Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

Hành trình về tự do

 


Chu Văn

Còn nhiều người thân và bạn bè ở Việt Nam cho nên tôi thường xuyên theo dõi tình hình đại dịch Covid-19 trong nước. Cách đối phó với đại dịch của nhà nước cộng sản Việt Nam ngày càng làm lộ ra bộ mặt độc ác giả nhân giả nghĩa của người cộng sản cho nên tôi chả tin tưởng bất cứ chính sách nào của họ. Là “con nhà có đạo”, tôi thường đặt niềm tin nơi các nhà lãnh đạo của Giáo hội công giáo hơn. Nhưng mới đây, tôi cảm thấy thất vọng về những lời kêu gọi của các vị này.

Theo một bản tin tôi đọc được trên “Thông tấn xã công giáo VietCatholic”, Hội đồng giám mục Việt Nam đã cho công bố một “lá thư kêu gọi tinh thần liên đới và tương thân để phòng chống đại dịch”(1). Kèm với lời kêu gọi liên đới và tương thân, lá thư  của Hội đồng giám mục Việt Nam trích dẫn “quyết định thành lập Quỹ Vaccine và kêu gọi mọi thành phần xã hội tham gia đóng góp” được thủ tướng chính phủ cho công bố ngày 26 tháng Năm vừa qua. Thư của Hội đồng giám mục Việt Nam đánh giá lời kêu gọi của thủ tướng “là một chủ trương hợp tình hợp lý và đúng lúc, rất xứng đáng để mọi người hưởng ứng, vận động và ủng hộ với hết khả năng”.

Để “nêu gương tốt” cho giáo dân, Hội đồng giám mục Việt Nam đã ủng hộ “quỹ Vaccine” của chính phủ 3 tỷ đồng và dĩ nhiên sau đó đã được thủ tướng chính phủ biểu dương “công đức” bằng một bằng khen và một bức hình chụp chung với thủ tướng!  Không biết Hội đồng giám mục Việt Nam có biết rằng cái “quỹ Vaccine” đó chẳng bao giờ được sử dụng để mua một mũi vaccine nào không? Bởi lẽ các “quan chức cao cấp của chính quyền thừa nhận trên báo rằng tiền góp vào “quỹ vaccine” là “tiền nhàn rỗi”, được gởi vào ngân hàng thương mại để lấy lời”(3). Và “tiền lời” ấy đi vào túi ai thì chẳng lẽ các nhà lãnh đạo công giáo ở Việt Nam không biết!

Dối trá, giả nhân giả nghĩa, độc ác, tham ô, bóc lột người dân đến tận xương tủy...nay lại được các nhà lãnh đạo công giáo “xức dầu”, biện minh...hẳn chế độ cộng sản phải nở mày nở mặt và có đủ lý do để tiếp tục đàn áp và hút máu người dân, nhứt là trong thời đại dịch này.

Chuyện các nhà lãnh đạo công giáo ở Việt Nam công khai bày tỏ sự ủng hộ dành cho chế độ cộng sản không phải là hiếm. Tôi vẫn còn nhớ cách đây 6 năm, một vị giám mục của một giáo phận được xem là có số dân công giáo đông nhứt tại Việt Nam, đã viết thư kêu gọi giáo dân “tích cực”  tham gia bầu cử. Được biết trước khi về nước để được bổ nhiệm làm giám mục, dĩ nhiên với sự chuẩn thuận và “chúc lành”  của nhà nước, vị giám mục này đã sống và làm việc hơn nửa đời người ở hải ngoại. Không biết có phải để “trả ơn” cho nhà nước không, chỉ 3 ngày sau khi “đăng quang” giám mục, ông đã viết thư “mời gọi anh chị em tích cực tham gia cuộc bầu cử, xem xét chọn lựa những đại biểu có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực phục vụ lợi ích nhân dân. Tôi hy vọng với ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, anh chị em sẽ hoàn thành tốt việc bầu cử này”(2). Trong một đất nước có tự do dân chủ, quả tình chẳng có lời kêu gọi nào phù hợp với giáo huấn của Giáo hội Công giáo hơn. Nhưng trong một chế độ cộng sản như Việt Nam, nơi mà bầu cử diễn ra chẳng khác nào một trò hề, vị giám mục này hẳn phải mù lòa, điếc lác thì may ra mới không thấy rằng chẳng hề có bầu cử tự do. Mà đã không có bầu cử tự do thì tốt hơn nên thinh lặng hơn là kêu gọi “tích cực” tham gia bầu cử và như vậy góp phần biện minh cũng như dung dưỡng chế độ độc tài.

Tôi đã sống trong chế độ cộng sản hơn 5 năm. Tôi hiểu và thông cảm với các nhà lãnh đạo công giáo của tôi, vì họ phải chịu rất nhiều áp lực của chế độ. Có vị phải lâm cảnh tù đày. Nhưng cũng có rất nhiều vị vì muốn được yên thân hay vì “lợi ích” cá nhân và sự sống còn của Giáo hội, đành phải chấp nhận thỏa hiệp. Và thật đáng buồn khi sự thỏa hiệp có thể dẫn đến vong thân và khiến đánh mất ý nghĩa của vai trò “tiên tri” của các nhà lãnh đạo công giáo.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, “tiên tri” là người đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn căn tính tôn giáo của Do Thái Giáo. “Tiên tri” (prophète, prophet) theo đúng nghĩa không phải là người biết và loan báo “quá khứ vị lai” mà là người nói thay cho Thiên Chúa; họ thay mặt Thiên Chúa để lên tiếng cảnh cáo về tội ác và kêu gọi con người quay về đường ngay nẻo chính. Một trong những đối tượng chính của các tiên tri là giới lãnh đạo, cụ thể các vua chúa và triều đình. Thường bị các tiên tri chân chính quở trách cho nên nhiều ông vua cho lập riêng cho mình một đội ngũ những tiên tri chỉ biết nịnh hót và biện minh cho những sai trái của họ. Bù lại các “tiên tri” này được hưởng nhiều cặn bã của danh lợi. Người ta gọi họ là những “tiên tri cung đình”. Đây là hiện tượng mà một vị tiên tri chân chính tên là Isaia đã gọi là thời “chó câm”  (Isaia 56, 10).

Tôi quan tâm đến đại dịch ở Việt Nam hiện nay bởi vì tôi còn nhiều người thân và bạn bè trong nước cũng như tôi đã từng lo cho số phận của rất nhiều người thân và bạn bè ở Mỹ. Nay bên cạnh đại dịch tôi lại canh cánh lo sợ cho cuộc sống của người thân và bạn bè của tôi ở Mỹ vì một thứ đại dịch khác mà tôi cho là còn nguy hiểm gấp trăm ngàn lần đại dịch Covid-19. Đó là đại dịch “bạo động bằng súng đạn”. Đại dịch Covid-19 có thể phòng chống bằng nhiều cách. Nhưng đại dịch “bạo động bằng súng đạn” thì vô phương cứu chữa. Đâu đâu và bất cứ lúc nào, mình cũng có thể bị bắn chết bởi một người không quen biết và mà không cần lý do. Phải có giây thần kinh bằng sắt thép thì may ra mới không biết lo lắng và sợ hãi trong một tình trạng như thế.

Mới đây, trên đài CNN, tôi đọc được tin có ít nhứt 233 người bị bắn chết và 618 người bị thương trong 500 vụ bạo động bằng súng đạn trong những ngày mừng lễ độc lập 4 tháng Bảy vừa qua. Bản tin cho biết con số bạo động và nạn nhân đã giảm 26 phần trăm so với cùng thời kỳ hồi năm trước. Thật vậy trong dịp lễ độc lập hồi năm ngoái đã có 314 người bị thiệt mạng và 751 người bị thương vì súng đạn(4). Có nơi nào trên thế giới, người dân được “tự do” bắn giết như thế không? Có nơi nào trên thế giới, “bạo động bằng súng đạn” lại được mặc nhiên chấp nhận và ngay cả  cổ võ như ở Mỹ không? Với tôi, bạo động bằng súng đạn là một tộc ác và cổ võ hay thinh lặng đồng lõa cũng phải được xem là một tội ác.

Tôi đã thất vọng về việc các nhà lãnh đạo công giáo ở Việt Nam đã góp phần biện minh và dung dưỡng cho chế độ độc tài. Tôi lại càng thất vọng hơn về sự thinh lặng của Hội đồng giám mục Hoa Kỳ trước nạn bạo động bằng súng đạn tại nước này.

Gần đây, dư luận xôn xao về việc Hội đồng giám mục Hoa Kỳ soạn thảo một văn kiện về việc “Rước Lễ”. Dù cho các nhà lãnh đạo công giáo Mỹ có lên tiếng thanh minh cách mấy, ai cũng thấy rõ như ban ngày là với văn kiện này các vị nhắm tới Tổng thống Joe Biden và các chính trị gia công giáo trong Đảng Dân Chủ là những người ủng hộ quyền chọn lựa của người phụ nữ, tức quyền được chọn lựa giữ hay hủy bỏ bào thai trong những hoàn cảnh mà chỉ có lương tâm của một người mẹ mới hiểu được.

Tòa thánh Vatican đã thấy rõ “ý đồ” của các giám mục Mỹ trong việc soạn thảo văn kiện về việc “Rước Lễ” cho nên đã khuyến cáo các vị không nên biến việc “Rước Lễ” thành một vũ khí để tấn công các chính trị gia của một đảng phái và ủng hộ một đảng phái khác.

Phá thai có thể là một tệ nạn lớn nhưng không phải là tệ nạn duy nhứt trong xã hội Mỹ. Bên cạnh đó còn có những vấn đề nhức nhối hơn như bạo động bằng súng đạn, kỳ thị chủng tộc, án tử hình...và nhứt là dối trá dẫn đến chia rẽ, hận thù, bạo động trong xã hội. Sao lại chỉ lên tiếng trước tệ nạn phá thai và thinh lặng trước vô số những tội ác khác?

Là một tín hữu công giáo, tôi nhìn nhận và tôn trọng sự thánh thiêng của sự sống con người từ lúc còn trong lòng mẹ cho đến lúc chết tự nhiên. Nhưng là một tín hữu công giáo, tôi xem sự cảm thông như được Chúa Giêsu dạy và thực thi trong suốt cuộc sống của Ngài là cốt lõi của Kitô giáo. Ngoại trừ thành phần lãnh đạo của Do Thái giáo là nhóm “Biệt Phái” giả nhân giả nghĩa, Chúa Giêsu không loại trừ bất cứ một người nào. Ngài kết thân với những người bị xem là “ tội lỗi”, những người bị xã hội đẩy ra bên lề.

“Rước Lễ” là cao điểm của Thánh Lễ trong Giáo hội Công giáo. Nếu Thánh Lễ là một bữa tiệc, thì đương nhiên “Rước Lễ” là tham dự vào bữa tiệc trong đó bất luận là tội nhân hay thánh nhân, mọi người đều ngồi trên cùng một bàn ăn với nhau. Và như chính Chúa Giêsu đã từng ngồi đồng bàn với những người bị khai trừ ra khỏi xã hội, mối giây liên kết mọi người với nhau chính là sự cảm thông.

Biến việc “Rước Lễ” thành một võ khí để loại trừ và tẩy chay một ai đó phải chăng không là đi ngược lại chính cốt lõi của đạo là sự cảm thông?

Sống đạo là một cuộc hành trình về tự do và người tín hữu chỉ thực sự tự do và cảm nhận được thế nào là tự do khi họ biết sống cảm thông.

 

Chú thích

1. Thư kêu gọi của Chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam https://vietcatholic.net/News/Html/269141.htm

2. https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/viet-nam-chong-dich-covid-19-tham-lam-va-doc-ac/

3. Giám mục Đinh Đức Đạo và thư kêu gọi tham gia bầu cử http://www.molang0205.com/2016/05/giam-muc-inh-uc-ao-va-thu-keu-goi-tham.html

4. https://edition.cnn.com/2021/07/05/us/us-shootings-july-fourth-weekend/index.html

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2021

Đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính

Chu Văn

Ngoài những chuyện liên quan đến gia đình, người thân và bạn bè trong nước, tôi ít quan tâm đến tin tức do các cơ quan truyền thông công cụ ở Việt Nam phổ biến. Tin tức (news, nouvelles, noticie, noticias...) trong ngôn ngữ của hầu hết các nước Tây Phương, luôn có hàm ý về một điều mới mẻ. Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay cũng như trong các chế độ độc tài, tin tức lúc nào cũng chỉ là bổn cũ lập lại. Như chuyện bầu cử chẳng hạn: lúc nào kết quả bầu cử cũng có trước khi người dân đi bỏ phiếu; lúc nào các ửng cử viên được đảng đề cử và chỉ được đảng đề cử cũng đạt kết quả trên 90 phần trăm số phiếu bầu; có vị được cả đến 99 phẩy 9 phần trăm...Với kết quả bầu cử được biết trước như thế, các phóng viên nằm nhà uống cà phê cũng vẫn có thể tường thuật đầy đủ “tin tức” về bầu cử. Đó là chuyện “tin tức” của các cơ quan truyền thông công cụ. Còn những lời phát biểu của cấp lãnh đạo hay các viên chức chính phủ, trước sau như một, lúc nào cũng chỉ là những lời sáo rỗng, những công thức vô nghĩa...Thành ra, trong một xã hội mà sự tử tế đã trở thành quý hiếm, thỉnh thoảng đọc được một bản tin đề cao một nghĩa cử, tôi xem đây mới thực sự là tin tức và đọc đi đọc lại với rất nhiều cảm xúc.

Trên báo Người Việt số ra đầu tháng Sáu vừa qua, tôi đọc được câu chuyện của một người bán vé số không tay được một số nhân viên ở phi trường Tân Sơn Nhất giúp lên máy bay vào những giây phút cuối trước khi máy bay cất cánh. Người khuyết tật bán vé số này tên là Nguyễn Quốc Phương, quê ở Hải Dương. Anh giải thích về hoàn cảnh của mình cho người đại diện của hãng hàng không Bamboo Airways tại Sài Gòn: “Em đi xe đò vào Sài Gòn cách đây ba năm, bán vé số dạo để gởi tiền về quê. Bố em bị tai biến, hôm nay ra phi trường mua vé về quê gấp, nhưng bị từ chối vì không có giấy tờ hợp lệ. Em là người khuyết tật, không có đôi bàn bay, nên không làm Chứng Minh Nhân Dân được. Anh chị thương giúp em với”.

Không có Chứng Minh Nhân Dân thì đương nhiên không được phép lên máy bay đã đành, mà vét hết tiền túi ra cũng không đủ cho một giá vé một chiều Sài Gòn - Hà Nội là 900.000 đồng. Người hành khách khuyết tật chỉ có đúng 350.000 đồng.  Nhưng với chút từ tâm còn sót lại trong một xã hội vô cảm, các nhân viên bán vé ở phi trường mỗi người một chút đã góp đủ một vé máy bay cho anh Phương và nhân viên an ninh phi trường cũng nhắm mắt làm ngơ để cho anh được lên máy bay như một công dân bình đẳng trong một chế độ “bình đẳng nhưng có những người bình đẳng hơn người khác”.

Bài báo được Người Việt trích dẫn đã  ghi lại cảm xúc của một nhân viên bán vé của hãng Bamboo Airways: “Nhìn những giọt nước mắt hạnh phúc của người đàn ông bán vé số nhỏ xíu, bàn tay co cúm lại, khuất vào phía phòng chờ cùng tấm vé cuối ngày, ai nấy đều lâng lâng trong lòng” (1).

Bản tin không chỉ làm dấy lên trong tôi niềm cảm thương sâu xa đối với người bán vé số khuyết tật, sự cảm phục đối với các nhân viên bán vé ở phi trường, mà còn khiến tôi cảm thấy uất hận trước cái chế độ độc ác, vô tâm và tàn nhẫn đối với những thành phần thấp kém trong xã hội.

Tôi đã được “may mắn” sống dưới chế độ cộng sản hơn 5 năm. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao cho đến khi trốn khỏi chế độ, tôi vẫn không được cho làm Chứng Minh Nhân Dân. Không có giấy tờ hợp lệ cho nên việc đi lại trong nước vốn đã khó đối với mọi người, lại càng khó hơn đối với một người không được nhìn nhận là “nhân dân”. Một người “phản động” như tôi có thể không được “chứng minh” là “nhân dân” là điều có thể hiểu được. Nhưng  một người khuyết tật không được chứng nhận là “nhân dân” chỉ vì không còn đủ hai bàn tay, đây quả là tận cùng của sự bất công và độc ác của một chế độ lúc nào cũng tự hào là cổ súy và xây dựng sự bình đẳng. Đây chính là bộ mặt thật của một chế độ không có linh hồn!

Tại Úc Đại Lợi, tôi có biết một gia đình người Việt có hai cậu con trai song sinh mắc chứng tự kỷ bẩm sinh. Cả hai nay đã là thanh niên nhưng vẫn cư xử gần như một trẻ thơ. Gia đình chỉ đủ sức để chăm sóc cho một cậu. Dĩ nhiên với sự tài trợ của chính phủ Úc. Một cậu thì lại được trao phó hoàn toàn cho chính phủ chăm nom. Chính phủ thuê nhà và mướn người túc trực ở bên cạnh cậu ngày đêm. Gia đình của hai thanh niên khuyết tật này cho biết mỗi năm chính phủ dành một ngân khoản không dưới mấy trăm ngàn Úc kim cho mỗi cậu.

Úc Đại Lợi, mặc dù cũng có lúc tự nhận là một “đất nước may mắn”, nhưng chưa bao giờ được xem là đất nước của niềm mơ ước như Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhưng qua các chương trình xã hội, cách riêng đối với người khuyết tật, tôi vẫn xem đây là một thiên đàng trần gian thật sự. Thiên đàng là tình yêu. Ở đâu có tình yêu, đặc biệt tình yêu dành cho những thành phần kém may mắn và yếu kém nhứt trong xã hội, thì ở đó có thiên đàng. Và dĩ nhiên ở đâu có tình yêu thì ở đó mới có hòa bình thật sự.

Nhắc đến Úc Đại Lợi thì dĩ nhiên cũng phải nêu đích danh Trung Cộng, một người khổng lồ không có trái tim đã và đang  chèn ép và dọa nạt Úc Đại Lợi  bằng đủ mọi cách. Không chỉ Úc Đại Lợi mà hầu như toàn thế giới đã trở thành một thứ sân chơi trong đó tên khổng lồ không có trái tim muốn đàn áp, hạch xách, bắt nạt ai tùy ý. Được mời tham dự Hội nghị Thượng đỉnh của khối G-7 tại Anh Quốc, Úc Đại Lợi đã cùng với một thành viên của khối là Nhựt Bản  công bố một bản cáo trạng lên án thói hung hăng côn đồ của Trung Cộng. Bản cáo trạng bày tỏ quan ngại sâu xa về chủ trương diệt chủng của Trung Cộng đối với dân tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ tại tỉnh Tân Cương, nhấn mạnh đến việc đàn áp những nhà bất đồng chính kiến tại Hương Cảng và đặc biệt lên án hành động xâm lăng của Trung Cộng tại Biển Đông cũng như đối với Đài Loan (2).

Một cuộc thăm dò về dư luận của thế giới đối với Trung Cộng do Trung Tâm Nghiên Cứu Pew (Pew research Center) thực hiện hồi năm ngoái và được cập nhựt cho thấy ngoại trừ tại một vài nước như Nga, Ba Tây, Israel, Tunisia...đâu đâu cũng đều có cái nhìn tiêu cực về Trung Cộng (3). Tiêu cực là nói một cách lịch sự. Thật ra, đúng hơn phải nói là ở đâu người ta cũng “thù ghét” Trung Cộng.

Cũng may, ít ra nay Trung Cộng đã chợt nhận ra cái bộ mặt đáng ghét của mình. Dạo cuối tháng Năm vừa qua, tại một hội nghị gọi là “học tập tập thể” về đường lối ngoại giao, lãnh tụ Tập Cận Bình đã kêu gọi “giảng hảo Trung Quốc cố sự”, nghĩa là hãy kể cho thế giới nghe câu chuyện về Trung Quốc “thật hay”. Thay cho chính sách ngoại giao “lang sói” (wolf warrior diplomacy) vốn đã tạo ra ác cảm và thù ghét của thế giới, chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi các quan chức cao cấp nhứt của Đảng Cộng Sản hãy “tập trung kiểm soát lời nói, cởi mở và tin tưởng, nhưng cũng đồng thời phải giản dị và khiêm tốn, cố gắng tạo ra một hình ảnh Trung Quốc đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính”.

Tôi không tin là Trung Cộng có thể thay đổi được bộ mặt bỉ ổi của mình. Trong cuộc sống, dù cá nhân hay trên bình diện quốc gia, muốn được “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính” thì hãy cư xử tử tế đã. Hình như cho tới giờ phút này, những người cộng sản Trung Quốc chưa tỏ ra và chưa hiểu thế nào là tử tế. Dịp rất may để Trung Cộng tỏ ra mình “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính” là tình trạng dịch bệnh hiện nay tại Đài Loan. Nhựt Bản đã viện trợ cho Đài Loan 1.25 triệu liều thuốc chủng ngừa. Hoa Kỳ cũng đã cử một phái đoàn đến thăm Đài Loan và hứa sẽ gởi một số thuốc chủng ngừa đến quốc gia  hải đảo này. Lẽ ra đây là cơ hội để Trung Cộng làm một nghĩa cử với người dân Đài Loan vốn là người đồng chủng với mình. Nhưng họ đã hành xử vô nhân đạo với Đài Loan bằng cách chỉ trích Nhựt Bản, lên án Hoa Kỳ và ngăn chận số lượng thuốc chủng ngừa AstraZeneca mà Đài Loan đặt mua. Một hành động vô nhân đạo như thế không thể nào làm cho bộ mặt thô bỉ của Trung Cộng trở thành “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính”.



“Xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn”(Build back a better world), đó là thông điệp mà các nhà lãnh đạo của khối G-7 muốn nhắn gởi cho toàn thế giới sau Hội nghị Thượng đỉnh vừa qua tại Anh Quốc. Với tôi dường như thông điệp của các nhà lãnh đạo khối G-7 đã được tóm gọn trong hai chữ “Tình yêu” (Love) mà Đệ nhứt Phu nhân Hoa Kỳ, bà Jill Biden đã cho khắc lên trên lưng chiếc áo gió bà mặc trên người. Nhiều người đã liên tưởng đến khẩu hiệu “Tôi thực sự không quan tâm. Còn bạn thì sao?” (I really don’t care. Do you?) được viết trên chiếc áo gió mà cựu đệ nhứt phu nhân Melania Trump đã mặc khi đi viếng thăm một trung tâm giam giữ trẻ em tầm trú vào Mỹ và bị tách lìa với cha mẹ.  Không ai biết bà Trump có dụng ý gì khi mặc chiếc áo gió có một khẩu hiệu như thế. Nhưng trong bối cảnh của một chuyến viếng thăm những đứa trẻ đáng thương đang bị giam giữ trong những điều kiện không mấy bình thường, một khẩu hiệu như thế dễ gợi lên sự vô tâm hơn là sự cảm thông và tình thương dành cho những người khốn khổ.

Người ta thường nói rằng đàng sau sự thành công của một người đàn ông luôn có bóng dáng của người đàn bà. Nếu đúng như thế thì quả thật bà Jill chắc chắn phải góp phần rất lớn cho sự nghiệp chính trị và các chính sách  của ông Biden và cách riêng, khẩu hiệu “Tình yêu” mà bà cho viết trên lưng chiếc áo gió của bà trong những ngày có mặt tại Anh Quốc đã tóm gọn được thông điệp của khối G-7 mà linh hồn đầu tầu không ai khác hơn là tổng thống Biden.

“Xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn” chính là xây dựng bằng “Tình yêu” chớ không phải bằng sự hung hăng, gây hấn, hận thù hay chia rẽ. Và dĩ nhiên, đó không phải là trách nhiệm riêng của các nhà lãnh đạo quốc gia. Đã là người thì ai cũng mong muốn tỏ ra “đáng tin cậy, đáng yêu và đáng kính”. Và muốn được như thế thì dĩ nhiên phải biết sống yêu thương và cư xử tử tế với mọi người. Sống như thế là góp phần vào việc “xây dựng lại một thế giới tốt đẹp hơn”.

 

 Chú thích

1.     https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/bat-khoc-voi-canh-doi-anh-ban-ve-so-khong-tay-o-phi-truong-tan-son-nhat/

2.     https://theworldnews.net/au-news/sabotaging-peace-new-claims-as-china-lashes-out-at-australia

3.     https://en.wikipedia.org/wiki/Template:Sinophobia_Pew

 

 

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

Hành hương về cội nguồn

 





Chu Văn
Có những địa danh mà nhiều người bảo rằng chỉ cần đến “xem” rồi chết cũng được. Thời trung học, không rõ từ đâu, tôi cũng nghe được câu: “Xem Ba Lê rồi chết” (voir Paris et mourir)! Thời trai trẻ, chỉ biết và chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, lúc nào tôi cũng mơ được một lần đặt chân đến nơi thường được mệnh danh là “kinh thành ánh sáng” đó. Mãi đến đầu thập niên 1980, giấc mơ của tôi mới thành hiện thực. Dòng sông Seine chảy lững lờ xuyên qua thành phố Ba Lê, nếu so với những dòng sông mà tôi đã từng chiêm ngắm ở Việt Nam của tôi, thật ra cũng chẳng bề thế và thơ mộng lắm. Chỉ có điều là khi học địa lý của mẫu quốc, vì đã mơ được một lần tận mắt ngắm nhìn dòng sông này, cho nên lần đầu tiên đi dọc theo bờ sông, phải nói là tôi đã ngây ngất. Ngây ngất chỉ vì mình đã “mục sở thị” điều mình đã mơ được thấy! Cùng với dòng sông Seine, còn có vô số những di tích lịch sử khác của Ba Lê mà tôi cũng cảm thấy “ngây ngất” khi đặt chân tới. Đặc biệt, với tôi là một tín đồ công giáo, nhà thờ Đức Bà Ba Lê (Notre Dame de Paris) là nơi đã ghi lại một dấu ấn rất mạnh. Thú vị nhứt có lẽ là giây phút tôi đứng dưới chân tháp nơi mà văn hào Victor Hugo (1802-1885) đã cho người gù Quasimodo kéo từng hồi chuông.
Cũng may, tôi đã “xem” Ba Lê mà vẫn còn sống nhăn để tiếp tục mơ được “xem” nhiều nơi khác trên thế giới. Năm 1985, bước chân lãng du đã đưa tôi đến La Mã. Học lõm đôi ba câu tiếng Ý, tôi lại nghe có người bảo “Xem La Mã rồi chết” (vedere Roma e dopo morire). Mà quả thật, với tôi La Mã là một trong những thành phố đáng “xem” nhứt. Ở đâu tôi cũng nhìn thấy những di tích lịch sử. Tôi đã bỏ ra nguyên một tháng mà vẫn chưa “xem” hết những di tích lịch sử ấy.









Ý còn có một thành phố khác mà người ta cũng bảo đến “xem” rồi chết cũng đáng. Đó là Napoli (Naples), thành phố lớn thứ ba của nước Ý. Tôi lại học thêm một câu tiếng Ý khác: “Hãy đến xem Napoli rồi hãy chết” (Vedi Napoli e poi muori). Sợ chết quá cho nên tôi không dám đến Napoli mà lại lên tận miền Bắc Ý để “xem” cho bằng được một thành phố nổi tiếng khác của Ý là Venezia (Venise). Tại đây, người ta cũng bảo: “xem Venezia rồi chết” (Vedere Venezia e morire). Thật đáng đồng tiền bát gạo để đến “xem” thành phố thời trung cổ này. Được xây dựng trên hơn một trăm hòn đảo nhỏ, cả thành phố là một công trình kiến trúc trên nước. Đi đâu cũng thấy nước. Vốn sinh ra và lớn lên bên cạnh hai con sông cho nên với tôi, “xem” Venezia cũng giống như trở về quê nhà.

Thế giới có vô số nơi để “xem” rồi chết cũng được. Nhưng tôi chưa được “xem” bao nhiêu thì tuổi đời không còn bao nhiêu nữa. Nay trước khi “về cội”, có một nơi ở Úc Đại Lợi mà tôi luôn nghĩ phải là nơi cuối cùng phải đến “xem” một lần  rồi chết cũng được. Đó là núi “Uluru” hay còn gọi là Ayers Rock (Hòn đá Ayers), nơi được xem là linh thánh nhứt của người thổ dân Úc. Được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) xem là một di sản của thế giới mà một công dân Úc như tôi không đến “xem” quả là một thiếu sót lớn.

Tuần qua, một dịp may hiếm có đã đến: tôi được cơ hội tháp tùng một người thân lái xe từ Sydney đi xuyên qua biên giới của 3 tiểu bang NSW, Victoria và Nam Úc để đến Alice Springs, một thành phố thuộc Lãnh Thổ Bắc Úc (Northern Territory). Trước khi đến Alice Springs, chúng tôi dừng lại Uluru. Thật ra, với riêng tôi, Uluru mới là điểm đến trong cuộc hành trình dài gần 4000 cây số từ bờ biển phía Đông đến tận trung tâm của nước Úc. Tại đây có cả một xa lộ dài 250 cây số và một phi trường chỉ dành riêng để phục vụ khách du lịch muốn đến Uluru. Giữa sa mạc mênh mông, dòng xe qua lại cũng chỉ chuyên chở toàn khách du lịch đến xem Uluru. Nhưng tôi không xem việc đến “xem” Uluru như một chuyến du lịch mà là một cuộc hành hương và hành hương về cội nguồn. Tôi không chỉ đến đây để “xem” hòn đá vĩ đại này đổi màu tùy theo ánh nắng mặt trời. Tôi cũng chẳng đến đây để chụp một tấm hình  lưu niệm. Tôi chiêm ngắm hòn đá linh thiêng này để trở về cội nguồn của người thổ dân, những người đã từng có mặt tại Úc Đại Lợi cả 40 ngàn năm. Và hiểu theo một ý nghĩa nào đó, họ cũng là những người có một nền “văn hóa” riêng đáng được tôn trọng.

Mới đây Đài truyền hình CNN của Mỹ đã sa thải một nhà bình luận vì cho rằng người da đỏ tại Hoa Kỳ chẳng có một nền “văn hóa” nào cả. Nhà bình luận này là ông Rick Santorum, một người đã từng tham gia vào cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc hồi năm 2016 dưới lá cờ của Đảng Cộng Hòa. Lý do ông Santorum bị Đài CNN chấm dứt hợp đồng là vì, lên tiếng trong một đại hội của những người bảo thủ, ông  khẳng định rằng trước khi người da trắng đến định cư tại Bắc Mỹ, người bản địa da đỏ chẳng có bất cứ nền văn hóa nào cả hay văn hóa của họ chẳng ăn nhập gì với văn hóa Mỹ (1).

Phần lớn người Úc da trắng cũng đã từng nghĩ như thế về người thổ dân. Trong cuốn phim tài liệu có tựa đề “Lịch sử châu lưu trong máu của tôi” (In my blood it runs) được thực hiện hồi năm 2019, một nhà làm phim người Úc là bà Maya Newell đã cho thấy một ý thức và một cái nhìn khác của chính người thổ dân. Cuốn phim được mở đầu với cảnh một giáo viên giơ cao cuốn truyện bằng tranh vẽ có tựa đề “The Australia Book” được soạn thảo hồi năm 1952 rồi đọc: “Tại Vịnh Botany, (thuyền trưởng) Cook cập bến lần đầu tiên tại một đất nước mới. Sau đó ông cho thuyền đi dọc theo bờ biển, đến đâu vẽ bản đồ đên đó...Tại một hòn đảo ở Mũi York, ông giương cao cờ Anh Quốc. Và ông tuyên bố toàn bộ vùng đất mới này thuộc về nước Anh”.

Một cậu bé thổ dân 10 tuổi tên là Dujuan đã giơ tay phản đối: “Bài học trên đây dành cho người da trắng chớ không phải người thổ dân. Người này (thuyền trưởng Cook) đến trên một chiếc thuyền và ông ta là người da trắng đầu tiên đặt chân đến Úc Đại Lợi. Người thổ dân đã bảo họ đi và tìm một vùng đất khác, bởi vì đây là đất của họ (người thổ dân). Nhưng họ (người da trắng) đã không nghe”(2)

Bài học mà cậu bé thổ dân Dujuan đã “dạy” cho người da trắng cũng chính là bài học mà cậu đã học được từ cha mẹ, ông bà và tổ tiên của họ. Đây là bài học mà nhà làm phim Newell cũng đã cố gắng tiếp thu khi đến sống với gia đình của Dujuan tại một vùng ngoại ô của Alice Springs trong nhiều tuần lễ để thực hiện cuốn phim tài liệu về cuộc sống của người thổ dân. Dân số của thành phố này có khoảng 30 ngàn người, trong số này có 20 phần trăm là người thổ dân. Hầu hết những người thổ dân tại Alice Springs đều phải sống trong các trung tâm tạm cư được thiết lập vào thập niên 1960, khi Chính phủ Úc cưỡng bách họ phải rời bỏ đất đai của họ. Người thổ dân tại Alice Springs sống chẳng khác nào người tỵ nạn ngay trên chính quê hương của họ, dưới sự theo dõi và giám sát rất chặt chẽ của cảnh sát. Tại đây, hầu hết các xe cảnh sát đều là những chiếc xe thùng dùng để săn lùng và chuyên chở những người phạm pháp. Trước cửa  một tiệm bán bia rượu bên cạnh trung tâm thương mại Woolworths, suốt ngày lúc nào tôi cũng thấy có 2 viên cảnh sát túc trục để xét giấy tờ tùy thân của khách hàng. Và dĩ nhiên, đa số khách hàng là người thổ dân. Không béo phì vì thức ăn nhanh (fast food), thì người thổ dân cũng bị nghiện ngập, bị tiểu đường loại hai hay mắc phải những chứng bệnh khác do những thứ đồ ăn, thức uống và vi khuẩn mà chính người da trắng đã mang tới.

“Ánh sáng văn minh” hay “văn hóa” của người da trắng đã bứng người thổ dân ra khỏi môi trường sống tự nhiên của họ và truyền cho họ vô số bệnh tật và tệ nạn xã hội chưa từng có trước khi người da trắng đặt chân đến Úc Đại Lợi. Theo thống kê, mặc dù con số thiếu niên thổ dân tuổi từ 10 đến 14 chỉ chiếm có 6 phần trăm số thiếu niên Úc trong độ tuổi này, nhưng 70 phần trăm thiếu niên phạm pháp hiện đang bị giam giữ trong những trung tâm cải huấn trên toàn quốc Úc lại là thiếu niên thổ dân. Riêng trong  Lãnh thổ Bắc  Úc, tình hình lại càng tồi tệ hơn: tính đến cuối tháng Ba năm nay, cứ 33 thiếu niên Úc bị giam giữ, có đến 31 em là người thổ dân.

Mục đích của hành hương là để sám hối. Hành hương đến Hòn đá Uluru thánh thiêng của người thổ dân Úc và nhìn cảnh họ lang thang suốt ngày trên các đường phố Alice Springs rồi liên tưởng đến nạn kỳ thị chủng tộc mà người Mỹ gốc Phi Châu hiện đã và đang gánh chịu từ ngày quốc gia được gọi là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ được thành lập, tôi thấy không thể không làm một cuộc sám hối. Sám hối là bởi lẽ, trong suốt cuộc sống, ít hay nhiều tôi cũng đã từng nuôi dưỡng sự miệt thị và ngay cả  thù hận đối với những người không cùng màu da, văn hóa, ngôn ngữ hay tôn giáo với tôi. Ở Mỹ hiện nay  không chỉ có “thượng đẳng  da trắng” mà còn có cả “thượng đẳng da vàng” nữa. Tôi thường dễ quên mất một chân lý tối thượng trong cuộc sống. Đó là loài người liên đới chặt chẽ với nhau và nhứt là, bên kia màu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và trình độ phát triển, tất cả mọi người có mặt trên đất này đều giống nhau. Chỉ xét về bộ “gen”, dù thuộc chủng tộc nào, mọi người đều giống nhau đến 99 phần trăm. Còn xét về những nhu cầu cơ bản, cách suy nghĩ và cảm xúc, ở đâu và thời nào con người cũng giống nhau và chia sẻ chung một định mệnh. Năm 1963, sau khi bị bắt và ngược đãi vì cuộc tranh đấu bất bạo động cho các quyền dân sự tại Hoa Kỳ, cố mục sư Martin Luther King đã gởi đi từ  nhà tù một lá thư trong đó ông khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là thành phần “của một mạng lưới liên đới và hỗ tương, liên kết với nhau trong cùng một định mệnh”. Cũng năm đó, không đầy một năm sau cuộc khủng hoảng tại Cuba qua đó Hoa Kỳ và Liên Xô suýt tiêu diệt nhau và cũng hủy diệt cả thế giới, cố Tổng thống John F. Kennedy đã gởi cho nhà lãnh đạo Liên Xô một lá thư trong đó ông nói: “Tất cả chúng ta cùng thở chung một không khí. Tất cả chúng ta đều trân quý tương lai của con cái chúng ta. Và tất cả chúng ta đều phải chết”(3).

Tổng thống tiên khởi của Sénégal, ông Leopold Sédar Senghor (1906-2001), có làm một bài thơ với tựa đề “Bài thơ gởi người anh em da trắng của tôi” (Poème à mon frère blanc) như sau:

Này người bạn da trắng thân mến của tôi ơi,

Khi sinh ra, tôi đã đen,

Khi lớn lên, tôi đã đen.

Khi ra dưới mặt trời, tôi vẫn đen,

Khi tôi bệnh, tôi vẫn đen,

Rồi khi tôi chết, tôi sẽ vẫn đen.

Còn anh, người da trắng,

Khi sinh ra, anh đỏ hồng,

Khi lớn lên, anh đã trắng,

Khi ra dưới mặt trời, anh đỏ au,

Khi gặp lạnh, anh tái xanh,

Khi sợ hãi, anh xanh lè,

Khi lâm bệnh, anh vàng lẹt,

Và khi chết, anh trở nên xám ngắt.

Như vậy giữa hai chúng ta,

Ai là người da màu? (bản dịch của tác giả Phạm Hồng Lam) (4).

(Xin được tiếp tục bài thơ để kết thúc bài viết này)

Và bạn ơi xin được hỏi:

Dù khác biệt màu da,

Chẳng lẽ, chúng ta không có cùng cội nguồn?

 

Chu Văn

 

Chú thích

 

1.            https://www.politico.com/news/magazine/2021/05/25/rick-santorum-cnn-donald-trump-490813

2.            https://www.bbc.com/news/stories-56544429

3.            https://www.psychologytoday.com/au/blog/missing-each-other/202105/why-do-we-hate

4.            https://dcvonline.net/2021/05/05/chinh-chung-ta-co-ky-thi-chung-toc-khong/

 

 

 

 

Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Nhớ cụ Tản Đà

 


Chu Văn

Trong những năm gần đây và nhứt trong thời đại dịch Covid-19, tôi thường ngẫm nghĩ về câu nói của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu(1889-1939): “Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn. Cho nên quân nó dễ làm quan”. Hai câu thơ này được trích từ bài thơ có tựa đề “Xem tiểu thuyết “Tờ chúc thư” cảm đề” của cụ được đăng trên An Nam tạp chí số 8/1927. Có lẽ đây là bài thơ đầu tiên trong văn chương chữ quốc ngữ trực diện chống tham nhũng ở Việt Nam vào thời đó. “Cụ Tản Đà đã chỉ ra một vấn nạn vô cùng nặng nề và dai dẳng của dân tộc. Ấy là mối quan hệ giữa dân trí với nạn quan tham lại nhũng”(1). Ngày nay, hơn 90 năm sau, với tôi 2 câu thơ của cụ Tản Đà vẫn có tính thời sự nóng bỏng. Thời nào và ở đâu cũng thế,  khi dân trí thấp thì người dân trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa dân túy. Lãnh tụ dân túy là người khai thác triệt để sự ngu muội, cuồng tín và nhứt là những bản năng thấp hèn của người dân.

Ngay lúc này đây, khi nói đến chủ nghĩa dân túy, tôi không thể không nghĩ đến Thủ tướng Narendra Modi của Ấn Độ. Tôi chưa từng đặt chân đến Ấn Độ. Tôi chỉ thực sự biết được bộ mặt thật của xã hội Ấn Độ kể từ khi người nữ tu nhỏ bé người Albani tên là Teresa Bojaxhiu (1910-1997) rời bỏ tu viện nơi bà đang dạy học trong một trường trung học dành riêng cho con cái nhà giàu để đến cư ngụ trong một khu ổ chuột của Thành phố Calcutta và  chia sẻ cuộc sống với những người cùng khổ nhứt trong xã hội, đặc biệt các bệnh nhân đang hấp hối bên lề đường. Người nữ tu mà về sau thế giới thường gọi tên một cách thân thương là Mẹ Teresa Calcutta đã khởi sự công việc từ thiện từ thập niên 1950, nhưng mãi đến cuối thập niên 1960, nhờ cuốn phim tài liệu có tựa đề “Làm một điều tốt đẹp cho Thiên Chúa” (Something Beautiful for God) do một phóng viên người Anh là ông Malcolm Muggeridge thực hiện, thế giới mới biết đến tên tuổi của bà và dĩ nhiên cũng đã thấy được cuộc sống khốn khổ của người nghèo tại Ấn Độ và hố ngăn cách giàu nghèo tại nước này. Tôi vẫn nhớ mãi những người bạn Ấn Độ cùng làm việc chung với tôi trong một đài phát thanh công giáo tại Phi Luật Tân hồi thập niên 1980. Họ không tỏ ra mặn mà với hoạt động từ thiện của Mẹ Teresa mấy. Một số cho rằng người nữ tu này đã “bêu xấu” Ấn Độ khi cho thế giới thấy được cuộc sống của người nghèo trong những khu ổ chuột.

Nay, hơn 30 năm sau khi Mẹ Teresa đã ra đi, bộ mặt xã hội của quốc gia có dân số đông thứ nhì thế giới này lại được phơi bày một cách thê thảm hơn qua cơn đại dịch Covid-19. Mỗi ngày có đến trên dưới 400 ngàn người bị lây nhiễm và số tử vong có khi lên đến hơn 4000 người mỗi ngày. Hình ảnh được chiếu trên các phương tiện truyền thông mỗi ngày thật rùng rợn: hành lang các bệnh viện trở thành nhà xác, lửa từ các giàn hỏa thiêu tập thể bốc lên khắp nơi...

Đài Tiếng nói Quốc tế của Pháp RFI đã có lý khi nhận định: Thủ tướng “Narendra Modi đang trả giá cho sự kiêu căng của mình”. Đầu năm 2020, hãnh diện về sự thành công của mình trong cuộc chiến chống đại dịch, “Thủ tướng Modi liên tục nhấn mạnh đến “ngoại lệ Ấn Độ”: rất ít ca nhiễm và tử vong tính theo tỷ lệ dân số! Ông còn lạc quan đến độ, trước Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 26 tháng 9 năm 2020, ông đã thông báo “khả năng sản xuất vac-xin và khả năng cung ứng của Ấn Độ sẽ được huy động để giúp nhân loại chống cuộc khủng hoảng này”(2).

Huênh hoang, kiêu căng, tự mãn đến độ phủ nhận tính nghiêm trọng của đợt bùng phát thứ hai của đại dịch, Thủ tướng Modi cho tổ chức một cuộc hành hương khổng lồ nhân ngày lễ Kumbh Mela, quy tụ hàng triệu người Ấn giáo đổ xô đến tắm gội bên bờ sông Hằng. Đã thế ông còn tập trung dân chúng trong các cuộc vận động bầu cử tại một số tiểu bang. Và cho tới nay, bất chấp mối đe dọa chết người của Covid-19, bất chấp các khuyến cáo của các chuyên gia y tế, người được dân chúng tung hô như nhà “hiền triết” vẫn không chịu ban hành lệnh phong tỏa vì sợ ảnh hưởng đến kinh tế. Đây là một thái độ ngu xuẩn và thiếu trách nhiệm đến độ một nhà văn nổi tiếng của Ấn Độ là bà Arundhati Roy đã phải lên tiếng tố cáo: “Chúng ta đang chứng kiến tội ác chống lại nhân loại”(3).

Tại một quốc gia đông dân khác là Ba Tây, hiện cũng đang được cai trị bởi một lãnh tụ dân túy là ông Jair Bolsonaro, người ta cũng có thể nói đến “tội ác chống lại nhân loại” khi chứng kiến cảnh chết chóc do đại dịch Covid-19 gây ra chỉ vì cung cách đối phó tồi tệ và thiếu trách nhiệm của nhà lãnh đạo. Chỉ trong ngày 8 tháng Tư vừa qua, có đến 4250 người thiệt mạng vì Covid-19. Đây là con số tử vong trong một ngày cao nhứt trên trái đất! Hệ thống y tế của Ba Tây đã hoàn toàn sụp đổ. Ngoài một số yếu tố như bất bình đẳng xã hội, hệ thống y tế xuống cấp một cách trầm trọng, thái độ ngu xuẩn và thiếu trách nhiệm của một nhà lãnh đạo dân túy như ông Bolsonaro mới thực sự là nguyên nhân gây ra thảm họa cho đất nước. Khi đại dịch bùng nổ, ông bảo đây chỉ là một “cơn cúm nhẹ” không gây bất cứ nguy hiểm chết người nào. Dân chúng đã tin lời ông. Rồi khi đại dịch lây lan khắp nơi, ông ngăn cản bất cứ một sự ứng phó nào từ trung ương. Ông cũng xem thường và chống lại các nỗ lực của các thị trưởng và thống đốc tiểu bang nào tìm cách áp đặc việc phong tỏa hay đề ra những biện pháp phòng chống như đeo khẩu trang, giữ giãn cách xã hội. Chỉ trong một năm, ông đã thay đổi đến 4 bộ trưởng y tế, bởi vì vị nào cũng bị ông buộc phải sử dụng những loại thuốc không hề được kiểm nghiệm như Ivermecin và Hydroxychloroquine để chữa trị Covid-19 (4). Và mới đây, thay vì nhận trách nhiệm của mình trong việc đối phó tồi tệ trước đại dịch, ông lại đánh trống lảng bằng cách tung ra thuyết âm mưu theo đó chính Trung Cộng đã sáng chế ra siêu vi Corona để đầu độc thế giới và thủ lợi.(5)

Không phải tình cờ mà ông Bolsonaro buộc các bộ trưởng y tế của Ba Tây phải sử dụng thuốc trừ sốt rét Hydroxychloroquine để chữa trị Covid-19. Đây chính là một “toa thuốc” ngu xuẩn mà một người không có bất cứ một hiểu biết nào về y khoa như cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng đã từng đề ra cho dân chúng Mỹ dùng. Là nhà lãnh đạo của nền kinh tế lớn nhứt tại Châu Mỹ La Tinh, ông Bolsonaro theo đuôi ông Trump trên từng cây số. Chính vì thế mà ông được thế giới tặng cho danh hiệu “Trump của vùng nhiệt đới” (Tropical Trump).

Dưới thời ông Trump, Hoa Kỳ chiếm giải quán quân về con số người bị lây nhiễm và tử vong vì Covid-19. Bolsonaro chạy theo đuôi ông Trump cho nên thế giới không ngạc nhiên tại sao Ba Tây cũng có số người bị lây nhiễm và tử vong cao kỷ lục. Và dĩ nhiên, nhìn vào số người bị lây nhiễm và tử vong cao ngút ngàn hiện nay tại Ấn Độ, thật khó mà phủ nhận bóng ma của ông Trump trên dung mạo của Thủ tướng Modi và nhứt là trên vô số những giàn hỏa thiêu tập thể đang ngày đêm bốc lửa tại Ấn Độ.

Hoa Kỳ dưới thời Trump, Ba Tây dưới thời Bolsonaro và Ấn Độ dưới thời Modi là ba quốc gia dân chủ trong đó lãnh tụ là người được người dân bầu lên. Cụ Tản Đà chưa từng sống trong một chế độ dân chủ. Nhưng ít ra cụ cũng đã thấy được mối tương quan giữa dân trí và dân chủ. Dân trí thấp dẫn đến một nền dân chủ giả hiệu trong đó lãnh tụ dân túy hành xử nếu không như một nhà độc tài thì cũng theo đường lối chuyên chế.

Thời cụ Tản Đà, đa số dân chúng Việt Nam còn sống trong mê muội vì mù chữ. Ở những nước như Ấn Độ hay Ba Tây là nơi mà khoảng cách giữa giàu nghèo, giữa kiến thức và ngu muội vẫn còn là vực thẳm, sự kiện người dân “ngu” chạy theo các lãnh tụ dân túy là điều có thể hiểu được. Còn tại một đất nước “văn minh” như Hoa Kỳ mà vẫn còn có những lãnh tụ dân túy tiếp tục mê hoặc người dân bằng những chiếc bánh vẽ độc hại của họ là bởi vì người dân không “mù chữ” hay mù kiến thức. Họ “mù trong lương tâm”. Đây mới thực sự là cái “ngu quá lợn”!

Hoa Kỳ đã một thời mê ngủ trong cái ngu ấy và hiện vẫn muốn tiếp tục kéo dài  giấc ngủ ấy. “Kẻ mà ai cũng biết là ai đó” (The One every knows who he is), xét dưới bất cứ phương diện nào, từ trí tuệ, tâm lý, tính tình cho đến đạo đức, là  người có một nhân cách tồi tệ, mạt hạng trong đó dối trá đã trở thành phương châm sống và hành động. Những lời dối trá của con người này hẳn  phải độc hại khủng khiếp bởi vì các công ty mạng xã hội như Twitter, Facebook, Instagram...đã buộc lòng phải “bịt miệng” ông bao lâu ông còn tiếp tục phun ra những lời dối trá độc địa của mình. Đây quả là một hồi chuông cảnh tỉnh cho tất cả những ai còn muốn tự ru ngủ và tự sướng bằng những chiếc bánh vẽ của dối trá trong thứ “thiên đường mù” ấy của lãnh tụ.

Nghèo đói, ngu dốt, mù chữ không phải là một cái tội. Bịt mắt lương tâm để trở nên mù lòa trước sự dối trá: đó là một tội ác, bởi vì đó là hành động đồng lõa với cái Ác!

 

 

 

Chú thích

1.   https://toquoc.vn/tan-da-chong-tham-nhung-99105153.htm

2.   https://thongluan-rdp.org/chau-a/item/21429-covid-19-narendra-modi-dang-tr-gia-cho-s-kieu-cang-c-a-minh

3.   https://baotiengdan.com/2021/05/07/khi-nen-dan-chu-lon-nhat-the-gioi-thieu-oxy/

4.   https://theconversation.com/covid-19-in-brazil-how-jair-bolsonaro-created-a-calamity-159066

5.   https://www.thejakartapost.com/news/2021/05/06/brazils-bolsonaro-links-pandemic-to-germ-warfare-.htm