cháu của tôi. Họ định cư trong vùng tôi qua ngả hôn nhân, nghĩa là lập gia đình với người Úc. Phần lớn đều có cuộc sống ổn định. Trong số những “cô Bắc Kỳ” này, có một cô rất thân quen với gia đình tôi. Cứ nghe giọng “Hà Nội 75” của cô, tôi không thể không liên tưởng đến nữ ca sĩ Ái Vân. Còn nhìn mái tóc ngắn của cô thì tôi lại hình dung ra “cô Bắc kỳ nho nhỏ, hớt demi garcon” của cố nhạc sĩ Phạm Duy. Không biết có phải để lấy lòng những người tỵ nạn cộng sản như gia đình tôi không, cứ mỗi lần đề cập đến chuyện trong nước, cô đều hằn học thốt lên: “Bọn cộng sản chúng nó!” Thì ra theo cô cho biết: ông bà cô, người Thanh Hóa, đã từng là nạn nhân của những vụ đấu tố trong thời cải cách ruộng đất. Nhưng không rõ làm cách nào mà cha cô đã ngoi lên và len lỏi vào được Hội nhà văn ở Hà Nội. Có lẽ nhờ vậy mà cô được gởi đi du học ở Mỹ. Về nước cô được tuyển vào làm việc trong tòa đại sứ Úc ở Hà Nội. Tại đây cô đã quen biết và lập gia đình với một chuyên gia về xây dựng của Úc. Sau một thời gian làm việc và sống tại rất nhiều nước trên thế giới, họ đã trở về Úc và sống trong một khu thượng lưu trong vùng tôi ở. Quen biết và thân nhau, nhưng lúc nào tôi cũng “giữ kẽ” với cô. Dạo tháng Tư vừa qua, biết những người vượt biên như gia đình tôi buồn vì nỗi buồn mất nước, cô an ủi: “Cũng “nhờ” bọn cộng sản chúng nó mà mình mới có ngày nay”.

“Cũng “nhờ” bọn cộng sản chúng nó”, tôi cũng thường có cái nhìn lạc quan ấy mỗi khi nhìn vào cộng đồng người Việt rải rác trên khắp thế giới cũng như chính bản thân mình. Dĩ nhiên, cũng như cô bạn “Bắc kỳ nho nhỏ” của tôi, tôi không bao giờ cảm nhận được bất cứ thứ “ơn bác và đảng” nào trong cuộc sống của mình. Nếu phải nói “nhờ bọn cộng sản chúng nó” thì quả thật phải sống với người cộng sản, phải  trải qua những năm sống dưới chế độ cộng sản, tôi mới thực sự hiểu được thế nào là cộng sản. Tôi vẫn xem trải nghiệm đó là một trong những vốn quý trong cuộc sống.

Gần đây, kể từ khi tuyên bố ra tranh cử tổng thống vào năm 2024 tới đây, cựu Tổng thống Donald  Trump đã tung ra một lá bài xem ra rất hấp dẫn và có lẽ đã thu hút được không ít người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Lá bài đó là “chửi” cộng sản. Dịp lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, vốn là những ngày  lễ kêu gọi xây dựng hòa bình của Kitô giáo cũng như Ngày Lễ Mẹ dạo tháng Năm vừa qua, ông đã chúc mừng tất cả mọi người, kể cả bọn “cộng sản và Marxit ” mà ông không tiếc lời để mạt sát. Trong rất nhiều dịp, ông xem việc đánh bại chủ nghĩa cộng sản tại Mỹ là cuộc chiến cuối cùng của ông.  Nhiều chính khách cộng hòa đồng minh của ông cũng lập lại một điệp khúc do ông khởi xướng.

Tôi không biết ông Trump có thật tình “chống cộng” không. “Chống cộng” kiểu gì mà vừa mới nhậm chức tổng thống, ông đã mời đồ tể cộng sản đáng sợ nhứt hiện nay là Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc sang biệt thự Mar a Lago của ông để chúc mừng và cho cháu ngoại hát bằng tiếng Hoa để vinh danh nhà độc tài. Chống cộng kiểu gì mà hễ có dịp là lên tiếng ca ngợi lãnh tụ cộng sản này và bày tỏ mong ước được làm tổng thống mãn đời như đồ tể này. Còn với lãnh tụ cộng sản khát máu của Bắc Triều Tiên là Kim Jong-un thì khỏi nói: sau một vài lần gặp gỡ với lãnh tụ cộng sản này, ông vô cùng cảm kích khi nhận được những lá thư mà ông gọi là “thư tình” do người “tình” Kim Jong-un gởi cho ông. Riêng với chế độ cộng sản Việt Nam thì bức hình chụp ông cầm cờ đỏ sao vàng giương lên cao với vẻ mặt rất đắc thắng khi được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp ở Hà Nội, cũng đủ để tôi thấy ông “chống cuội” hơn là chống cộng. Một người tỵ nạn cộng sản như tôi cứ mỗi lần nhớ lại hình ảnh đó đều cảm thấy như ai đó đang đâm vào chính trái tim của mình. Bởi lẽ lá cờ đó đối với tôi là biểu tượng của vô số tội ác mà những người cộng sản Việt Nam đã và đang gây ra cho dân tộc tôi từ gần cả thế kỷ nay.

Tôi đã từng sống dưới chế độ cộng sản. Tôi dám tự hào rằng mình hiểu cộng sản hơn ông Trump. Từ khi “cướp” được chính quyền cho đến nay, những người cộng sản biết rõ hơn ai hết rằng thiên đàng trần gian trong đó không còn cảnh người bóc lột người, trong đó mọi người đều bình đẳng như nhau, hạnh phúc và sung sướng vô tận như nhau...chỉ là một cái bánh vẽ. Họ dùng đủ mọi thứ khí giới để bắt người dân phải hả miệng ra để nhai cái bánh vẽ ấy. Phải đợi cho đến năm 1991, một bồi bút là thi sĩ Chế Lan Viên mới dám mô tả cái cảnh ăn bánh vẽ  ấy: “Chưa cần cầm lên nếm anh đã biết là bánh vẽ. Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn cầm lên nhấm nháp. Chả là nếu anh từ chối, chúng sẽ bảo anh phá rối đêm vui, bảo anh không có khả năng nhai và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc...Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?”

Cái bánh vẽ ấy, mặc dù chẳng còn người dân nào trong cộng hòa “xạo hết chỗ nói” này phải há miệng ra để nhai nữa và cũng chẳng còn bất cứ một đảng viên nào tin nữa, nhưng vẫn  cứ được tô vẽ và trưng bày trên khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Năm vừa qua, phải uống một thứ “bùa mê ngải lú” cực mạnh Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mới có đủ trơ tráo và vô liêm sỉ để cho in cuốn sách “một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(1). Ngay cả ngày nay mà phát không để dân chúng sử dụng vào việc gói hàng...có lẽ cũng chẳng còn ma nào muốn đụng tới.

Dối trá vẫn tiếp tục là linh hồn của chủ nghĩa cộng sản. Đồng hành với dối trá là độc ác, tham lam, vô cảm và vô liêm sỉ. Tôi chỉ sống dưới chế độ cộng sản hơn 5 năm. Tôi đã hiểu được thế nào là cộng sản. Nhưng sự hiểu biết của tôi có lẽ chỉ bằng một góc của tiến sĩ Hà Sĩ Phu, người đã suốt một đời cố gắng sống cho ra “người” dưới chế độ cộng sản. Tôi rất tâm đắc với những suy nghĩ của ông về người cộng sản: “Nhiều người còn đinh ninh chân lý “Nếu là hoa hãy là hoa hướng dương; nếu là chim hãy là chim câu trắng; nếu là đá hãy là đá kim (hoa) cương; NẾU LÀ NGƯỜI HÃY LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN!”.

Nhưng tích lũy từ thực tiễn và nhận thức, xin thực tình muốn có lời bàn ngược lại: NẾU LÀ NGƯỜI XIN CHỚ LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN!

Tại sao vậy?

Xin nói rõ thêm một chút về Luật “HAI KHỬ MỘT” mà tôi đã viết trước đây . Tại sao lại có sự ràng buộc giữa 3 yếu tố Lương tâm-Trí tuệ và Cộng sản?

-        Đã thông thái và Cộng sản thì không lương thiện (phải mưu mẹo gian hùng)

-        Đã lương thiện và Cộng sản thì không thông thái (phải nhẹ dạ nông cạn)

-        Đã lương thiện và đủ thông thái thì không Cộng sản (trót theo, cũng tỉnh ngộ)

Con người, với tính “Người”, có 2 đặc trưng là Lương tâm và Trí tuệ (tượng trưng bởi Trái tim và Khối óc, tức TÂM và TRÍ). Nhưng Chủ thuyết CS chống lại cả hai giá trị đó:

– Về lý thuyết thì ảo tưởng phi khoa học nên mâu thuẫn với TRÍ.

– Về hành động thì chủ trương “đấu tranh giai cấp một mất một còn” làm chết 100 triệu người nên mâu thuẫn với chữ TÂM.

(Mục tiêu nêu lên thì cao đẹp, nhưng biện pháp thi hành đều chống lại mục tiêu). Sai lầm của TRÍ làm cho TÂM cũng dần xấu đi.

Trở thành người Cộng Sản (CS) là do có Tâm mà thiếu Trí, hoặc có Trí mà thiếu Tâm. Nếu biết bổ sung cái phần mình thiếu, để có đủ TÂM và TRÍ thì không còn là CS nữa. Nhiều người CS về sau đã từ bỏ đảng của mình chính là như vậy.

Ngược lại, người suốt đời vẫn tự hào và kiên trì cố thủ CS thì mất cả 2 “tính Người” đặc trưng là TÂM và TRÍ như trên phân tích thì sao còn gọi là NGƯỜI được nữa? Cho nên Liên hiệp các nước Âu châu mới kết luận Chủ nghĩa CS là chống Nhân loại (Nghị quyết 1481). Chủ nghĩa CS không phải một học thuyết khoa học như họ tự nhận mà chính là một Tôn giáo có hại nên là một Tà giáo không hơn (*).

Vậy “Nếu là người thì chớ là người CS”, vì đó là cấp bậc thấp hơn so với Con người đúng nghĩa.”(2)

Luận về người cộng sản, tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã nhắc đến sự kiện hồi năm 2006 Liên Hiệp Âu Châu đã thông qua Nghị Quyết số 1481 để lên án tội ác chống lại nhân loại của các chế độ cộng sản. Thật ra, không cần có một nghị quyết của Liên Hiệp Âu Châu để quăng chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác của lịch sử. Ngay chính người cộng sản cũng đã tự đào hố để chôn cái thứ chủ nghĩa đồi bại ấy. Ngày nay, người cộng sản hiện nguyên hình là một đảng cướp không hơn không kém và lãnh đạo cộng sản cũng chỉ là một “bọn” lưu manh theo đúng nghĩa. Với tôi, chẳng còn có chủ nghĩa hay ý thức hệ gì cả, mà chỉ là một đám lưu manh, côn đồ, độc ác. Do đó, ngày nay, với riêng tôi, “chống cộng” sẽ chỉ còn là “chém gió” hay gào thét, chửi rủa một cái thây ma thối tha đã bị chôn vùi trong đống rác của lịch sử. Với tôi, chống cộng chính là nói không với dối trá, lưu manh, độc ác, vô cảm và vô liêm sỉ. Ngày nay, có lẽ không cần phải sống dưới chế độ cộng sản để nhận ra những “ác tính” ấy. Nhiều lúc tôi tự hỏi: liệu tôi có thể ra rả “chống cộng” mà vẫn thần phục một tên lưu manh nào đó tuyên bố đứng giữa đại lộ số 5 ở New York và bắn giết người giữa thanh thiên bạch nhựt không? Chắc chắn lương tâm, tức ý thức muốn sống như con người không cho phép tôi sùng bái một tên lưu manh như thế.

Là người tỵ nạn, tôi chống cộng. Nhưng chẳng đi đâu xa và cũng chẳng cần chống ai cả. Chống cộng là chống lại lưu manh, dối trá, độc ác, vô cảm và vô liêm sỉ trong chính con người của tôi. Tôi học được bài học đó từ văn hào Nga Alexander Solzhenitsyn, tác giả của quyển tự truyện nổi tiếng “Quần đảo Gulag”. “Ở trong tù Solzhenitsyn dần dần nhận thức ra sự dối trá cơ bản của tư duy ý thức hệ: tư tưởng cho rằng người xấu làm điều ác, cho nên chúng ta chỉ cần loại bỏ họ. Hoàn toàn không phải như vậy. "Biên giới giữa thiện và ác không đi qua giữa các nhà nước, và cũng không đi qua giữa các giai cấp hay giữa các đảng phái chính trị - mà đi ngay qua tim của mỗi người". Sau khi thấu hiểu sự thật này, Solzhenitsyn đi đến một kết luận khác - "sự thật của tất cả các tôn giáo trên thế giới : mọi tôn giáo đều đấu tranh với cái ác ở trong con người (ở trong mỗi người)"(3)  Ông đã cám ơn “nhà tù vì luôn hiện diện trong đời ông” để nhắc nhở ông về cái ác trong chính con người của mình.

Cũng như Solzhenitsyn, tôi cũng muốn mượn lời của cô bạn “Bắc Kỳ” của tôi để thốt lên “Cũng nhờ bọn cộng sản chúng nó”, mà tôi ngộ ra chân lý: sự dối trá và lưu manh, sự độc ác, tính vô cảm và vô liêm sỉ ở ngay trong chính tôi. “Chống cộng” là chống lại những “ác tính” ấy trong chính bản thân tôi và lên tiếng chống lại những hành vi dối trá, lưu manh, độc ác của bất kỳ ai.

 

 

 

 

 

 

Chú thích

1.Tâm huyết với bài viết của tổng bí thư Nguyễn Phú Trong, Tạp chí Cộng sản 14/8/2023

2.Hà Sĩ Phu, Nếu là người, chớ là người cộng sản Báo Tiếng Dân, 25-2-2023

3.”The Gulag Archipelago”: An Epic of True Evil, The Wall Street Journal, số ra ngày 6/5/2023, bản dịch của Trần Quốc Việt, Thông Luận 14/5/2023

 

 

 

 

Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2023

Thiện căn ở tại lòng ta

 

 

Chu Văn


Mới đây, về Việt Nam, nhân dịp ghé Tây Ninh để thăm gia đình người thân, tôi được bạn bè rủ làm một chuyến “du lịch tâm linh” đến núi Bà Đen. “Du lịch tâm linh” hiện đang là một sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo rất thịnh hành ở Việt Nam. Hình như ở tỉnh nào cũng có một khu du lịch tâm linh. Tôi chưa có dịp và cũng không có đủ điều kiện hoặc là một tín đồ thuần thành để hành hương đến những nơi xa xăm ở miền Bắc. Thành ra, tiện dịp ghé Tây Ninh, tôi thấy không nơi nào thuận tiện hơn là Núi Bà Đen  để quan sát và thử nghiệm thế nào là “du lịch tâm linh” một lần cho biết.

Đầu thập niên 1980, chỉ vài tháng sau khi đến tỵ nạn tại Pháp, là một tín hữu công giáo, tôi đã hăm hở tìm đến một số trung tâm hành hương nổi tiếng của Giáo hội Công giáo ở Âu Châu như Đền thờ Thánh Phêrô ở Roma, thành phố Assisi, quê hương của Thánh Phanxicô, người được tôn vinh như sứ giả của hòa bình thế giới và nhứt là Trung tâm Thánh Mẫu Lộ Đức ở miền Nam nước Pháp. Vào thời điểm đó, sau hơn năm năm trải nghiệm thế nào là sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vô thần trong đó các sinh hoạt tôn giáo bị theo dõi, hạn chế một cách nghiêm nhặt, tôi rất thèm được tham gia các cuộc biểu dương tôn giáo. Không những được chiêm ngưỡng các di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc cổ kính, tôi cũng thật sự xúc động khi được hòa nhập vào giữa một đám đông những người xa lạ nhưng cùng chia sẻ một niềm tin.

Vừa thoát ra khỏi một chế độ vô thần, những đám đông mà tôi đã nhìn thấy tại những trung tâm hành hương của Kitô giáo ở Âu Châu quả đã tạo ra một ấn tượng mạnh trong tôi. Nhưng so với cái đám đông đã cùng với tôi “du lịch tâm linh” đến núi Bà Đen thì xem ra số khách du lịch hoặc tham gia cuộc hành hương tại các trung tâm tôn giáo ở Âu Châu chẳng là gì cả. Đoạn đường từ bãi đậu xe đến trạm cáp treo đưa lên đỉnh núi Bà Đen dài cả cây số dầy nghẹt người. Phải mất gần một tiếng đồng hồ để đi bộ qua đoạn đường ấy. Nhiều người cho biết: dịp Tết vừa rồi, có người phải chờ 2, 3 ngày mới được đặt chân lên cáp treo! Bạn không cần phải đi, đám đông tự động đẩy bạn đi tới. Từ đám đông ấy, tôi nghe đủ giọng nói: từ giọng Bắc “75” đến giọng “trọ trẹ” sô viết nghệ tĩnh cho đến giọng chả chớt dễ thương của người Miền Nam. Mà vé khứ hồi lên xuống cáp treo đâu phải rẻ. Trùm sò như tôi, mà phải chi ra gần 25 Úc kim để có được một vé “du lịch tâm linh” lên đỉnh núi Bà Đen, tôi cũng thấy tiếc lắm! Nhưng nghĩ lại thấy cũng đáng đồng tiền bát gạo. Thật ra, tôi bỏ tiền ra không phải để được lên đến một đỉnh núi cao gần cả 1000 thước để chiêm ngắm tượng Bà Đen, mà chính là để cảm nghiệm được tình cảm tôn giáo của đám đông. Phải nhìn nhận rằng phần lớn những người lên đỉnh núi Bà Đen không chỉ thuần đi du lịch như tôi, mà để thể hiện niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng của họ. Trong số những người đến ngước mắt nhìn lên tượng Bà Đen cao ngất ngưỡng trên đỉnh núi, tôi thấy có rất nhiều người trẻ. Già trẻ, lớn bé, ai cũng đều tỏ ra thành tín trong cử chỉ khấn vái và cầu khẩn của họ.

Là khách “du lịch tâm linh”, nhưng tôi không khấn vái cầu xin bất cứ điều gì trước tượng Bà Đen, mà là cố gắng nhìn vào bức tranh tổng thể của các sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay.

Việt Nam bây giờ thay da đổi thịt lắm! Đó là cảm nhận mà không chỉ du khách nước ngoài đến Việt Nam mới có, mà ngay cả nhiều người Việt, sau nhiều năm sống ở ngoại quốc, nay về thăm nhà cũng đều nhìn nhận như thế. “Thay da đổi thịt” về mọi mặt, nhứt là về phương diện tôn giáo và tín ngưỡng. Đi thoáng qua một vòng từ Bắc chí Nam, liệu có ai còn bảo rằng ở Việt Nam có bách hại tôn giáo không. Dĩ nhiên, Việt Nam vẫn tiếp tục bị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa vào “danh sách các quốc gia đáng bị theo dõi một cách đặc biệt” về những vi phạm nghiêm trọng đối với tự do tôn giáo. Một cách cụ thể, một số tôn giáo có tổ chức như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vẫn tiếp tục bị đặt ra ngoài vòng pháp luật; chư tăng, ni và chùa nào không theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà người dân thường gọi là “Giáo hội nhà nước” hay “Giáo hội quốc doanh” đều bị cô lập, xách nhiễu đủ điều. Tại Tây Nguyên, đồng bào Thượng cũng bị bách hại một cách trắng trợn vì niềm tin tôn giáo của họ. Cũng tại Tây Nguyên, tại một số nơi, chính quyền địa phương dùng vũ lực cản trở một cách thô bạo việc cử hành thánh lễ của các linh mục công giáo...Nhưng thủ đoạn đối với tôn giáo của chính quyền cộng sản Việt Nam  mà Hòa thượng Thích Không Tánh, phó viện trưởng Hội đồng Điều hành của Tăng đoàn Giáo hội Việt Nam Thống Nhất, gọi là “trấn, phân, cô, kéo” (trấn áp, phân rẽ, cô lập, lôi kéo)(1) là điều mà có lẽ du khách nước ngoài hay ngay cả người trong nước không thấy được. Bức tranh tôn giáo dễ bắt mắt nhứt vẫn là cảnh chùa chiền, nhà thờ nguy nga đồ sộ mọc lên như nấm. Người ta cũng chưa bao giờ được thấy ở Việt Nam những cuộc biểu dương tôn giáo “hoành tráng” như hiện nay. Con số các nhân sự tôn giáo thì khỏi nói: tu viện, chủng viện đầy ắp tu sinh. Cũng chưa bao giờ con số nhân sự tôn giáo được gởi đi tu học ở nước ngoài nhiều như hiện nay. Phải nhìn nhận, dưới một chế độ vẫn tiếp tục tự xưng là vô thần, sinh hoạt tôn giáo khởi sắc hơn bao giờ hết. Nhưng dĩ nhiên cái giá mà các tôn giáo có tổ chức phải trả quá đắt! Là người công giáo xuất phát từ Giáo phận Nha Trang, tôi đặc biệt theo dõi một diễn biến gần đây nhứt. Đó là việc Tòa Thánh đã bổ nhiệm một tân giám mục cho giáo phận này. Về nhận nhiệm sở, một trong những việc đầu tiên của vị giám mục là phải đi trình diện với chính quyền địa phương. Trong dịp này, lãnh đạo tỉnh đã nhắc nhở giám mục tân cử và các chức sắc trong giáo phận phải “tiếp tục tuyên truyền, dẫn dắt giáo dân gắn bó, ủng hộ các chủ trương, chính sách, định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh...” Về phần mình, tân giám mục giáo phận Nha Trang cũng “khẳng định sẽ tiếp tục chung tay, đồng hành cùng với địa phương dẫn dắt, động viên chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động đồng bào công giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp cho sự nghiệp phát triển, kinh tế của tỉnh”(2). Quả là “tốt đời đẹp đạo”!  Đảng được vinh quangmà đạo cũng khởi sắc!

Là người có niềm tin tôn giáo, nhưng tôi không lượng giá sức sống của một tôn giáo dựa trên con số tín đồ, lực lượng nhân sự, những nơi thờ tự nguy nga đồ sộ và nhứt là những cuộc lễ hoành tráng với cờ xí và phẩm phục tung bay rợp trời. Sức sống và sức mạnh của niềm tin tôn giáo trước tiên và thiết yếu phải được thể hiện qua vai trò “tiên tri” của tôn giáo, một cách cụ thể tôn giáo phải trở thành tiếng nói của sự thật và cuộc chiến chống lại dối trá và độc ác. Tôi chưa nhìn thấy được một sức sống như thế trong các tôn giáo có tổ chức ở Việt Nam. Chế độ cộng sản ở Việt Nam vẫn mãi mãi là một chế độ độc tài xây dựng trên dối trá và độc ác. “Chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” là góp tay xây dựng và củng cố chế độ dối trá và độc ác ấy, trong khi sứ mệnh của tôn giáo là giúp cho con người sống cho ra người lương thiện và tử tế hơn. Đã dối trá và độc ác thì đừng vỗ ngực rêu rao niềm tin tôn giáo của mình. Còn trong chính trị, đã dối trá và độc ác thì đừng nói đến chủ trương và chính sách tốt!

Có người cho rằng “một ông thánh làm chính trị tồi thì cũng vẫn là một chính khách tồi. Ngược lại, một tên lưu manh làm chính trị giỏi, biết cách sử dụng quyền lực cho những mục tiêu lớn và tốt, thì cũng vẫn là một chính khách giỏi”(3). Do đó, theo tác giả, đánh giá một nhà chính trị, chỉ cần dựa vào chính sách của họ. “Với ông Minh (Hồ Chí Minh) cũng vậy”. Tác giả cũng cho rằng chủ trương và các chính sách của Hồ Chí Minh, cụ thể những cuộc đấu tố tàn ác trong Cải Cách Ruộng Đất, cuộc truy sát tàn bạo thời Nhân văn Giai phẩm và nhứt là cuộc chiến “thần thánh” nướng cả mấy triệu đồng bào ruột thịt trên bàn thờ xã hội chủ nghĩa...chẳng ăn nhập gì với cái tâm dối trá và độc ác của ông cả!

Nhìn lại lịch sử thế giới kể từ sau Đệ nhứt Thế chiến, tôi nhận thấy một điều: trong tất cả các lãnh tụ cộng sản, từ Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông đến Hồ Chí Minh, Polpot và nay Kim Jong Un của Bắc Hàn và Tập Cận Bình của Trung Quốc hay Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam...không có người nào mà không lưu manh, dối trá và độc ác. Theo tôi, người có Tâm lương thiện có thể là một chính khách không thành công, nhưng chắc chắn không cho phép mình đề ra những chính sách tồi bại, độc ác. Thành ra, không thể đánh giá một người làm chính trị mà không màng đến tư cách và những giá trị đạo đức. “Phải đề cao các giá trị đạo đức đối với những người làm chính trị. Phải xem đó là yếu tố bắt buộc và quan trọng nhất” (4).

Không những các chính trị gia mà người dân nếu thực sự muốn sống trong một thể chế dân chủ cũng phải xem trọng các giá trị đạo đức. Dân trí không chỉ có nghĩa là người dân có trình độ học vấn và hiểu biết nhiều, mà còn phải đặt trọng tâm vào những giá trị đạo đức và lương tâm.

Nói đến dân trí, tôi không thể không liên tưởng đến nền dân chủ của Hoa Kỳ. Quốc gia có nền dân chủ lâu đời nhứt thế giới, có nền kinh tế thịnh vượng nhứt thế giới này hiện đang trải qua cuộc khủng hoảng về dân chủ. Nói như bà Liz Cheney, người đã bị Đảng Cộng Hòa trục xuất ra khỏi Đảng vì tham gia cuộc điều tra của Hạ Viện về vai trò của cựu Tổng thống Donald Trump trong cuộc bạo loạn tại Quốc hội ngày 6 tháng Giêng năm 2021, vấn đề hiện nay của chính trị Mỹ là “chúng ta đang bầu chọn những tên ngu đần” (5). Không những ngu dần, một tên lưu manh, dối trá như cuội, vô đạo, vô pháp, ngồi xổm trên Hiến pháp và Luật pháp như Donald Trump hiện vẫn được hơn 80 phần trăm cử tri của Đảng Cộng Hòa bái lạy tôn thờ như Chúa Giêsu...Tôi ngờ về dân trí của một bộ phận không nhỏ người Mỹ!

Dân trí và dân chủ đích thực chỉ có thể và phải được xây dựng trên lương tri, tức khả năng biết phân biệt thiện ác, phải trái cũng như nhìn nhận và tôn trọng sự thật. Lúc nào tôi cũng biết ơn đất nước Úc Đại Lợi. Một đất nước có một vị trí khiêm tốn về mọi mặt nhưng lại là một trong những nơi đáng sống. Bởi, tôi luôn nhìn thấy nỗ lực của chính phủ trong việc nâng cao mọi mặt của mọi người dân trong một xã hội đa văn hóa và đương nhiên rất đa dạng. Dân Úc đa số không “trung thành” với một đảng phái. Chính phủ luôn phải lắng nghe người dân và quân bình trong chính sách. Nhờ vậy, tôi thực sự hiểu được thế nào là dân chủ và đồng thời lúc nào cũng cảm thấy được thúc đẩy để nâng cao dân trí của chính mình. Tựu trung nâng cao dân trí với tôi cũng có nghĩa là cố gắng sống theo lương tâm, tôn trọng sự thật và sống cho ra người. Trí phải luôn dựa trên tâm.


Trước khi tham gia chuyến “du lịch tâm linh” ở Núi Bà Đen, tôi cũng đã làm một cuộc du lịch tâm linh thực sự có ý nghĩa ở Bảo Lộc. Nghe nói cách thị xã Bảo Lộc khoảng 20 cây số có một ngôi chùa có tên là Linh Quy Pháp Ấn, thường được khách thập phương và thiện nam tín nữ tìm đến để ngắm bình minh và “săn mây” nơi Cổng Trời. Một buổi sáng nọ, nhà tôi và tôi thức dậy thật sớm, gọi taxi chở đến nơi để xem ngôi chùa có thực sự là “Cổng Trời” không. Tôi vẫn thường tự nhận là một Phật tử và dĩ nhiên theo cách thế riêng của tôi, bởi vì tôi chưa hề thí phát quy y, niệm Phật, cúng dường hay ngay cả ăn chay...Dù chưa thấm nhuần giáo lý nhà Phật, nhưng những điều căn bản mà Đức Phật đã dạy thì quả thật tôi luôn cố gắng sống theo.




Tôi cứ tưởng điểm đến của cuộc “du lịch tâm linh” ở Bảo Lộc là Chùa Linh Quy Pháp Ấn. Thế nhưng, chính con đường hẹp đầy đá sỏi dẫn lên chùa mới thực sự là nơi để tôi cảm nghiệm được thế nào là “du lịch tâm linh”. Phải mất hơn nửa tiếng để lội bộ lên chùa và cứ mỗi 50 hay 100 bước, du khách không thể không dừng lại trước một tấm bảng để suy gẫm về một câu kinh Phật. Tất cả mọi câu kinh đều nhắc nhở tôi về thế nào là sống cho ra người lương thiện và tử tế. Mặc dù cuối cùng, tôi đã đến đỉnh núi và đứng trước cửa chùa để ngắm bình minh. Nhưng có lẽ ánh bình minh của lương tâm trong tôi mới thực sự mở mắt tôi để tôi biết cố gắng phân biệt thiện ác hầu sống cho ra người lương thiện và tử tế hơn.

Chu Văn

Chú thích

1. Nhà báo Song Chi phỏng vấn Hòa thượng Thích Không Tánh vietbao.com/a316168/hoa-thuong-thich-khong-tanh-thu-doan-cua-nha-cam-quyen-viet-nam-doi-voi-ton-giao-la-tran-phan-co-keo

2. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Nguyễn Tân Tuân tiếp tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh và giám mục tân cử giáo phận Nha Trang... https://www.vietnam.vn/chu-tich-ubnd-tinh-nguyen-tan-tuan-tiep-tong-giam-muc-giuse-nguyen-chi-linh-va-giam-muc-tan-cu-giuse-huynh-van-sy/

3. Tôi không cần biết ông Hồ Chí Minh có mấy vợ (Nguyễn Hưng Quốc) https://thongluan.net/2023/05/20/toi-khong-can-biet-ong-ho-chi-minh-co-may-vo-nguyen-hung-quoc/

4. Việt Hoàng: Giải mã hiện tượng “cuồng Trump” https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/18115-gi-i-ma-hi-n-tu-ng-cu-ng-trump

5. Cheney on the problem with American politics... https://thehill.com/homenews/campaign/4070139-cheney-on-the-problem-with-american-politics-were-electing-idiots/